Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử 2 Dàn ý & 10 bài văn mẫu hay nhất lớp 11

Bạn đang tìm kiếm về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ, hôm nay mình sẽ chia sẻ đến bạn bài viết Top 18+ Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team mình tổng hợp và biên tập từ nhiều nguồn trên internet. Hy vòng bài viết về chủ đề Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ hữu ích với bạn.

1. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Văn mẫu lớp 11: Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử 2 Dàn ý & 10 bài văn mẫu hay nhất lớp 11

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử gồm 10 bài văn mẫu dưới đây không chỉ giúp các em lớp 11 có thêm những ý tưởng hay cho bài viết của mình mà còn biết cách cảm nhận được vẻ đẹp bức tranh về một miền quê đất nước, cũng là tiếng lòng của một con người yêu đời, yêu người.

holder

Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ hay đã vẽ nên một bức tranh đẹp về cảnh và người của miền đất nước qua tâm hồn giàu tưởng tượng đầy yêu thương của nhà thơ. Trải qua bao năm tháng, cái tình Hàn Mặc Tử vẫn còn nguyên nóng hổi, lay động day dứt lòng người đọc. Vậy dưới đây là 10 bài cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ siêu hay, mời các bạn cùng đón đọc.

Dàn ý cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Dàn ý số 1

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Hàn Mặc Tử, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

– Cảm nhận chung về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

II. Thân bài

1. Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ

* Câu 1: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

– Câu hỏi có hai cách hiểu:

  • Lời của người thôn Vĩ hỏi tác giả
  • Lơi phân thân của tác giả tự hỏi chính mình

=> Dù hiểu theo cách nào thì câu hỏi trên cũng thể hiện được nỗi nhớ thôn Vĩ da diết cũng như mong muốn được về chơi thôn Vĩ.

* Câu 2: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

– Hình ảnh “nắng hàng cau”: ánh nắng của bao trùm khắp làng quê.

– Điệp ngữ: “nhìn nắng” – “nắng mới” thể hiện một không gian tràn đầy ánh nắng sức sống.

* Câu 3:

– Khu vườn không chỉ tràn ngập sắc nắng mà còn sắc xanh.

– “xanh như ngọc” một màu xanh mát mẻ, tươi mới và dễ chịu.

* Câu 4: Lá trúc che ngang mặt chữ điền

– Trong không gian thiên nhiên thôn Vĩ, hình ảnh con người thoáng xuất hiện:

– Khuôn mặt chữ điền của người thôn Vĩ thấp thoáng sau tán trúc. Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu, phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương?

=> Bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong sáng, tươi tắn và có sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

2. Bức tranh sông nước trong đêm trăng

* Câu 5 và câu 6:

– Hình ảnh thiên nhiên thể hiện sự chia lìa: gió, mây vốn quấn quýt nay chia lìa đôi ngả.

– Dòng sông như nhuốm màu tâm trạng buồn bã, thê lương.

– Hình ảnh hoa bắp khẽ lay cũng giống như cuộc đời lưu lạc trôi nổi của con người.

* Câu 11: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh gợi khung cảnh huyền ảo, không có thật.

=> Hình ảnh thiên nhiên đêm trăng đượm buồn và mờ ảo, hư không.

=> Sự đối lập giữa hai bức tranh thiên nhiên nơi làng quê thôn Vĩ và đêm trăng.

3. Tâm trạng của nhà thơ

– Khung cảnh cũng vận động từ thực đến ảo, từ vườn thôn Vĩ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói.

– Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa hoài nghi vừa như giận hờn, trách móc.

– Đại từ phiếm chỉ “ai” làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của một tâm hồn khát khao được sống, được yêu.

=> Làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông vô tận, tâm trạng hụt hẫng và đầy tuyệt vọng của nhà thơ.

III. Kết bài

– Cảm nhận về bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Dàn ý số 2

1. Mở bài:

– Giới thiệu về bài thơ

2. Thân bài:

* Cảm hứng sáng tác:

– Được lấy cảm hứng từ bức bưu ảnh được cho là của Hoàng Cúc gửi tặng.

– Làm sống dậy những kỉ niệm về Vĩ Dạ và khao khát được giao cảm với cuộc đời của Hàn Mặc Tử.

* Khổ thơ đầu:

– Là bức tranh phong cảnh và con người Vĩ Dạ:

– Mở đầu bài thơ bằng câu hỏi, “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

  • Nghe như tiếng trách cứ của người Vĩ Dạ với nhà thơ nhưng thực ra là lòng tự hỏi lòng.
  • “về chơi”: thân thiết, trở về nơi chốn thân thương.

– Hình ảnh “nắng hàng cau”:

  • Điệp từ “nắng”: gợi không gian ngập tràn nắng
  • “nắng hàng cau”: thứ nắng đặc trưng của Vĩ Dạ.

– Hình ảnh “vườn ai … ngọc”:

  • “Vườn ai”: phiếm chỉ, khu vườn trong tâm tưởng nhà thơ
  • Tính từ “mướt”: lời ăn tiếng nói của nhân dân, gợi một khu vườn tươi tốt, mơn mởn, mỡ màng.
  • “Xanh như ngọc”: Khu vườn ướt sương đêm như một khối ngọc trong suốt.

– Hình ảnh “Lá trúc chen ngang mặt chữ điền”:

  • Hình ảnh con người xứ Huế
  • Khuôn mặt thấp thoáng sau cành trúc gợi ra vẻ thẹn thùng, e ấp đặc trưng của người xứ Huế.

– Bốn câu thơ là bức tranh thôn Vĩ với cảnh vườn ấm áp, giàu sức sống, ẩn chứa là tấm lòng gắn bó của thi nhân với Vĩ Dạ và khao khát được giao cảm với cuộc đời, nỗi buồn nuối tiếc vẻ đẹp trong quá khứ.

* Khổ thơ thứ hai:

– Bức tranh phong cảnh thôn Vĩ có sự vận động sang cảnh sông nước mây trời

  • Bức tranh với mây trời và dòng Hương giang thơ mộng.
  • Nhịp thơ chậm tạo sự êm ả, yên bình đặc trưng Huế.

– Nhân hoá hình ảnh mây gió đang trong sự chia ly

– Ẩn dụ nỗi buồn của thi nhân trong tình yêu đơn phương

– Nỗi buồn của thi nhân còn gửi vào dòng nước: Dòng nước lặng lờ chảy như tâm trạng trĩu nặng của thi nhân, nỗi cô đơn thấm thía.

– Hình ảnh “thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có kịp chở trăng về tối nay?”

  • Hình ảnh “thuyền ai”: hình ảnh phiếm chỉ, gợi ra dấu hiệu của sự sống, của con người.
  • “Có chở trăng về kịp tối nay?”: muốn mượn trăng để hoá giải nỗi cô đơn trong lòng.

– Sống trong đau đớn bệnh tật nên nhà thơ luôn khát khao hướng giao cảm với cuộc đời.

* Khổ thơ thứ ba:

– Câu thơ đầu khuyết chủ ngữ, dụng ý của tác giả, chủ thể và khách thể nhập làm một “Mơ khách đường xa khách đường xa”:

  • Nhà thơ tự mơ mình là người khách đường xa về thăm Vĩ Dạ.
  • Nhịp thơ 1/3/3, và điệp từ “khách đường xa”: sự rạo rực, reo vui, náo nức.

– Bức tranh Vĩ Dạ được mở ra với hình ảnh của “em” với tà áo dài trắng trong sương khói bảng lảng.

– Nhà thơ khao khát được sống trong tình người nhưng sương khói làm mờ nhân ảnh “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” liệu tình người có thực sự tha thiết, mặn nồng?

– Nhà thơ rơi vào trong hụt hẫng.

– Bài thơ mở ra bằng câu hỏi, kết cũng bằng câu hỏi

3. Kết bài:

– Bài thơ là bức tranh Vĩ Dạ với thiên nhiên và con người mang đặc trưng xứ Huế.

– Tâm trạng của thi nhân với nỗi cô đơn, buồn tủi vì bị bệnh tật ngăn cách với cuộc đời.

Cảm nhận bài Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 1

Hàn Mặc Tử là nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới. Ông là một nhà thơ tài hoa nhưng lại mang trong mình căn bệnh phong hiểm nghèo, chính vì vậy, thơ của ông luôn có hai thế giới, một là tươi mới trong trẻo, một là ma quái, kinh dị. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ nổi tiếng trong tập Thơ Điên của ông, được viết vào năm 1938. Bài thơ là bức tranh thôn quê Vĩ Dạ vừa yên bình vừa tươi đẹp, lồng ghép vào đó là một tình yêu tha thiết và niềm khao khát được giao cảm với cuộc đời của Hàn Mặc Tử.

Đây thôn Vĩ Dạ được khơi cảm hứng từ một tấm bưu ảnh vẽ cảnh vườn tược sông nước được cho là của Hoàng Cúc gửi ra cho ông. Bức ảnh đó đã làm sống dậy những kỉ niệm của Hàn Mặc Tử về Vĩ Dạ – một xóm nhỏ ven sông Hương, nơi lưu giữ tuổi học trò của thi nhân cũng là nơi có bóng hình người con gái ông thương nhớ. Và hơn thế, nó đã làm sống dậy khao khát được giao cảm với cuộc đời của ông, bởi khi đó, ông đang ở Phú Yên và đang bị bệnh tật dày vò.

Có lẽ vì được sáng tác trong hoàn cảnh đặc biệt như thế nên ngay đầu bài thơ, Hàn Mặc Tử đã mở lời bằng một câu hỏi:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Nghe câu thơ mà người ta như nghe được tiếng người thôn Vĩ đang hờn trách thi nhân, đang mời gọi thi nhân về với Vĩ Dạ. Thế nhưng, đây lại chỉ là một câu hỏi lòng tự hỏi lòng của nhà thơ, bởi ông đang sống trong nỗi nhung nhớ và niềm khao khát được trở về Vĩ Dạ. Hàn Mặc Tử không phải đến thăm Vĩ Dạ mà là “về chơi”, bởi Vĩ Dạ là chốn thân thương, là nơi mà nhà thơ gắn bó bằng cả tâm hồn. Ông đã làm một cuộc hành trình bằng tâm tưởng để quay trở lại Vĩ Dạ, để ngắm:

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Nhà thơ say sưa trong cảnh vườn Vĩ Dạ, trong những khoảnh khắc yên bình, êm dịu của tâm hồn. Bức tranh Vĩ Dạ được miêu tả từ xa tới gần, từ cao xuống thấp, mỗi góc độ một vẻ đẹp nhưng đểu rất thơ mộng và tràn trề sức sống. Điểm nhìn đầu tiên của nhà thơ bắt gặp là hình ảnh của nắng sớm trên những hàng cau.

“Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”

Điệp từ “nắng” gợi lên một không gian tràn ngập sắc vàng rực rỡ của nắng mãi. Đó là thứ ánh nắng trong trẻo, tinh khôi của buổi sớm, đẹp đẽ và thật dịu dàng! Nắng trên hàng cau cũng là thứ ánh nắng rất đặc trưng của Vĩ Dạ bởi Vĩ Dạ vốn nổi tiếng với những vườn cau xanh mướt. Những hàng cau cao vút, thẳng tắp luôn vươn mình đón ánh mặt trời, là loài cây đầu tiên đón ánh nắng mặt trời của Vĩ Dạ. Tả nắng hàng cau nhưng Hàn Mặc Tử dường như đã làm sống dậy cả một buổi ban mai tinh khôi và mát lành của xứ Huế mộng mơ.

Trong ánh nắng sớm tinh khôi ấy là hình ảnh của khu vườn xanh mát:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Chỉ là khu vườn của “ai” phiếm chỉ bởi đó là khu vườn sống trong tâm tưởng của nhà thơ. Cùng với tính từ “mướt” và lối so sánh “xanh như ngọc” đã khiến người đọc có thể cảm nhận được sự sống động, lung linh của khu vườn Vĩ Dạ. Tính từ “mướt” được đặt trong câu thơ vô cùng tinh tế, nó đã gợi lên hình ảnh một vườn cây trái mỡ màng, tươi tốt, mơn mởn. Những cành cây, nhành lá còn đang vương những giọt sương đêm lóng lánh. Có lẽ vì thế mà Hàn Mặc Tử đã so sánh “xanh như ngọc”. Khu vườn đẫm sương đêm lại được mặt trời chiếu rọi lung linh như một khối ngọc khổng lồ. Lời thơ bay bổng không chỉ gợi lên hình ảnh của khu vườn mà còn gửi vào trong đó lời trầm trồ, ca ngợi của nhà thơ với cảnh vườn Vĩ Dạ.

Say sưa với cảnh vườn, nhưng càng say hơn là hình ảnh của:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu thơ không phải lời tả thực mà là một nét vẽ cách điệu của thi nhân. Khuôn mặt người thấp thoáng sau lớp lá trúc, hòa cùng thiên nhiên, khiến cả khu vườn của Vĩ Dạ bỗng chốc trở nên ấm áp, có sinh khí đến lạ thường.

Nhà thơ để khuôn mặt người thấp thoáng sau lớp lá trúc che ngang gợi ra nét thẹn thùng, e ấp, nét kín đáo rất riêng của con người xứ Huế. “Mặt chữ điền” là khuôn mặt phúc hậu, được thi nhân lấy ý từ trong câu ca dao quen thuộc của người dân Huế:

Mặt em vuông tựa chữ điền
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài
Lòng em có đất có trời
Có câu nhân nghĩa có lời thuỷ chung”

Câu thơ mang đậm phong vị dân gian và hơn thế, nó còn gợi ra cả vẻ đẹp tâm hồn của con người xứ Huế.

Bốn câu thơ đầu là bức tranh phong cảnh vườn tược xứ Huế thơ mộng, ấm áp và giàu sức sống. Đằng sau bức tranh đó là tâm hồn gắn bó tha thiết với miền quê Vĩ Dạ của nhà thơ đồng thời là khát khao được giao cảm với cuộc đời. Sâu thẳm bên trong lời thơ là nỗi buồn khi nuối tiếc khi vẻ đẹp kia chỉ còn trong hoài niệm còn thi nhân thì đang phải cách biệt với cuộc đời. Đoạn thơ cũng thể hiện nỗ lực cách tân thơ Việt của Hàn Mặc Tử khi ông mang vào thơ những hình ảnh và ngôn từ rất đỗi mộc mạc, giản dị, gần gũi.

Cảnh thôn Vĩ Dạ không hề tĩnh tại mà có sự chuyển động, từ cảnh vườn tược Vĩ Dạ chuyển sang cảnh sông nước mây trời:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Bức tranh mây trời nước phóng khoáng mở ra, khung cảnh đẹp đẽ, thơ mộng đúng như cái chất thơ của xứ Huế. Nhịp thơ chậm đều gợi lên sự yên bình, êm ả. Một dòng Hương giang đẹp đến tĩnh lặng dưới trăng trong đêm tịch mịch.

Hoà vào khung cảnh đó là tâm trạng của người thi nhân được gửi gắm kín đáo qua nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Nhà thơ đã dùng biện pháp nhân hoá gió và mây thành hai con người. Thế nhưng hai con người ấy lại chẳng cùng đường như vẫn thường thấy mà lại đang trong cảnh chia ly đôi ngả “gió theo lối gió, mây đường mây”. Đây phải chăng là ẩn dụ cho mối tình đơn phương của nhà thơ trong sự xa cách vời vợi và cả sự ngăn cách bởi bệnh tật với cuộc đời đã khiến cho ông cảm thấy thật cô đơn, lẻ loi. Nỗi xót xa, nỗi buồn ấy đã thấm sang cả cảnh vật khiến cho mây và gió cũng mang đậm một nỗi buồn sâu thẳm.

Nỗi buồn ấy còn được gửi cả vào dòng sông, dòng Hương giang lững lờ. Nhìn dòng nước chảy xuôi trong tĩnh lặng mà nhà thơ như cảm thấy cả “dòng nước” cũng “buồn thiu”. Nhân hoá dòng sông cũng là cách để Hàn Mặc Tử hé lộ tâm trạng của mình, đó là một cái tôi đang cô đơn, lẻ loi giữa rợn ngợp đất trời, xung quanh chỉ có nước, có hoa bắp lay động, đìu hiu, cô quạng đến thấm thía lòng.

Nỗi buồn cô đơn còn thấm thía hơn bao giờ hết khi nhà thơ tự đặt mình giữa trời, trăng, sông, nước. Màn đêm tịch mịch, ánh trăng bạc lạnh lẽo, sông nước mênh mang, khung cảnh ấy khiến cho người ta cảm thấy có chút gì thật ma quái, nhưng đó lại là nơi nhà thơ đang giam mình trong sự cô đơn tột độ, Sống giữa cõi người mà vẫn cảm thấy cô đơn, trống trải, đó là cảm xúc của nhà thơ khi ông bị bệnh tật ngăn trở được giao cảm với cuộc đời.

Sống trong cô đơn nên khao khát lớn nhất của Hàn Mặc Tử là được giao cảm với cuộc đời, mong chờ tình người sẽ hoá giải đau thương. Vậy nên mới thấp thoáng một bóng “thuyền ai” của sự sống con người, nhà thơ đã cuống quýt cất tiếng gọi:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Những nỗi mong chờ ấy cũng nhanh chóng rơi vào hụt hẫng, chẳng có ai đáp lại lời của thi nhân. Vì thế mà nhà thơ mới mong “chở trăng về kịp tối nay”. Tối nay nhà thơ đang cô đơn, đang lạnh lẽo, và trăng có lẽ là thứ duy nhất có thể giúp ông hoá giải được nỗi cô đơn ấy. Bởi trăng xưa nay luôn là tri kỉ, tri âm của thi nhân, là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà thơ và Hàn Mặc Tử cũng không ngoại lệ. Ông yêu trăng tha thiết!

Đoạn thơ thứ hai là sự kế thừa và phát huy của thơ ca truyền thống, vẫn là thể thơ thất ngôn nhưng trong đó thể hiện nỗ lực cách tân thơ mới của nhà thơ khi đưa vào trong thơ những hình ảnh rất bình dị, sử dụng ngôn từ giản dị như lời buột miệng thốt ra.

Khổ thơ cuối cùng cũng thể hiện nỗ lực cách tân thơ Việt của Hàn Mặc Tử:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa”

Câu thơ khuyết chủ ngữ và không hề tuân theo ngữ pháp thông thường bởi nhà thơ muốn nhập hoà giữa chủ thể và khách thể. Khao khát được trở về Vĩ Dạ nên nhà thơ đã mơ mình được làm khách đường xa trở về. Nhịp thơ 1/3/3 nhanh dồn dập cũng điệp từ “khách đường xa”, người đọc như cảm thấy được tiếng reo vui náo nức của nhà thơ. Bởi vậy mới biết Hàn Mặc Tử yêu Vĩ Dạ đến nhường nào!

Trở về Vĩ Dạ để được đắm mình trong tình người, trong cảnh sắc của Vĩ Dạ:

“Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”

Một Vĩ Dạ với sương khói bảng lảng, với những bóng áo dài thấp thoáng duyên dáng, thướt tha của những nữ sinh trường Đồng Khánh đã in dấu vào tâm hồn thi nhân, để mỗi khi nhớ về Vĩ Dạ, những hình ảnh ấy lại hiện lên thật rõ ràng.

Nhà thơ trở về Vĩ Dạ là mong được sống trong tình người ấm áp, sống trong cảnh vườn quê yên bình, thế nhưng ông chỉ thấy bóng áo “trắng quá” đến mức “nhìn không ra”. Sương khói đã làm mờ đi hình người, mờ đi nhân dạng, vì thế mà:

“Ai biết tình ai có đậm đà?”

Sương khói đã làm mờ đi nhân ảnh vậy thì làm sao có thể hiểu thấu được lòng người nữa chẳng, làm sao có thể biết “tình ai có đậm đà” như trước nữa chăng? Hàn Mặc Tử lại một lần nữa rơi vào trong hụt hẫng, chơi vơi. Ông bất lực trước cuộc đời, đau đớn trước cuộc đời bởi ông bị xa cách thế gian, không thể giao cảm được cùng ai.

Bài thơ mở ra bằng câu hỏi và kết lại cũng bằng câu hỏi. Nếu như câu hỏi mở ra bài thơ là một câu hỏi thấm đượm tình người thì câu hỏi cuối cùng lại mang một nỗi hoài nghi lớn. Chứa trong câu thơ là sự chua xót, đau đớn bởi nhà thơ không biết rằng liệu người Vĩ Dạ với ông có còn “đậm đà” như trước?

Bài thơ là bức tranh thôn Vĩ Dạ với con người và thiên nhiên mang những nét đẹp đặc trưng của xứ Huế. Dù được vẽ lên chỉ bằng những hồi ức và tâm tưởng của nhà thơ, những bức tranh ấy thấm đượm linh hồn của miền quê Vĩ Dạ trong tình yêu tha thiết của nhà thơ. Sau bức tranh ấy là tâm trạng của thi nhân trong nỗi nhớ nhung da diết, niềm khao khát được về Vĩ Dạ, khao khát được giao cảm với cuộc đời và cũng chứa một nỗi buồn, cô đơn sâu thẳm khi ông bị ngăn trở bởi bệnh tật. Dù vậy, chúng ta vẫn cảm nhận được một hồn thơ rất đỗi tài hoa, một tình yêu đời da diết, một nguồn cảm hứng và đam mê cái đẹp bất tận của nhà thơ Hàn Mặc Tử.

Đây thôn Vĩ Dạ cảm nhận – Mẫu 2

Mấy ai đã từng say trăng như Hàn Mạc Tử? Cả một thế giới trăng trong thơ ông:

Trăng nằm sóng soài trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi…”

(Bẽn lẽn)

“Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quỳ
Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu”

(Hãy nhập hồn em)

“Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”.

(Đêm không ngủ)

Thi sĩ còn nói đến thuyền trăng, sông trăng, sông trăng… Cả một thế giới trăng mộng ảo, huyền diệu. Thơ Hàn Mạc Tử rợn ngợp ánh trăng, thể hiện một tâm hồn “say trăng” với tình yêu tha thiết cuộc đời, vừa thực vừa mơ. Ông là một trong những nhà thơ lỗi lạc nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941). Với 28 tuổi đời (1912-1940), ông để lại cho nền thơ ca dân tộc hàng trăm bài thơ và một số kịch thơ đặc sắc. Thơ của ông như trào ra từ máu và nước mắt, có không ít hình tượng kinh dị. Cũng chưa ai biết hay về mùa xuân và thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), về Huế đẹp và thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” như Hàn Mạc Tử.

“Đây thôn Vĩ Dạ” rút trong “Tập thơ Điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ đã qua đời. Bài thơ nói rất hay về Huế, về cảnh sắc thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, nhất là các cô gái duyên dáng, đa tình, đáng yêu. Hàn Mạc Tử đã viết về một tình yêu – tình yêu đơn phương thơ mộng đắm say, lung linh trong sáng đến huyền ảo. Bài thơ giãi bày một nỗi niềm bâng khuâng, một khát khao về hạnh phúc của thi sĩ đa tình, có nhiều duyên nợ với cảnh và con người Vĩ Dạ.

Câu đầu của khổ thơ thứ nhất “dịu ngọt” như một lời chào mời vừa mừng vui hội ngộ, vừa nhẹ nhàng trách người thương xiết bao thương nhớ, đợi chờ. Giọng thơ êm dịu, đằm thắm và tình tứ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Có mấy xa xôi. Cảnh cũ người xưa thấp thoáng trong vần thơ đẹp mang hoài niệm. Bao kỉ niệm sống dậy trong một hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc vườn tược và con người xứ Huế mộng mơ:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới. lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

Cảnh được nói đến là một sáng bình minh đẹp nơi thôn Vĩ. Nhìn từ xa, thi nhân say mê ngắm nhìn những ngọn cau, tàu cau ngời lên dưới màu nắng mới, “nắng mới lên” rực rỡ. Hàng cau cao vút là hình ảnh thân thuộc của thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay. Hàng cau như chào mời, như vẫy gọi.

Quên sao được màu xanh cây lá nơi đây. Nhà thơ trầm trồ thốt lên khi đứng trước một màu xanh vườn tược Vĩ Dạ: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Sương đêm ướt đẫm cây cỏ, hoa lá. Màu xanh mỡ màng, non tơ ngời lên, bóng lên dưới ánh mai hồng trông “mướt quá” một màu xanh ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu thuận hòa, con người cần cù chăm bón mới có màu sắc “xanh như ngọc” ấy. Thiên nhiên như rạo rực, trẻ trung và đầy sức sống. Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã từng viết: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…” (“Thơ duyên”). Hai chữ “vườn ai” gợi ra nhiều ngạc nhiên và man mác bâng khuâng. Câu thơ thứ tư tả thiếu nữ với khóm trúc vườn xuân: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Mặt trái xoan, mặt hoa da phấn, khuôn mặt búp sen là vẻ đẹp của giai nhân. Mặt chữ điền là gương mặt đầy đặn, vuông vắn, phúc hậu. “Lá trúc che ngang” là một nét vẽ thần tình đã tô đậm một nét đẹp của cô gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, tình tứ đáng yêu. Hàn Mạc Tử hơn một lần nói về trúc và thiếu nữ. Khóm trúc như tỏa bóng xanh mát che chở cho một mối tình đẹp đang nảy nở:

“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây”

(Mùa xuân chín)

Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả trúc và thiếu nữ với một gam màu nhẹ, thoáng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ (xanh như ngọc… mặt chữ điền). Cảnh và người nơi Vĩ Dạ thật hồn hậu, thân thuộc đáng yêu.

Vĩ Dạ một làng quê nằm bên bờ Hương Giang, thuộc ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Dạ đẹp với những con đò thơ mộng, những mảnh vườn xanh tươi bốn mùa, sum sê hoa trái. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng ẩn hiện sau hàng cau, khóm trúc, mà ở đây thường dìu dặt câu hát Nam ai, Nam bình, qua tiếng đàn tranh, đàn tam thập lục huyền diệu, réo rắt. Thôn Vĩ Dạ đẹp nên thơ. Hàn Mạc Tử đã dành cho Vĩ Dạ vần thơ đẹp nhất với tất cả tấm lòng tha thiết mến thương. Xa cách Huế và Vĩ Dạ đã bao năm tháng rồi. Thế mà cảnh sắc và con người nơi thôn Vĩ vẫn được nhà thơ ôm ấp trong lòng, càng trở nên lung linh, biểu lộ niềm ước mong tha thiết được trở lại cố đô thăm cảnh cũ người xưa. Bức tranh tâm cảnh đã được thể hiện một cách tài hoa bức tranh thôn Vĩ hữu tình nên thơ.

Khổ thơ thứ hai nói về cảnh mây trời, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Hai câu 5, 6 là bức tranh tả gió, mây, dòng sông và hoa (hoa bắp). Giọng thơ nhẹ nhàng, thoáng buồn. Nghệ thuật đối tạo nên bên phiên cảnh hài hòa, cân xứng và sống động. Gió mây đôi ngả như mối tình nhà thơ, tưởng gần đấy mà xa vời, cách trở. Dòng Hương Giang êm đềm trôi lững lờ, trong tâm tưởng thi nhân trở nên “buồn thiu”, nhiều bâng khuâng man mác. Hoa bắp lay, nhè nhẹ đung đưa trong gió thoáng. Nhịp điệu khoan thai, thơ mộng của miền sông Hương núi Ngự được diễn tả rất tinh tế! Các điệp ngữ luyến láy gợi nhiều vương vấn mộng mơ. Ngoại cảnh mênh mang chia lìa như nỗi lòng, như tâm tình thi nhân vậy;

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”.

Hai câu tiếp theo, nhà thơ hỏi “ai” hay hỏi mình khi nhìn thấy, hay nhớ tới hình ảnh con đò nằm mộng bến sông trăng. Sông Hương quê em trở thành “sông trăng”. Hàn Mạc Tử với tình yêu Vĩ Dạ đã sáng tạo nên vần thơ đẹp nói về dòng sông Hương với những con đò dưới vầng trăng. Nguyễn Công Trứ đã từng viết: “Gió trăng chứa một thuyền đầy”. Hàn Mạc Tử cũng góp cho nền thơ Việt Nam hiện đại một vần thơ trăng độc đáo:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn sông trăng và con thuyền. Thuyền em hay “thuyền ai” vừa thân quen, vừa xa lạ. Chất thơ mộng ảo trong “Đây thôn Vĩ Dạ” là ở những thi liệu ấy. Câu thơ gợi tả một hồn thơ đang rung động trước vẻ đẹp thơ mộng của xứ Huế miền Trung, nói lên một tình yêu kín đáo, dịu dàng, thơ mộng và thoáng buồn. ở đây bức tranh tâm cảnh tràn ngập ánh trăng, thấm thía một nỗi buồn cô đơn li biệt của khách đa tình.

Khổ thơ thứ ba nói về cô gái Huế và tâm tình thi nhân. Đương thời, nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về thiếu nữ sông Hương: “Những nàng thiếu nữ sông

Hương – Da thơm là phấn, má hường là son…”. Vĩ Dạ mưa nhiều, những buổi sớm mai và chiều tà lắm sương khói. “Sương khói” trong Đường thi thường gắn liền với tình cố hương, ở đây sương khói đã làm nhòa đi, mờ đi áo trắng em, nên anh nhìn mãi vẫn không nhận ra dáng hình em (nhân ảnh). Người thiếu nữ Huế thoáng hiện, trắng trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa. Thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, trắng trong, kín đáo và duyên dáng. Gần mà xa. Thực mà mơ. Câu thơ chập chờn, bâng khuâng. Ta đã biết Hàn Mạc Tử từng có một mối tình đẹp đơn phương với một thiếu nữ Huế mang tên một loài hoa đẹp. Phải chăng nhà thơ nói về mối tình này?

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

“Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có…” các điệp ngữ và luyến láy ấy tạo nên nhạc điệu sâu lắng, dịu buồn, mênh mang. Sự cách biệt và nỗi buồn xa vắng chia li như kéo dài trong không gian và thời gian vô tận. Người đọc thêm cảm thương cho nhà thơ tài hoa, đa tình mà bạc mệnh, từng say đắm với mối tình đơn phương nhưng suốt đời phải sống trong cô đơn và bệnh tật.

Cũng cần nói một đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này. Cả 4 lần chữ “ai” xuất hiện đều mơ hồ, ám ảnh: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc?” – “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” – “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Con người mà nhà thơ nói đến là con người xa vắng, trong hoài niệm, bâng khuâng. Nhà thơ luôn luôn cảm thấy mình hụt hẫng, chơi vơi trước một mối tình đơn phương mộng ảo. Một chút hi vọng mong manh mà tha thiết như đang nhạt nhòa và mờ ảo cùng sương khói?.

Hàn Mặc Tử đã đế lại cho ta một bài thơ tình thật hay và cảm động. Cảnh và người, mộng và thực, say đắm và bâng khuâng, ngạc nhiên và thẫn thờ… bao hình ảnh và cảm xúc đẹp mà buồn hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, câu chữ toàn bích. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ tình tuyệt tác. Cái màu xanh như ngọc của vườn ai, cọn thuyền ai đậu bến sông trăng, và cái màu trắng của áo em như dẫn hồn ta đi về miền sương khói Vĩ Dạ thôn một thời xa vắng, tìm lại bóng giai nhân, thương nhớ nhà thơ tài hoa, đa tình mà mệnh bạc. Bức tranh tâm cảnh trong “Đây thôn Vĩ Dạ” vương vấn mãi lòng ta. Nhà thơ Thu Bồn đã nói hộ lòng ta.

“Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực mà nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô”.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 3

Một trong những tác giả tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam là Hàn Mặc Tử. Nổi bật trong các sáng tác của ông là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Tác phẩm đã khắc họa bức tranh thiên nhiên đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.

Khi đọc “Đây thôn Vĩ Dạ”, người đọc sẽ cảm thấy ấn tượng đầu tiên với bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu hỏi tu từ đầu tiên gợi về hai cách hiểu. Đó có thể là lời hỏi của người thôn Vĩ hỏi tác giả đã lâu rồi sao không về chơi thôn Vĩ. Hoặc có thể là lơi phân thân của tác giả vì quá khao khát được về thăm thôn Vĩ mà tự hỏi chính mình. Nhưng dù hiểu theo cách nào thì câu hỏi trên cũng thể hiện được nỗi nhớ thôn Vĩ da diết cũng như mong muốn được về chơi thôn Vĩ.

Tiếp đến, bức tranh thiên nhiên dần hiện ra với những nét khắc họa. Hình ảnh “nắng hàng cau” gợi ra ánh nắng bao trùm khắp không gian làng quê. Kết hợp với điệp ngữ: “nhìn nắng” – “nắng mới” cho thấy sức sống bao trùm khắp không gian. Nhưng khu vườn không chỉ tràn ngập sắc nắng mà còn sắc xanh. Đó là màu “xanh như ngọc” – một màu xanh mát mẻ, tươi mới và dễ chịu. Và trong không gian thiên nhiên thôn Vĩ, hình ảnh con người thoáng xuất hiện. Khuôn mặt chữ điền của người thôn Vĩ thấp thoáng sau tán trúc. Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu, phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương? Như vậy, bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ trong sáng, tươi tắn và có sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

Trái ngược với bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ, bức tranh sông nước đêm trăng lại mang màu sắc đượm buồn:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Ở bức tranh này, tác giả đã khắc họa hình ảnh thiên nhiên nhuốm màu sắc chia ly. Trong thực tế, “gió và mây” vốn quấn quýt, gắn bó. Nhưng khi đi vào thơ của Hàn Mặc Tử lại gợi sự chia lìa đôi ngả. Còn dòng sông lại “buồn thiu”, dòng sông được nhân hóa như đang nhuốm màu tâm trạng buồn bã, thê lương. Và cuộc đời của con người cũng giống như “hoa bắp lay”. Bông hoa nhỏ bé bị dòng nước cuốn trôi, vùi dập. Hình ảnh thiên nhiên đêm trăng đượm buồn và mờ ảo, hư không.

Khổ thơ cuối cùng là nỗi niềm tâm trạng của Hàn Mặc Tử:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

Khung cảnh cũng vận động từ thực đến ảo, từ vườn thôn Vĩ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói. Đông từ “mơ” chỉ trạng thái vô thức của con người, cho thấy rằng nhà thơ đang đắm chìm trong cõi mộng. Cùng với điệp ngữ “khách đường xa” nhằm nhấn mạnh khoảng cách xa rời, chỉ là khách trong mơ. Tiếp đến là hình ảnh “áo em trắng quá nhìn không ra” đã diễn tả sự choáng ngợp, thảng thốt; “nhìn không ra” cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ, bất ngờ. Đây không còn là màu sắc thực nữa mà là màu sắc hiện lên trong tâm tưởng của nhà thơ. Đến câu thơ tiếp theo “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” lại gợi cho ta hai cách hiểu. Hình ảnh thực đã gợi ra khung cảnh xứ Huế nắng nhiều, mưa nhiều nên nhiều sương khói và sương khói làm tăng thêm vẻ hư ảo, mộng mơ của xứ Huế. Đồng thời đó còn là hình ảnh biểu tượng gợi làn sương khói làm mờ ảo cả bóng người hay chính là tượng trưng cho một mối tình mong manh, xa vời, không trọn vẹn. Đặc biệt là câu hỏi tu từ kết lại bài thơ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa hoài nghi vừa như giận hờn, trách móc. Ở đây, Hàn Mặc Tử đã sử dụng đại từ phiếm chỉ “ai” làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của một tâm hồn khát khao được sống, được yêu. Đồng thời làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông vô tận, tâm trạng hụt hẫng và đầy tuyệt vọng của nhà thơ.

Như vậy, “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Từ đã khắc họa đẹp về cảnh và người xứ Huế qua đó cho thấy được tình yêu thiết tha, đằm thắm của tác giả đối với quê hương đất nước, với con người xứ Huế đoan trang, dịu dàng. Đồng thời, tác phẩm còn thể hiện tiếng lòng riêng tư của Hàn Mặc Tử – một con người tài hoa bạc mệnh. Dù tác giả đang phải đối mặt với cái chết cận kề nhưng vẫn khao khát sự sống. Chính vì vậy mà tác phẩm lại có được sự cộng hưởng rộng rãi và lâu bền trong tâm hồn thế hệ bạn đọc.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 4

Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Bài thơ không chỉ khắc họa bức tranh thiên nhiên đẹp về một miền quê đất nước, mà còn là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.

Hàn Mặc Từ đã khắc họa hai bức tranh thiên nhiên đối lập nhau. Đó là bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ và bức tranh sông nước đêm trăng. Đến với khổ thơ đầu tiên, người đọc sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ:

Bài thơ bắt đầu bằng một câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Ở đây, người đọc có thể hiểu theo hai cách. Đó có thể là lời thăm hỏi của cô gái thôn Vĩ khi nhà thơ đang mắc bệnh hiểm nghèo. Nhưng cũng có thể là lời của chính tác giả, Hàn Mặc Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình. Nhà thơ lúc này dù khao khát, nhớ nhung quê hương nhưng không thể trở về. Nhưng cả hai cách hiểu đều cho chúng ta thấy được nỗi nhớ quê cũng như mong muốn được về thôn Vĩ của nhà thơ. Sau đó, bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ bắt đầu được nhà thơ khắc họa với những nét đẹp: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. Cụm từ “nắng hàng cau” gợi ra một thực tế. Cau vốn là loại cây thân thẳng, cao lớn nhất trong khu vườn nên đã đón được ánh nắng đầu tiên của một ngày. Còn “nắng mới” cho thấy đây thứ ánh nắng mới bắt đầu của một ngày. Nó gợi sự ấm áp, tươi vui. Nhà thơ đã kết hợp sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ “nhìn nắng hàng cau” và “nắng mới” cho thấy lúc này, khắp không gian đều đang ngập tràn ánh nắng của buổi sớm mai. Thiên nhiên không chỉ có màu vàng của nắng. Mà còn có màu xanh của vườn cây: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Khu vườn này không rõ là của “ai”. Chỉ biết nó được chăm sóc rất cẩn thận. Khắp nơi đều tràn ngập màu xanh của cây cối. Cách so sánh “xanh như ngọc” gợi một màu xanh trong sáng, ẩn chứa ánh sáng của sự sống. Từ “quá” bộc lộ sự trầm trồ, khen ngợi của nhà thơ dành cho khu vườn. Giữa thiên nhiên đó không thể thiếu được dáng vẻ của con người: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. “Mặt chữ điền” gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu của người thôn Vĩ. Hàn Mặc Tử như nhìn thấy khuôn mặt ai thấp thoáng sau lá trúc. Phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương?

Kết lại bức tranh thôn Vĩ đầy sức sống, Hàn Mặc Tử đưa người đọc đến với bức tranh thiên nhiên sông nước đượm buồn:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Cảnh vật trong bức tranh này đều nhuốm màu buồn bã, chia lìa. Với một tâm hồn tràn đầy mặc cảm, Hàn Mặc Tử đã vẽ nên một bức tranh đẹp đấy nhưng cũng buồn đấy. Theo quy luật thông thường của thiên nhiên, “gió và mây” luôn là hai hình ảnh sóng đôi “gió thổi, mây bay”. Nhưng ở trong thơ Hàn, gió và mây lại chia lìa đôi ngả. Gió theo lối gió, mây theo đường mây. Không có bất kì mối liên hệ nào. Nhưng không chỉ dừng lại ở đó, con sông cũng nhuốm màu bi thương “dòng nước buồn thiu”. Với tính từ “buồn thiu” kết hợp biện pháp nhân hóa, làm cho dòng sông cũng trở nên buồn bã, không buồn vận động. Bức tranh sông nước đêm trăng không thể thiếu được hình ảnh ánh trăng. Trong mặc cảm chia lìa, ánh trăng hiện lên trong nỗi lo âu, khắc khoải “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Câu hỏi toát lên niềm hy vọng đầy khắc khoải. Đó là khát khao, là ước vọng được giao duyên, được hội ngộ của nhà thơ gửi gắm qua từ“kịp”.

Những câu thơ cuối cùng là dòng tâm trạng được khắc họa nổi bật qua không gian vừa thực vừa ảo. Câu thơ “Mơ khách đường xa, khách đường xa” với từ “mơ” đã gợi ra trạng thái vô thức của con người, nhà thơ đang đắm chìm trong cõi mộng. Kết hợp với điệp ngữ “khách đường xa” nhằm nhấn mạnh khoảng cách xa rời, chỉ là khách trong mơ. Để rồi “Áo em trắng quá nhìn không ra”, ở đây với từ “quá” diễn tả sự choáng ngợp, thảng thốt; “nhìn không ra” cực tả sắc trắng, trắng một cách kì lạ, bất ngờ. Đây không còn là màu sắc thực nữa mà là màu trong tâm tưởng. Câu thơ tiếp theo “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh” gợi cho ta cách hiểu làn sương khói làm mờ ảo cả bóng người hay chính là tượng trưng cho một mối tình mong manh, xa vời, không trọn vẹn. Bài thơ được kết lại bằng một câu hỏi “Ai biết tình ai có đậm đà?. Đó là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa hoài nghi vừa như giận hờn, trách móc.

Từ việc khắc họa bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ được chuyển biến về không gian, thời gian để từ đó bộc lộ tâm trạng của nhân vật trữ tình. “Đây thôn Vĩ Dạ” quả là một trong những tác phẩm độc đáo của Hàn Mặc Tử.

Cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 5

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền thơ ca Việt Nam. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ. Bài thơ đã để lại cho người đọc sâu sắc về một hồn thơ thật độc đáo.

Đến với khổ thơ đầu tiên, người đọc sẽ cảm nhận được một bức tranh thiên nhiên nơi thôn Vĩ tuyệt đẹp:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Bài thơ được bắt đầu bằng một câu hỏi: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Câu hỏi gợi cho người đọc hai cách hiểu. Đó có thể là lời hỏi của người thôn Vĩ dành cho tác giả. Vì theo như lời được kể lại thì nguồn cảm hứng để Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ bắt nguồn từ lời thăm hỏi của cô gái thôn Vĩ khi nhà thơ đang mắc bệnh hiểm nghèo. Cô đã gửi một tấm bưu thiếp là bức tranh nơi thôn Vĩ cùng với lời nhắn gửi sao anh không về thăm lại thôn Vĩ. Đó cũng có thể là lời của chính tác giả, Hàn Mặc Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình. Nhà thơ lúc này tuy khao khát, nhớ nhung quê hương nhưng không thể trở về. Dù hiểu theo cách nào thì chúng ta cũng thấy được nỗi nhớ quê cũng như mong muốn được về thôn Vĩ của nhà thơ.

Những câu thơ tiếp theo đã khắc họa hình ảnh thiên nhiên thôn Vĩ Dạ. Hình ảnh đầu tiên hiện ra: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. Ánh nắng của buổi bình minh đã bao trùm khắp làng quê. Cách sử dụng điệp ngữ “nhìn nắng” – “nắng mới” thể hiện một không gian tràn đầy sức sống. Thứ ánh sáng của ngày mới đầy tinh khôi, ấm áp mang đến cho con người một luồng sinh khí mới. Tiếp đến câu thơ thứ ba lại là một câu hỏi tu từ: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Ai” là đại từ phiếm chỉ, nhà thơ không biết khu vườn kia là của ai. Từ “mướt” gợi cảm giác về một màu xanh của sự sống, lấp lánh khắp khu vườn. Cách so sánh “xanh như ngọc” khiến ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:

Có thể bạn quan tâm  Top 18+ Chọn Câu Phát Biểu Đúng Nhất Trong Các Câu Sau

“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,
Thu đến – nơi nơi động tiếng huyền”

(Thơ duyên)

Cuối cùng, nhà thơ khắc họa vẻ đẹp của con người xứ Huế trong câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Trong không gian thiên nhiên đó, con người chỉ thoáng xuất hiện. Hình ảnh trên lại gợi cho người đọc hai cách hiểu. Khuôn mặt chữ điền của người thôn Vĩ thấp thoáng sau tán trúc. Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu, phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương? Hay cũng có thể đó là khung cửa sổ hình chữ điền thấp thoáng sau lá trúc. Dù là cách hiểu nào thì Hàn Mặc Tử cũng đều muốn thể hiện vẻ đẹp của con người xứ Huế cũng như tình cảm dành cho con người, cảnh vật nơi đây.

Đối lập với bức tranh thiên nhiên đầy tươi sáng nơi thôn Vĩ, là bức tranh sông nước đêm trăng:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Hai câu thơ mở đầu của khổ thơ thứ hai, tuy là tả cảnh nhưng khi đọc lên lại thấy nhuốm màu tâm trạng. Hình ảnh thiên nhiên gợi ra sự chia ly “gió theo lối gió, mây đường mây”. Nếu trong tự nhiên, gió và mây vốn là những sự vật luôn quấn quýt, gắn bó với nhau thì ở đây Hàn Mặc Tử lại để “mây và gió” chia cách đôi ngả. Ta tự hỏi đó là sự chia ly của thiên nhiên hay của chính con người? Và đến cả dòng nước – một sự vật vô tri, vô giác nhưng qua cái nhìn của nhà thơ giờ đây cũng có cảm xúc. Dòng nước “buồn thiu” – biện pháp tu từ nhân hóa khiến con sông giống như một con người, có tâm trạng. Cuối cùng là hình ảnh “hoa bắp lay” – bông hoa bắp nhỏ bé trôi theo dòng nước cũng giống như cuộc đời lưu lạc trôi nổi của con người.

Và bức tranh sông nước trong đêm trăng thì sao có thể thiếu mất đi ánh trăng:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

“Trăng” đã trở thành một biểu tượng quen thuộc của thi ca. Đặc biệt trong thơ Hàn Mặc Tử thì ánh trăng xuất hiện rất nhiều. Trăng có lúc được ẩn dụ, lúc được nhân hóa làm cho nó mang một phong cách độc đáo và khác lạ, kiểu như:

“Trăng nằm sóng soài trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi”

(Bẽn lẽn)

Hay ánh trăng có lúc trở nên thật điên cuồng:

“Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra

(Say trăng)

Còn ở “Đây thôn Vĩ Dạ” lại là “sông trăng” – gợi ra hình ảnh ánh trăng vàng in bóng xuống mặt nước. Ánh trăng lan tỏa ra khắp dòng sông tạo nên một dòng sông trăng. Kết thúc khổ thơ là câu hỏi tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Từ “kịp” được tác giả sử dụng nhằm thể hiện tâm trạng lo âu. Bởi với một người bình thường, nếu không kịp trở về vào “tối nay” thì sẽ còn những đêm khác, Còn với Hàn Mặc Tử, thì đêm nào cũng có thể là đêm cuối cùng.

Khổ thơ cuối là dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

Giữa không gian mơ hồ giữa “ảo và mộng” của “cảnh và người”. Khung cảnh vận động từ thực đến ảo, từ khu vườn thôn Vĩ Dạ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói. Điệp ngữ “khách đường xa” như một tiếng gọi tha thiết, Hàn Mặc Tử nhớ về quê hương để rồi phải mặc cảm trong sự chia cách. Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, nửa gần gũi nửa xa xăm, nửa hoài nghi nửa như giận hờn, trách móc. Khi dùng đại từ phiếm chỉ “ai” làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của một tâm hồn khát khao được sống, được yêu. Câu thơ làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông vô tận, tâm trạng hụt hẫng và đầy tuyệt vọng của nhà thơ.

Qua phân tích trên, người đọc có thể cảm nhận được một hồn thơ mãnh liệt, luôn khát khao giao cảm với cuộc đời của Hàn Mặc Tử. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” khơi gợi được những cảm xúc trong sáng mà đầy sâu sắc.

Cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 6

Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chói lọi diệu kỳ trong vòm trời rực rỡ lấp lánh nhiều tinh tú lạ. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông phải kể đến bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Bài thơ có lẽ là lời trách thầm, và cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng gửi gắm của nhân vật trữ tình, trong một tâm trạng vời vợi nhớ mong:

“Sao anh không về chơi thôn Vi?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”

Nếu như mỗi tình yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể, thì mỗi hình ảnh của nhân vật trữ tình trong bài thơ này gắn với vườn tược và con người Vĩ Dạ, đều những kỉ niệm thật khó quên. Có dịp, xin mời bạn hãy về thăm thôn Vĩ vào một buổi sớm mai Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế khoảng không đầy một giờ tản bộ. Từ xưa, thôn Vĩ Dạ đã nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, và những biệt thự nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thoáng, tưới màu xanh của cây lá. Thôn Vĩ Dạ cũng nổi tiếng như sông Hương, núi Ngự, chùa Thiên Mụ… của xứ này. Bởi vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nguyễn Bính, Bích Khuê, Nguyễn Tuân… đều có những cảm giác mà cảm hứng được nảy sinh từ thôn Vĩ Dạ nên thơ.

Sớm mai, nắng mới long lanh trên những tàu cau còn ướt sương đêm. Khách từ xa tới sẽ thấy hàng cau trước nhất, vì nó thường cao hơn hẳn những cây cối xum xuê ở dưới. Đất đai Vĩ Dạ phì nhiêu, được con người cần cù chăm bón; quả thật, cây cối ở đây xanh tốt mơn mởn và sạch sẽ như được lau chùi, mài giũa thành như những cành vàng lá ngọc…

Thật là một sáng tạo độc đáo. “Mặt chữ điền” gợi cho người đọc nhớ tới hình ảnh người dân có khuôn mặt vuông vức, thân hình cường tráng, đầy nam tính. Nhưng, khi hình tượng này đặt trong chính thể đoạn thơ và câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì ấn tượng nổi bật lại là sự hài hòa, gắn bó mật thiết giữa con người với vườn tược quê hương. Như vậy, câu thơ còn khắc họa thành công một nét đáng nhớ; đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ, tốt tươi; con người đôn hậu giàu sức sống.

Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ đầu, dường như khổ thứ hai, nhà thơ miêu tả cảnh thiên nhiên sông nước đêm trăng:

“Gió theo lối gió mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu hoa bắp bay;
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Nhịp điệu dịu dàng, khoan thai của xứ Huế được khắc họa thành công: Gió và mây nhè nhẹ trôi đi; sông Hương nước chảy lặng lờ. Hoa ngô (hoa bắp) chi khẽ đung đưa theo chiều gió. Khác với khố một, đến khổ thứ hai này, không gian được miêu tả như trong mộng ảo, tràn ngập ánh trăng. Nhà thơ không những chỉ ta, không những chỉ nhìn bằng mắt mà điều quan trọng hơn là còn “nhìn” bằng thế giới tâm linh của mình: Do đó, không có biên giới giữa thực và mộng và dường như càng về cuối thế giới tâm linh, thế giới mộng ảo càng lấn át thế giới hiện thực. Vì là mộng ảo, nên có nỗi băn khoăn rất mộng mơ: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay?”. Thuyền trăng thì có nhiều thi nhân nhắc đến. nhưng “sông Trăng” thì có lẽ Hàn Mặc Tử là người sáng tạo đầu tiên. Dường như trong những câu thơ trên, có sự mong chờ, niềm hy vọng, lẫn nỗi buồn man mác của nhà thơ, ở đây rõ ràng, không có sự đặc sắc của một bút pháp phác họa đúng linh hồn của một xứ sở, mà điều quan trọng nữa là: Những nét phác họa ấy gợi lên ở người đọc một tình yêu thật dịu dàng, kín đáo, mà sâu xa rộng mở đến khôn cùng. Ấn tượng của người đọc về những điều nói trên sẽ được nhà thơ tô đậm qua khổ kết:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

Đúng là xứ Huế vốn mưa nhiều, lắm sương khói. Do đó, phải chăng khổ thơ trên có nét tả thực, cũng giống như “hàng cau”, “lá trúc” “hoa bắp”… ở những khổ thơ trước? Sương khói trắng, và áo em cũng trắng: Bởi vậy, nếu nhà thơ chỉ nhìn thấy bóng người thôi (nhân ảnh), thì cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, như đã nêu, Hàn Mặc Tử vốn là nhà thơ lãng mạn đích thực, cái chính là thi sĩ đã nói bằng tâm tưởng, gieo vào lòng người đọc một thoáng bâng khuâng: Người thiếu nữ Huế tươi đẹp quá, kín đáo và huyền ảo quá; nào ai có biết tình yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ mờ ảo như khói sương xứ Huế? Ở đây, dường như tác giả cảm thấy mình chơi vơi hụt hẫng, trước một mối tình đơn phương lung linh, huyền ảo. Nếu nhận ra rằng. Hàn Mặc Tử vốn là người rất mực tài hoa, luôn khao khát yêu thương; nhưng căn bệnh phong hiểm nghèo đã làm ông không có được một tình yêu trọn vẹn. Nhà thơ đã từng phải sống có độc, lúc thì trong một con thuyền nhỏ lênh đênh chẳng có bến bờ, lúc thì khắc khoải bên dãy núi ven thành phố, và cuối cùng phải nằm vô vọng ở nhà thương Tuy Hòa chờ cái chết… Ta càng thông cảm cho một thoáng hờn dỗi, trách móc tưởng như vô cớ của cây bút đa tài, mà bất hạnh này. Phải yêu người Vĩ Dạ, nói rộng ra là phải yêu người xứ Huế; hiểu xứ Huế, gắn bó với xứ Huế sâu sắc đến độ nào, thì thi sĩ mới nói về tình yêu, về xứ Huế đứng và hay như thế.

Như vậy, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đã để lại cho người đọc một ấn tượng sâu sắc về thiên nhiên của nơi thôn Vĩ. Cũng như nỗi niềm tâm trạng của nhà thơ Hàn Mặc Tử được gửi gắm trong bài thơ.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 7

Đến với “Đây thôn Vĩ Dạ” của nhà thơ Hàn Mặc Tử có lẽ người đọc sẽ cảm thấy ấn tượng với bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống nơi thôn Vĩ. Điều đó được thể hiện qua khổ thơ đầu của bài thơ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu thơ mở đầu là một câu hỏi mang nhiều ý nghĩa. Đây có thể là lời hỏi của người thôn Vĩ dành cho tác giả. Vì theo như lời được kể lại thì nguồn cảm hứng để Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ bắt nguồn từ lời thăm hỏi của cô gái thôn Vĩ khi nhà thơ đang mắc bệnh hiểm nghèo. Cô đã gửi một tấm bưu thiếp là bức tranh nơi thôn Vĩ cùng với lời nhắn gửi sao anh không về thăm lại thôn Vĩ. Cũng có thể là lời của chính tác giả, Hàn Mặc Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình. Nhà thơ lúc này dù khao khát, nhớ nhung quê hương nhưng không thể trở về. Dù hiểu theo cách nào thì chúng ta cũng thấy được nỗi nhớ quê cũng như mong muốn được về thôn Vĩ của nhà thơ.

Đến câu thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ bắt đầu được nhà thơ khắc họa với những nét đẹp: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. Đây là ánh nắng của buổi bình minh bao trùm khắp không gian làng quê. Cách sử dụng điệp ngữ “nhìn nắng” – “nắng mới” thể hiện một không gian tràn đầy sức sống. Thứ ánh sáng của ngày mới đầy tinh khôi, ấm áp mang đến cho con người một luồng sinh khí mới. Còn hình ảnh “hàng cau” lấp lánh trong nắng. Cau là loại cây thân thẳng, cao lớn nhất trong khu vườn nên đã đón được ánh nắng đầu tiên của một ngày.

Câu thơ thứ ba gợi ra một không gian ngập tràn màu xanh: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Khu vườn này không rõ là của “ai”. Chỉ biết nó được chăm sóc rất cẩn thận. Khắp nơi đều tràn ngập màu xanh của cây cối. “Xanh như ngọc” gợi một màu xanh trong sáng, ẩn chứa ánh sáng của sự sống. Từ “quá” bộc lộ sự trầm trồ, khen ngợi của nhà thơ dành cho khu vườn.

Và bức tranh thiên nhiên kết lại bằng hình ảnh con người thoáng xuất hiện: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. “Mặt chữ điền” gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu. Hàn Mặc Tử như nhìn thấy khuôn mặt ai thấp thoáng sau lá trúc. Phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương? Qua đây, nhà thơ muốn khắc họa vẻ đẹp của con người xứ Huế cũng như tình cảm dành cho con người, cảnh vật nơi đây.

Tiếp đến, ở khổ thơ thứ hai là bức tranh sông nước đêm trăng gợi ra sự chia ly:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Nếu ở khổ thơ đầu, thiên nhiên hiện lên tràn đầy sức sống với những gam màu tươi tắn. Thì ở khổ này, cảnh vật lại nhuốm màu buồn bã. Nguyễn Du đã từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Quả vật, với con mắt tràn đầy đau đớn và mặc cảm, Hàn Mặc Tử đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên đẹp đấy nhưng buồn đấy. Nếu như ở khổ thơ thứ nhất, bức tranh thiên nhiên được miêu tả với những gam màu tươi tắn của buổi sớm mai thì ở khổ thơ này, dòng thời gian đã vận động, chuyển mình qua khung cảnh gió mây, trăng nước. Theo quy luật thông thường của thiên nhiên, gió và mây luôn là hai hình ảnh sóng đôi “gió thổi, mây bay”, nhưng qua những câu thơ của chàng thi sĩ họ Hàn, gió – mây lại hiện lên trong mối quan hệ đối lập của sự chia lìa, xa cách, trôi nổi và tượng trưng cho nỗi trống vắng, cô đơn trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Không chỉ dừng lại ở đó, khung cảnh còn được bao phủ bởi bức màn của nỗi buồn qua những hình ảnh giàu sức gợi như “dòng nước buồn thiu”. Với tính từ “buồn thiu” kết hợp biện pháp nhân hóa, dường như nỗi buồn mang sắc thái chia phôi của gió và mây đã thấm vào sông nước, khiến dòng thủy lưu mang nặng nỗi buồn của thiên nhiên tạo vật. Và trong khung cảnh đó, ánh trăng xuất hiện và bao trùm không gian, làm nên một liên tưởng độc đáo về sông trăng, thuyền trăng. Trong mặc cảm chia lìa, ánh trăng hiện lên trong nỗi lo âu, khắc khoải “Có chở trăng về kịp tối nay?” đã làm nổi bật hơn nữa nỗi bồn chồn cùng tâm trạng xót xa, đau đớn cùng nỗi ám ảnh về khát khao giao cảm với đời của nhân vật trữ tình.

Những câu thơ cuối cùng là dòng tâm trạng được khắc họa nổi bật qua không gian vừa thực vừa ảo. Khung cảnh thiên nhiên với vườn thôn Vĩ, nắng sớm mai, hàng cau, lá trúc, gió mây, dòng nước, thuyền trăng, sông trăng biến mất và nhường chỗ cho hình bóng “khách đường xa” trong ảo mộng. “Áo em trắng quá” phải chăng là ẩn dụ cho bóng dáng của người con gái từng xuất hiện trong thi ảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Khung cảnh cũng vận động từ thực đến ảo, từ vườn thôn Vĩ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. Dường như “sương khói” là tác nhân làm mờ đi, nhòa đi bóng dáng con người và tình người. Thi nhân đã cố gắng níu kéo trong khát khao giao cảm với hồn người, tình người nhưng tất cả chỉ là sương khói mờ ảo. Bài thơ được kết thúc bởi câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” xoáy sâu hơn nữa bi kịch của nhân vật trữ tình. Đại từ phiếm chỉ “Ai” được điệp lại hai lần khiến câu thơ ngân dài và vang xa, làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông tận cùng. Đó là nỗi tuyệt vọng của một tâm hồn khát khao giao cảm với đời nhưng mãi mãi không được cộng hưởng và hồi đáp.

Tóm lại, “Đây thôn Vĩ Dạ” đã gợi cho người đọc cảm nhận về một hồn thơ độc đáo của Hàn Mặc Tử. Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng khẳng định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 8

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng nhận xét về nhà thơ Hàn Mặc Tử: “Vườn thơ Hàn rộng không bờ bến nhưng càng đi xa càng thấy lạnh”. Khi đọc bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, người đọc đã cảm nhận rõ hơn về những nhận định trên.

Mở đầu bài thơ là câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” mang nhiều ý nghĩa. Đó có thể là một lời trách móc nhẹ nhàng tại sao đã lâu rồi mà anh không về chơi vườn thôn Vĩ, cũng có thể là lời tự vấn của chính tác giả nhằm bộc lộ khao khát được trở về thôn Vĩ. Từ đó, nhà thơ bắt đầu miêu tả bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ. Đầu tiên là hình ảnh ánh nắng buổi bình minh đang len lỏi trên cành cây kẽ lá, quyện hòa làm nên thi ảnh độc đáo “nắng hàng cau”. Chiều không gian thay đổi với vẻ đẹp của khu vườn thôn Vĩ trong gam màu “mướt quá xanh như ngọc” gợi lên sự xanh non, tươi mới và trong trẻo. Và trong những gam màu tươi sáng đó, hình ảnh con người xuất hiện trong mối quan hệ giao hòa: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Câu thơ gợi ra hình ảnh con người thấp thoáng cùng sự bí ẩn, gợi ra nhiều cách giải mã trong lòng độc giả. Đó phải chăng là khuôn mặt của người thiếu nữ ẩn hiện sau khóm trúc, lá trúc cắt ngang tạo nên khuôn mặt chữ điền? Hay là khuôn mặt tượng trưng cho vẻ đẹp phúc hậu của con người xứ Huế? Với tài năng trong việc sử dụng ngôn từ, tác giả Hàn Mặc Tử đã kiến tạo nên những hình ảnh, thi liệu đa nghĩa và giàu sắc thái biểu đạt để phác họa bức tranh về thiên nhiên, cảnh vật và con người xứ Huế.

Tiếp đến khổ thơ thứ hai, tác giả lại gợi lên không gian của sự chia lìa, xa cách đượm buồn hiu hắt và lung linh, huyền ảo:

“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Nếu ở khổ thơ thứ nhất, bức tranh thiên nhiên được miêu tả với những gam màu tươi tắn của buổi sớm mai thì ở khổ thơ này, dòng thời gian đã vận động, chuyển mình qua khung cảnh gió mây, trăng nước. Theo như quy luật thông thường, gió và mây luôn là hai hình ảnh sóng đôi “gió thổi, mây bay”. Nhưng ở đây hình ảnh “gió – mây” lại hiện lên trong mối quan hệ đối lập của sự chia lìa, xa cách. Không chỉ dừng lại ở đó, khung cảnh còn được bao phủ bởi bức màn của nỗi buồn qua những hình ảnh giàu sức gợi như “dòng nước buồn thiu”. Với tính từ “buồn thiu” kết hợp biện pháp nhân hóa, dường như nỗi buồn mang sắc thái chia phôi của gió và mây đã thấm vào sông nước, khiến dòng thủy lưu mang nặng nỗi buồn của thiên nhiên tạo vật. Và trong khung cảnh đó, ánh trăng xuất hiện và bao trùm không gian, làm nên một liên tưởng độc đáo về sông trăng, thuyền trăng. Trong mặc cảm chia lìa, ánh trăng hiện lên trong nỗi lo âu, khắc khoải “Có chở trăng về kịp tối nay?” đã làm nổi bật hơn nữa nỗi bồn chồn cùng tâm trạng xót xa, đau đớn cùng nỗi ám ảnh về khát khao giao cảm với đời của nhân vật trữ tình.

Dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình tiếp tục được làm nổi bật qua không gian vừa thực vừa ảo mộng:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

Khung cảnh thiên nhiên đã nhường chỗ cho hình bóng “khách đường xa” trong ảo mộng. Cụm từ “áo em trắng quá” phải chăng là ẩn dụ cho bóng dáng của người con gái từng xuất hiện trong thi ảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Khung cảnh cũng vận động từ thực đến ảo, từ vườn thôn Vĩ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”. Dường như “sương khói” là tác nhân làm mờ đi, nhòa đi bóng dáng con người và tình người. Thi nhân đã cố gắng níu kéo trong khát khao giao cảm với hồn người, tình người nhưng tất cả chỉ là sương khói mờ ảo. Bài thơ được kết thúc bởi câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” xoáy sâu hơn nữa bi kịch của nhân vật trữ tình. Đại từ phiếm chỉ “ai” được điệp lại hai lần khiến câu thơ ngân dài và vang xa, làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông tận cùng.

“Đây thôn Vĩ Dạ” đã cho người đọc cảm nhận về một bức tranh thiên nhiên với tâm hồn của một người thi sĩ khát khao giao cảm với tình đời, tình người trong nỗi ám ảnh, khắc khoải và xót xa.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 9

Hàn Mặc Từ là một nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ mới. Thơ của ông nổi bật với những đường nét và màu sắc riêng khi thì táo bạo ấn tượng, khi thì thanh trong thoát tục. Đặc biệt là bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đã để lại nhiều tình cảm trong trẻo trong lòng người đọc.

Bài thơ bắt đầu với câu hỏi tu từ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Khi làm bài thơ này, Hàn Mạc Tử đang ở trại phong Tuy Hòa và nhận được bức ảnh của Hoàng Cúc về miền quê xứ Huế. Ông theo đó mà miêu tả những đường nét của xứ Huế qua trí nhớ mà bức ảnh gợi lại. Câu hỏi tu từ đã bộc lộ khao khát của nhà thơ mong muốn được trở về thôn Vĩ. Từ đó, bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ Dạ hiện lên với vẻ đẹp:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Trong tưởng tượng của người đọc, bức tranh tươi đẹp về thiên nhiên, con người xứ Huế được hiện lên nên thơ, yên bình. Màu sắc nổi bật là màu nắng tươi mới trên bầu trời cao xanh. Cùng với đó là từ “mướt” trong câu thơ gợi cho người đọc cảm giác xanh tươi lạ thường, có liên tưởng mảnh vườn nhỏ y như một viên ngọc thanh thoát mà đồng nội giữa cảnh sắc xứ Huế. Đặc biệt, hình ảnh con người xứ Huế hiện lên hiền lành, đôn hậu với “khuôn mặt chữ điền” ấn lấp sau lá trúc, một biểu tượng cho sự thanh tao của người quân tử. Có thể đó là khuôn mặt dễ mến, đôn hậu của con người xứ Huế trong tâm thức nhà thơ cũng có thể là hình ảnh người con gái Huế thân thương dịu dàng.

Đến khổ thơ thứ hai, nhà thơ lại khắc họa bức tranh thiên nhiên sông nước đêm trăng:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…”

“Gió” và “mây” vốn là hai hiện tượng thân thiết nhưng ở câu thơ của Hàn Mạc Tử thì lại mỗi thứ một đường, tạo một sự chia xa khó tả. Không chỉ có vậy, sự êm đềm của dòng sông xứ Huế lại tạt vào lòng người cảm giác “buồn thiu”, những cánh hoa bắp “lay” cũng gợi sự mỏng manh yếu ớt khiến cho cả không gian nhuốm màu thê lương, buồn bã. Trong khung cảnh thiên nhiên đó, câu hỏi cất lên:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?”

Câu hỏi nhẹ nhàng nhưng nặng trĩu sự lo lắng, sự thấp thỏm, không biết liệu rằng có còn kịp hay không? Kịp để nhìn thấy sự tươi đẹp của cuộc đời, của con người, có kịp làm điều mong ước, tất cả đều là sự khát khao giao cảm đến tột cùng khi con người ta phải xa với đời trong chốn cô đơn và ngày ngày chờ đến lời phán quyết cuối cùng của cuộc đời mình.

Ở đoạn thơ thứ ba, khát khoa này càng bộc lộ rõ hơn bao giờ hết:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

Điệp từ “khách đường xa” được lập lại như thể nhấn mạnh sự ước ao, sự lưu ý bao nhiêu ngày tháng. Màu trắng là màu sắc rất hay xuất hiện trong thơ của Hàn Mạc Tử, luôn là biểu hiện của sự tinh khôi thanh khiết, giống y như nàng trinh nữ, lúc nào cũng trắng trong tuyệt vời. Nhưng có lẽ do màu trắng tinh khôi của áo mà trong giấc mơ của mình, Hàn Mạc Tử đã không thể nhìn rõ cô gái, bởi sương khói mông lung đã làm mờ nhạt cả trí nhớ, chỉ còn lại sự thanh khiết không gì nhạt phai. Kết thúc bài thơ, một câu hỏi tu từ lại được thốt lên hết sức thiết tha: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. Câu hỏi tu từ với đại từ phiếm chỉ “ai” như bộc lộ một niềm khao khát được sống, được yêu thương.

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong số ít những bài thơ không mang những nét u buồn thất vọng về cuộc đời nhưng cũng không hẳn là mang âm hưởng vui tươi. Tuy nhiên người đọc vẫn nhận ra những tình cảm hết sức sâu sắc, yêu đời, yêu đời và khát khao giao.

Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ – Mẫu 10

Hàn Mặc Từ là một trong những nhà thơ nổi tiếng thuộc trường phái thơ điên. Các tác phẩm của ông đều mang đậm phong cách sáng tác độc đáo. Một trong những bài thơ nổi tiếng phải kể đến “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Ở khổ thơ thứ nhất, Hàn Mặc Tử đã khắc họa bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ đầy tươi sáng:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu hỏi tu từ mở đầu bài thơ “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” đã gợi cho người đọc hai cách hiểu. Cách hiểu đầu tiên đây có thể là lời hỏi của người thôn Vĩ dành cho tác giả. Vì theo như lời được kể lại thì nguồn cảm hứng để Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ bắt nguồn từ lời thăm hỏi của cô gái thôn Vĩ khi nhà thơ đang mắc bệnh hiểm nghèo. Cô đã gửi một tấm bưu thiếp là bức tranh nơi thôn Vĩ cùng với lời nhắn gửi sao anh không về thăm lại thôn Vĩ. Nhưng đó cũng chính là lời tự hỏi của Hàn Mặc Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình. Cả hai cách hiểu đều cho người đọc cảm nhận được nỗi nhớ quê cũng như khao khát được trở về thôn Vĩ của nhà thơ.

Bức tranh thiên nhiên được khắc họa qua những hình ảnh giản dị. Đó là khu vườn thôn Vĩ với “nắng hàng cau”. Điệp ngữ vòng “nhìn nắng” – “nắng mới” thể hiện một không gian tràn đầy sức sống. Thứ ánh sáng của ngày mới đầy tinh khôi, ấm áp mang đến cho con người một luồng sinh khí mới. Khu vườn ấy không chỉ có màu vàng của ánh nắng mà còn có màu xanh của cây cối “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Ai” là đại từ phiếm chỉ, nhà thơ không biết khu vườn kia là của ai. Từ “mướt” gợi cảm giác về một màu xanh của sự sống, lấp lánh khắp khu vườn. Trong không gian thiên nhiên ấy, con người thấp thoáng hiện ra: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Hình ảnh trên lại gợi cho người đọc hai cách hiểu. Khuôn mặt chữ điền của người thôn Vĩ thấp thoáng sau tán trúc. Khuôn mặt chữ điền gợi ra vẻ hiền lành phúc hậu, phải chăng đó là khuôn mặt của người con gái Hàn Mặc Tử thầm thương? Hay cũng có thể đó là khung cửa sổ hình chữ điền thấp thoáng sau lá trúc. Như vậy, người đọc có thể cảm nhận được tình cảm sâu sắc của nhà thơ dành cho thôn Vĩ.

Đến khổ thơ tiếp theo, Hàn Mặc Tử đã khắc họa bức tranh sông nước đêm trăng hoàn toàn đối lập với thiên nhiên thôn Vĩ Dạ:

“Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Nếu trong tự nhiên, gió và mây vốn sóng đôi cùng nhau. Thì trong thơ Hàn Mặc Tử, gió và mây lại gợi sự chia lìa, xa cách: “gió theo lối gió, mây đường mây”. Ta tự hỏi đó là sự chia ly của thiên nhiên hay của chính con người? Và đến cả dòng nước – một sự vật vô tri, vô giác nhưng qua cái nhìn của nhà thơ giờ đây cũng có cảm xúc. Dòng nước “buồn thiu” – biện pháp tu từ nhân hóa khiến con sông giống như một con người, có tâm trạng. Cuối cùng là hình ảnh “hoa bắp lay” – bông hoa bắp nhỏ bé trôi theo dòng nước cũng giống như cuộc đời lưu lạc trôi nổi của con người.

Bức tranh thiên nhiên xuất hiện trong đêm trăng:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

“Trăng” đã trở thành một biểu tượng quen thuộc của thi ca. Nếu trong thơ Lí Bạch, ánh trăng gợi nhớ về quê hương:

“Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương”

Hay trăng trong thơ của Bác Hồ đã thể hiện được tình yêu thiên nhiên cũng như tâm hồn thư thái, lạc quan của Bác dù trong hoàn cảnh ngục tù.

“Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”

Thì trong “Đây thôn Vĩ Dạ” lại là “sông trăng” – gợi ra hình ảnh ánh trăng vàng in bóng xuống mặt nước. Ánh trăng lan tỏa ra khắp dòng sông tạo nên một dòng sông trăng. Kết thúc khổ thơ là câu hỏi tu từ “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Từ “kịp” được tác giả sử dụng nhằm thể hiện tâm trạng lo âu. Bởi với một người bình thường, nếu không kịp trở về vào “tối nay” thì sẽ còn những đêm khác, Còn với Hàn Mặc Tử, thì đêm nào cũng có thể là đêm cuối cùng.

Cuối cùng, nhà thơ đã khắc họa tâm trạng của nhân vật trữ tình:

“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”

Giữa không gian mơ hồ giữa “ảo và mộng” của “cảnh và người”. Khung cảnh vận động từ thực đến ảo, từ khu vườn thôn Vĩ Dạ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói. Điệp ngữ “khách đường xa” như một tiếng gọi tha thiết, Hàn Mặc Tử nhớ về quê hương để rồi phải mặc cảm trong sự chia cách. Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, nửa gần gũi nửa xa xăm, nửa hoài nghi nửa như giận hờn, trách móc. Khi dùng đại từ phiếm chỉ “ai” làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của một tâm hồn khát khao được sống, được yêu. Câu thơ làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông vô tận, tâm trạng hụt hẫng và đầy tuyệt vọng của nhà thơ.

Như vậy, bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đã cho người đọc cảm nhận về một bức tranh thiên nhiên đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người.

Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666
Lượt xem: 86668666

2. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ VNExpress

VNExpress
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên VNExpress, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

3. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ dantri.com.vn

dantri.com.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Hy vọng rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên dantri.com.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

4. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ tuoitre.vn

tuoitre.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Dưới đây là danh sách các bài viết về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên tuoitre.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

5. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ thanhnien.vn

thanhnien.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên thanhnien.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

6. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ tienphong.vn

tienphong.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Hy vọng rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên tienphong.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

7. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ vietnamnet.vn

vietnamnet.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Dưới đây là danh sách các bài viết về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên vietnamnet.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

8. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ soha.vn

soha.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên soha.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

9. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ 24h.com.vn

24h.com.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Hy vọng rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên 24h.com.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

10. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ kenh14.vn

kenh14.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Dưới đây là danh sách các bài viết về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên kenh14.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

11. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ zingnews.vn

zingnews.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên zingnews.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

12. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ vietnammoi.vn

vietnammoi.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Hy vọng rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên vietnammoi.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

13. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ vov.vn

vov.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Dưới đây là danh sách các bài viết về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên vov.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

14. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ afamily.vn

afamily.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên afamily.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

15. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ cafebiz.vn

cafebiz.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Hy vọng rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên cafebiz.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

16. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ suckhoedoisong.vn

suckhoedoisong.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Dưới đây là danh sách các bài viết về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên suckhoedoisong.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

17. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ coccoc.com

coccoc.com
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên coccoc.com, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

18. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ facebook.com

facebook.com
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Hy vọng rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình tìm kiếm trên facebook.com sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 8666

Câu hỏi về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Nếu có bắt kỳ thắc mắc nào về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ hãy cho chúng mình biết nhé, mọi câu hỏi hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình hoàn thiện hơn trong các bài sau nhé!

Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình và team tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ giúp ích cho bạn thì hãy ủng hộ team Like hoặc Share nhé!

Từ khóa tìm Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
cách Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
hướng dẫn Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ miễn phí

Scores: 4.7 (84 votes)

Top 18+ Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Bạn đang tìm hiểu về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ, hôm nay mình sẽ chia sẻ đến bạn nội dung Top 18+ Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team mình tổng hợp và biên tập từ nhiều nguồn trên internet. Hy vòng bài viết về chủ đề Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ hữu ích với bạn.

1. Top 18+ Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tài liệu hướng dẫn cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử do Đọc Tài Liệu biên soạn cung cấp gợi ý chi tiết giúp em làm tốt các bước phân tích đề, lập dàn ý và sơ đồ tư duy kèm theo một số mẫu bài văn tham khảo hay.

    Cùng xem ngay…

I. Hướng dẫn cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

Đề bài: Trình bày cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.

1. Phân tích yêu cầu đề bài

– Yêu cầu về nội dung: phân tích và nêu cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng: từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử).

– Phương pháp lập luận chính: phân tích, nêu cảm nhận.

2. Hệ thống luận điểm bài cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ

Luận điểm 1: Cảm nhận bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, con người xứ Huế

Luận điểm 2: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ Dạ trong sự chia lìa, xa cách

Luận điểm 3: Cảm nhận về tâm trạng của tác giả.

II. Lập dàn ý chi tiết cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Dựa trên hệ thống luận điểm vừa liệt kê, các em có thể triển khai dàn ý chi tiết như sau:

1. Mở bài cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ

– Giới thiệu đôi nét về Hàn Mặc Tử

+ Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) là nhà thơ có nhiều đóng góp lớn cho phong trào Thơ mới 1932 – 1940.

– Giới thiệu khái quát về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ:

+ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một trong những bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử nằm trong tập “Thơ điên” (hay “Đau thương“) được chính nhà thơ tập hợp lại vào 1938.

+ Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết năm 1938, khi Hàn Mặc Tử đã mắc căn bệnh nan y. Thi phẩm được in trong tập Thơ điên, được khơi nguồn cảm hứng từ tấm bưu ảnh mà Hoàng Thị Kim Cúc (cô gái thôn Vĩ mà thi sĩ đã yêu, một mối tình đơn phương) gửi cho ông.

+ Bài thơ là bức tranh đẹp và thơ mộng về thôn Vĩ Dạ, bộc lộ khát khao được sống, được yêu và được giao hòa với thiên nhiên.

2. Thân bài cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ

Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử kết hợp với nêu cảm nhận của cá nhân về từng nội dung trong bài thơ theo trình tự luận điểm sau đây:

a) Luận điểm 1: Cảm nhận bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, con người xứ Huế (khổ 1)

– “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

-> Câu thơ mở đầu vừa là lời mời mọc ân cần, tha thiết, vừa là lời trách cứ nhẹ nhàng

=> Hàn Mặc Tử tự phân thân ra để hỏi mình đồng thời vừa mời mọc, trách móc với cả một niềm tiếc nuối. Một cuộc hành trình trở về thăm thôn Vĩ trong tâm tưởng của Hàn Mặc Tử đã bắt đầu từ đó.

– Cảnh vật và con người xứ Huế hiện lên một cách nhẹ nhàng, tinh khiết, đầy sức sống.

+ Nắng mới lên, nắng hàng cau -> Nắng vàng hanh, mượt mà, long lanh, tinh khiết buổi bình minh.

+ Vườn xanh như ngọc -> màu xanh thẫm như một viên ngọc lớn.

+ Lá trúc che ngang mặt chữ điền -> Con người thôn Vĩ xuất hiện với vẻ đẹp phúc hậu, hiền từ.

=> Nghệ thuật cách điệu hóa tạo nên hình ảnh của thôn Vĩ và con người xứ Huế thật dịu dàng, phúc hậu. Sự xuất hiện của hình ảnh con người rất nhỏ nhoi nhưng khiến chúng ta cảm nhận là một người rất xinh đẹp.

b) Luận điểm 2: Bức tranh thiên nhiên trong sự chia lìa, xa cách (khổ 2)

– Miêu tả cảnh: gió, mây, dòng nước, hoa bắp lay -> Hình ảnh thể hiện sự chia lìa

– Không gian mờ ảo đầy hình ảnh của trăng: bến trăng, sông trăng, thuyền chở trăng.

-> Sự u buồn, lạnh lẽo, xa cách cuộc đời mình với cuộc sống và thiên nhiên

– Tâm trạng khắc khoải, đợi chờ của nhân vật trữ tình: “Có chở trăng về kịp tối nay?”

c) Luận điểm 3: Tâm trạng của tác giả (khổ 3)

– Sự ảo mộng của cảnh và người: Khung cảnh cũng vận động từ thực đến ảo, từ vườn thôn Vĩ đến sông trăng và cuối cùng chìm vào tâm thức mờ ảo của sương khói.

– Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?” là lời nhân vật trữ tình vừa là để hỏi người và vừa để hỏi mình, vừa gần gũi vừa xa xăm, vừa hoài nghi vừa như giận hờn, trách móc.

– Đại từ phiếm chỉ “ai” làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của một tâm hồn khát khao được sống, được yêu.

-> Làm nhòe mờ hình tượng của khách thể và chủ thể trữ tình, tạo nên một nỗi ám ảnh về nỗi đau trong cõi mênh mông vô tận, tâm trạng hụt hẫng và đầy tuyệt vọng của nhà thơ.

d) Đánh giá về nghệ thuật

– Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, câu hỏi tu từ,…

– Hình ảnh thơ sáng tạo, độc đáo

– Kết hợp giữa bút pháp thơ tả thực và lãng mạn, tượng trưng.

3. Kết bài cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ

– Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.

– Nêu cảm nhận chung của em về bài thơ.

4. Sơ đồ tư duy cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ

So do tu duy cam nhan bai tho Day thon Vi Da

Phân tích, cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ bằng sơ đồ tư duy

III. Danh sách top 5 bài văn hay cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Dưới đây là top 5 bài văn cảm nhận về bài Đây thôn Vĩ Dạ hay và đặc sắc dành cho các em tham khảo để nắm được phương pháp làm và mở rộng vốn từ ngữ trong quá trình làm bài. Cùng xem ngay nhé!

1. Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ bài số 1:

Bạch Cư Dị từng nói: “Cảm động lòng người, trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa. Vậy đối với thơ tình là gốc, lời là cảnh, thanh là họa, nghĩa là quả”. Có thể nói, tình cảm là yếu tố sinh mệnh của thơ ca, thiếu tình cảm thì chỉ có thể trở thành người thợ làm những câu có vần chứ không làm được nhà thơ. Đồng thời, thơ ca không bộc lộ tình cảm một cách bản năng, trực tiếp mà nó được ý thức, được siêu thăng, được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ gắn liền với ý thức về mình, về đời.

Hiện lên như một “ngôi sao chổi” xoẹt qua bầu trời thi đàn văn học với cái đuôi chói lòa, rực rỡ của mình, Hàn Mặc Tử đến với thơ, với đời bằng tình cảm tha thiết, chân thành của một kẻ sĩ đứng giữa hai bờ sinh tử, chơi vơi giữa cõi thực và cõi mộng. Gã làm thơ khi đã nếm trải đủ mùi vị đau thương trong chốn vốn chẳng có gì là vĩnh hằng.

Bao giờ cũng vậy, Hàn Mặc Tử luôn muốn thoát li hiện thực, tìm về một cõi xa xăm nào đấy để ôm ấp những nỗi sầu u oải, mơ hồ, và có lẽ “Đây thôn Vĩ Dạ” đã bước ra từ sự quằn quại, đau đớn để góp vào vườn thơ Hàn “rộng không bờ không bến” một cõi hư vô rợn ngợp khiến thi nhân không khỏi thổn thức:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

….

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiêu biểu, có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ Mới giai đoạn 1932 – 1945. Thế giới thơ ông đầy bí ẩn, phức tạp, luôn đan xen giữa những gì thân thuộc, thanh khiết, thiêng liêng nhất với những gì ghê rợn, ma quái, cuồng loạn nhất. Trong đó hình ảnh trăng, hoa, nhạc luôn chan lẫn với hình ảnh hồn, máu, yêu ma nói như Hoài Thanh: “Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến, càng đi xa càng ớn lạnh…”.

Sự nghiệp thơ ca của Hàn là một tháp ngà kiêu sa, tráng lệ, ánh hào quang của nó tỏa sáng chói lòa nhân thế… vì vậy những hình tượng thơ của ông khiến người đọc khó đến gần, khó nắm bắt và có khi khó hiểu. Vườn thơ của ông có lẽ được xếp vào loại “siêu”: siêu thực, siêu thức và siêu thoát nhưng đọc thơ ông nào đã thoát, rốt cuộc vẫn lơ lửng, vẫn còn đó một câu hỏi lớn: “Hàn Mặc Tử, anh là ai?”. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được in trong tập “Thơ điên” (1938), toàn bộ thi phẩm là tiếng lòng vừa tha thiết mê đắm, vừa đau đớn tuyệt vọng của một thi nhân yêu đời da diết mà phải vĩnh viễn rời xa cuộc đời bởi bi kịch éo le và vô vọng.

Tại trại phong Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã nhận được tấm bưu ảnh chụp cảnh bến Vĩ Dạ cùng lời thăm hỏi của Hoàng Cúc. Chính bức ảnh cùng lời hỏi thăm đó đã gợi lên trong lòng nhà thơ kỉ niệm về một miền quê và người con gái trong mối tình đơn phương, cũng bởi vậy mà mỗi vần thơ thấm đượm nỗi buồn sâu sắc. Thôn Vĩ Dạ là một làng nhỏ nằm bên bờ sông Hương, đây là nơi nghỉ ngơi của những quan lại, viên chức về hưu nên cuộc sống nơi đây vô cùng bình yên, no đủ và thơ mộng với những vườn cây xum xuê, những ngôi nhà xinh xắn,… Từ xa xưa Vĩ Dạ đã đi vào thơ ca bởi vẻ đẹp thi vị, tiêu biểu cho cảnh sắc xứ Huế:

“Du khách bảo đây vườn kín đáo

Đây xứ mơ màng đây xứ thơ”

Hay nhà thơ Bích Khê đã từng viết:

“Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn

Biếc tre cần chúc không buồn mà say”

Mạch thơ như một dòng tâm tư bất định, khước từ vai trò tổ chức chặt chẽ vốn là đặc trưng của “Thơ điên” với những “đứt đoạn”, “cóc nhảy”. Có thể thấy thi phẩm được dệt bằng một chuỗi hình ảnh liên kết với nhau rất bất định. Vừa mới ngoại cảnh (phần đầu) thoắt đã tâm cảnh (phần sau). Hãy còn tươi sáng (Vườn thôn Vĩ) chợt đã âm u (cảnh sông trăng và sương khói)… Những mảng thơ phản trái nhau cứ dính kết vào nhau ngỡ như rất thiếu trật tự, “vô kỉ luật”. Nhưng nhìn kĩ sẽ thấy đó chỉ là sự chuyển kênh quá mau lẹ từ “hàng chữ gấm” sang “đôi mắt mờ lệ”. Dường như Hàn Mặc Tử đưa ta từ cõi thực đến cõi mộng rồi chìm đắm vào hư vô lúc nào không hay.

Câu hỏi mở đầu chủ yếu là thanh bằng khiến lời thơ thật nhẹ nhàng, êm ái như nghe văng vẳng bên tai giọng nói của người con gái xứ Huế ngọt ngào:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Đại từ “anh” gợi cho ta nhiều cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng đó là sự phân thân của nhân vật trữ tình, thi nhân tự vấn lòng mình “sao lâu quá rồi mà chưa một lần về thăm thôn Vĩ?” như nhắc nhở đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà cũng chẳng biết giờ đây có còn cơ hội để thực hiện nó nữa không, ấy là về lại với thôn Vĩ, về thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Có người lại cho rằng đó là lời của Hoàng Cúc đang hỏi dịu dàng, kín đáo nhưng ẩn sau trong đó là lời trách móc “Thôn Vĩ đẹp sao anh chẳng về chơi?”.

Hàn Mặc Tử dùng hai chữ “về chơi” bởi nó mang sắc thái thân mật, gần gũi thay vì chỉ mang vẻ xã giao, có khoảng cách như hai chữ “về thăm”. Chẳng phải vô tình mà nhà thơ viết “không về chơi thôn Vĩ?”, “không về” khác hoàn toàn với “chưa về”. Nó dường như khép lại mọi nẻo đường về thôn Vĩ, cộm lên biết bao xót xa vì giờ đây thôn Vĩ chỉ còn trong hoài niệm của quá khứ xa vời. Hố sâu ngăn cách giữa Hàn Mặc Tử với thế giới ngoài kia chính là căn bệnh hiểm nghèo khiến cho nhà thơ vô cùng cô đơn, tuyệt vọng. Hơn nữa, hai chữ “không về” còn thể hiện rõ được tình cảm một phía của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc. Đó là dòng sông một bờ mà phía bờ đó lại xuất phát từ Hàn Mặc Tử:

“Dòng sông anh tự đặt

Xin mùa thu chiếc lá làm thuyền

Có một dòng sông trôi vào lãng quên

Nước trong như nước mắt

Điều chưa thấy mà sao đã mất

Có một dòng sông chỉ có một bờ

Phía bờ kia quay mặt

Dòng sông anh không qua được bao giờ”

Câu hỏi mở đầu mang nhiều sắc thái khác nhau, hỏi để mà trách nhưng lời trách thân mật, đáng yêu. Trách để mời mọc, để tiếc nuối. Thanh trắc duy nhất của câu thơ rơi vào chữ “Vĩ” ở cuối cùng khiến cho nỗi buồn như đằm xuống thành nỗi nhớ vô hạn về cảnh và về người thôn Vĩ. Câu hỏi tu từ như cái cớ để nhà thơ gợi lại vẻ đẹp thi vị, nên thơ của thôn Vĩ Dạ.

Bắt đầu bằng câu hỏi đầy ẩn ý đã giúp nhà thơ mở ra khung cảnh thiên nhiên thôn Vĩ tinh khôi, sống động, tươi đẹp và căng tràn sức sống:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Đọc thơ Tử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một môtip ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêm bao… Dù mỗi nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo mà Tử muốn gọi là “chốn nước non thanh tú”. Nhắc đến Vĩ Dạ, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tâm trí nhà thơ là hình ảnh hàng cau, nó mang vẻ đẹp rất đặc trưng của nhà vườn xứ Huế. Cau là loài cây thanh nhã, xinh xắn với thân hình thẳng tắp, tán lá xanh tươi. Cau còn là loài cây thân thuộc với làng quê Việt Nam – nơi có tập tục ăn trầu từ ngàn đời.

Nguyễn Bính đã đặt mối tình bình dị của đôi trai gái thôn quê trên nền phong cảnh có hình ảnh hàng cau quen thuộc:

“Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”

Bởi lẽ là loài cây cao nhất trong vườn Vĩ Dạ, cau được đón những tia nắng đầu tiên trong một ngày mới tràn đầy sức sống. Thơ Mới thường đem đến cho người đọc những cấu tứ, thi liệu mới mẻ. Ta đã bắt gặp trên diễn đàn thơ Mới nhiều màu nắng lạ, đó là cái nắng chang chang trong bài thơ “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử:

“Chị ấy năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”

hay “Nắng trở chiều” trong thơ Xuân Diệu:

“Con đường nhỏ nhỏ nắng xiêu xiêu

Lả lả cành hoang nắng trở chiều”

Còn ở đây ta lại bắt gặp hình ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên”. Từ “nắng” được lặp lại hai lần cho ta cảm giác thôn Vĩ đang bừng sáng lên trong ánh bình minh. Đó không phải là ánh nắng nhạt buồn của hoàng hôn hay ánh nắng chói gắt của buổi trưa mà là ánh nắng mới mẻ, trong sáng và tinh khôi của buổi sớm mai làm ta liên tưởng đến câu thơ của Hồng Nguyên: “Có nắng chiếu đột kích mấy hàng cau”. Chi tiết ấy không chỉ gợi lên cảm giác trong trẻo, tươi tắn mà còn mở ra không gian thôn Vĩ trong buổi sớm mai, là khoảnh khắc diệu kì khi làn sương mỏng trên lá cau chưa kịp từ biệt sau một đêm dài thì thi nhân đã bắt gặp những tia nắng ban mai tô điểm, đó là nắng ướt, nắng tươi, nắng long lanh, nắng thiếu nữ.

Cây cau xuất hiện trong vườn thôn Vĩ như cây thước của thiên nhiên để đo mực nắng như thầy Chu Văn Sơn từng viết: “Đốt cau như thước đo mực nắng trong vườn”. Phải yêu lắm, say lắm vẻ đẹp của đất trời, của thiên nhiên xứ Huế thi nhân mới chụp được khoảnh khắc đặc biệt ấy vào tâm trí mình. Nắng dường như làm bừng sáng cả khoảng trời kí ức của nhà thơ, nó lưu lại trong tâm hồn thi sĩ những kí ức không thể nào phai. Pautopxki từng nói: “Niềm vui của nhà văn chân chính là được làm người dẫn đường đến xứ sở của cái đẹp”, bước vào thơ Hàn ta như được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt sắc đến cực tả của thiên nhiên cũng như con người.

Ở câu thơ tiếp theo, thi nhân đã chuyển điểm nhìn từ bầu trời tràn ngập ánh nắng xuống khu vườn phủ đầy một màu xanh lá, khu vườn ấy như hóa thành một viên ngọc lớn trong đôi mắt của thi nhân:

“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Câu thơ như một tiếng reo vui đầy thích thú thể hiện sự ngạc nhiên đến bất ngờ của tác giả trước vẻ đẹp của thôn Vĩ. Câu thơ sử dụng một loạt các từ trong cùng một trường từ vựng: “mướt”, “xanh”, “ngọc” để miêu tả màu xanh non tơ, trẻ trung, tươi mới. Vườn Vĩ Dạ sau một đêm những chiếc lá cây được sương đêm lau chùi sạch sẽ giờ đây bỗng bừng sáng lung linh. Tác giả khéo léo sử dụng từ cảm thán “quá” – không chỉ là từ chỉ mức độ gợi vẻ đẹp thanh sạch của cây lá, nhà vườn xứ Huế mà còn bộc lộc cảm giác ngạc nhiên, đầy ngưỡng mộ, cùng với đó việc dùng tính từ “mướt” chứ không phải là “mượt” vì tính từ ấy ngoài chỉ sự nhẵn bóng còn gợi vẻ óng ả, mỡ màng.

Hai thanh trắc đứng liền nhau trong cụm từ “mướt quá” đã tạo ra ấn tượng mạnh về một tiếng reo, một cảm xúc bồng bột không thể kiềm chế. Vẻ đẹp của vườn cây còn được miêu tả qua phép so sánh độc đáo “xanh như ngọc” – đó là cách nói ước lệ nhằm lí tưởng hóa đối tượng thẩm mĩ, gợi ra màu xanh trong mướt, quý giá, cả vườn thôn Vĩ hiện lên như một viên ngọc óng ánh sắc xanh và tỏa ra không gian một màu xanh long lanh ánh sáng. Dường như trong thơ Hàn rất ưa dùng những vật liệu cao sang nhất là giai đoạn cuối đời.

Các trang thơ đều tràn ngập những vàng, gấm, lụa, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược… đặc biệt là ngọc được so sánh ở mức tuyệt đối:

“Đức tin thơm hơn ngọc

Thơ bay rồi thơ bay”

hay:

“Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc

Cả một mùa xuân đã hiện hình”

Nói về màu xanh ngọc bích, trước đó Xuân Diệu đã từng viết:

“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá”

Sau này Nguyễn Tuân cũng dùng màu xanh ấy để nói về màu nước của con sông Đà vào mùa xuân. Tiếp đến là cách sử dụng đại từ phiếm chỉ “vườn ai”, vườn Vĩ Dạ vườn nào mà chẳng đẹp, vườn nào mà chẳng tươi nhưng để có được vẻ đẹp khiến thi nhân say đắm như vậy chỉ có thể là vườn của người mình thương, mình nhớ. Hai chữ “vườn ai” không phải là câu hỏi để tìm chủ nhân khu vườn mà chỉ là cách thể hiện niềm vui sướng, niềm bất ngờ khi gặp lại dẫu chỉ là trong tưởng tượng mà thôi. Đại từ phiếm chỉ như mang một sắc thái mơ hồ, mang lại cho cả câu thơ một chút nhớ nhung, một chút ngậm ngùi và một chút xa vắng bởi tất cả đã thuộc về thế giới khác, thế giới của ai đó ngoài kia chứ không còn thuộc về mình nữa…

Cuối cùng Hàn Mặc Tử khép lại khổ thơ bằng một nét vẽ thi vị về cảnh và người thôn Vĩ:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Từ một hình ảnh thật trong tấm bưu thiếp, Hàn Mặc Tử đã sáng tạo nên một hình tượng nghệ thuật độc đáo, thơ mộng, đẹp đẽ. “Mặt chữ điền” chỉ những người có khuôn mặt vuông vắn, đầy đặn ứng với đức tính thật thà, phúc hậu, Khuôn mặt ấy trở nên duyên dáng khi được những cành trúc tô điểm, bóng dáng con người làm cảnh Vĩ Dạ vốn đã đẹp nay lại càng đẹp hơn trong sự hài hòa giữa cảnh và người, giữa tĩnh và động qua tạo nên nét đẹp e lệ, kín đáo, duyên dáng của con người xứ Huế. Hàn Mặc Tử đã hơn một lần nói về trúc và thiếu nữ. Khóm trúc như tỏa bóng xanh mát che chở cho mối tình đẹp đang nảy nở:

“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc

Nghe ra ý vị và thơ ngây”

Song có lẽ đây là câu thơ gây nhiều tranh cãi bởi khuôn mặt chữ điền kia là đàn ông hay phụ nữ? Lối tạo hình của nó là cách điệu hay tả thực? Dường như vườn thơ Hàn là một tháp ngà kiêu sa, tráng lệ, ánh hào quang của nó tỏa sáng chói lòa nhân thế… bởi lẽ những hình tượng thơ của ông khiến người đọc khó đến gần, khó nắm bắt hiểu, nhiều tầng nghĩa và cũng có nhiều cách hiểu. Có người cho rằng đó là khuôn mặt đôn hậu của người con gái xứ Huế, có người lại cho rằng đó là khung cửa sổ, là cổng nhà quý phái hay đặc biệt hơn cả đó chính là khuôn mặt của tác giả.

Tìm trong thơ Hàn, sẽ thấy đây là lối tạo hình khá phổ biến, và cái nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào thưa, bờ liễu… thường là hình bóng tự hoạ của Tử, mà Tử vẫn có cái “thói” tự vẽ mình một cách rất kiêu hãnh:

“Xin mời chàng tài hoa thi sĩ đó

Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu”

Hàn Mặc Tử tự vẽ mình lên trang thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang qua cuộc đời”, “kẻ đứng cách xa hàng thế giới”, là vị “khách xa lạ”, là kẻ đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần thế. Phải chăng đó là sản phẩm của mặc cảm chia lìa?

Đắm chìm trong cảnh sắc tươi đẹp của vườn thôn Vĩ chỉ là khoảnh khắc với Hàn Mặc Tử, để rồi khi tác giả chợt nghĩ đến hố sâu ngăn cản giữa mình với thôn Vĩ bởi chứng bệnh nan y như đang vẫy gọi án tử hình. Cũng vì vậy bài thơ đã có sự chuyển ý, “bật cóc” rất nhanh từ cảnh sắc vui tươi đã chuyển sang đau thương u hoài:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Cái lối chuyển tứ nhanh, có khi rất xa, có khi rất kì lạ song đó là một đặc điểm của thơ Hàn và khi “những đột xuất ấy lặp đi lặp lại với tần số cao sẽ tạo nên sự khó hiểu” (Vũ Quần Phương), quả thực là như vậy. Cảm nhận về hai khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ ta thấy bốn câu thơ khổ hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một, cả khu vườn hay khuôn mặt chữ điền kia cũng không hề được nhắc lại. Cảnh bây giờ đã hoàn toàn khác, nhưng cái tâm trạng vẫn một xa cách, vẫn một vắng vẻ.

Thấm đượm trong lời thơ là cảm giác buồn vắng, sầu tủi, chia lìa. Nhịp thơ 4/3 chậm rãi như ngắt câu thơ làm hai nửa, âm điệu dàn trải như đưa người đọc chìm đắm vào nỗi buồn hiu hắt cùng thi nhân, câu thơ khiến ta liên tưởng đến những vần thơ của Thế Lữ:

“Anh đi đường anh tôi đường tôi

Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi.”

Nhưng nếu như Thế Lữ nói trực tiếp lời nhân vật trữ tình thì Hàn Mặc Tử lại mượn hình ảnh để nói lên tiếng lòng. Dường như cảnh vật đang bắt đầu chia lìa, gió và mây đều có đường đi riêng cũng giống như sự chia li của mối tình đơn phương, vô vọng sớm muộn cũng tàn. Điệp từ “gió” và “mây” đã càng tô đậm sự chia lìa ấy. Gió thổi mây bay là quy luật tất yếu của tự nhiên nhưng cái tưởng như không thể chia cách ấy nay lại xa cách chia lìa, mỗi thứ một phương, gió một đường, mây một nẻo.

Những hình ảnh được lặp lại không phải để nhấn mạnh cường độ của gió hay sắc độ của mây mà là để tạo ra một khoảng không gian khép kín chia rẽ đôi bờ xa cách. Nỗi đau đến tốt cũng đã thấm đượm vào cả không gian khiến cho dòng nước sông Hương cũng nhuốm màu tâm trạng. Phép nhân hóa “Dòng nước buồn thiu” vừa làm hiện lên một dòng sông phẳng lặng như không trôi chảy, vừa gợi như làm ngưng đọng nỗi buồn. Thêm vào đó là động thái “lay” của hoa bắp chính là một nét buồn phụ họa vào khung cảnh bởi bản thân nó vốn dĩ chẳng mang nghĩa buồn hay không vui, ta cảm thấy dường như thật nhẹ nhàng, thật buồn.

Nghệ thuật lấy động tả tĩnh đã gợi lại nỗi buồn đến tê tái, thiên nhiên Huế vốn được ban tặng vẻ đẹp bình lặng, trầm tư mà giờ đây sàng lọc qua tâm hồn Hàn Mặc Tử đã trở thành nỗi buồn sâu tận đáy lòng. Có phải có một chữ “lay” buồn như thế từ bông sậy của dân ca đã xuôi theo ngọn gió thời gian mà đậu vào thơ Tử:

“Ai về giồng dứa qua truông

Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em”

Có phải chữ “lay” ấy lại trôi nổi thêm nữa để đến với hiện đại nhập vào lá ngô của thơ Trúc Thông:

“Lá ngô lay ở bờ sông

Bờ sông vẫn gió người không thấy về”

Hàn Mặc Tử nhìn thấy hoa bắp lay như nhận ra sự phiêu tán, chia lìa. Tất cả gió, mây, dòng nước đều đang lưu chuyển, đều đang rời bỏ chốn này mà đi hết và bỏ rơi lại hoa bắp. Chỉ còn một mình, nó đang cố lay động như một sự níu giữ, một lưu luyến trong vô vọng của kẻ bị chia lìa.

Nếu cõi thực của kí ức trong khổ 1 thật trong trẻo, tươi tắn và rực rỡ với ánh nắng ban mai ấm áp thì đến khổ hai đã tràn ngập ánh trăng làm vạn vật mờ ảo, nhạt nhòa, lạnh lẽo như thực, như mơ:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Thơ Hàn Mặc Tử ngày là cõi nắng, đêm là cõi trăng. Hàn rất mê trăng, nó đã đi vào vườn thơ ông thật ám ảnh như một nhân vật huyền thoại, như một nơi chốn để tâm hồn thi nhân được phiêu du, thoát tục:

“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi”

hay:

“Không gian đắm đuối toàn trăng cả

Anh cũng trăng mà em cũng trăng”

Còn ở đây Hàn Mặc Tử đã gợi ra một hình ảnh thật lạ, đó là một thế giới huyền diệu, nơi ấy có con thuyền chở trăng và có một bến sông trăng. Chỉ có trong mộng thì sông mới là sông trăng, thuyền mới chở được đầy trăng, đúng như lời nhận xét của Bích Khê: “Hàn Mặc Tử co con mắt rất mơ, rất ảo nhìn vào sự thực thì hóa sự thực hóa thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại biến thành huyền diệu”. Câu thơ của Hàn làm ta nhớ tới câu thơ rất mực tao nhã, phong lưu của Nguyễn Công Trứ:

“Gió trăng chứa một thuyền đầy

Củi kho vô hạn biết ngày nào vơi”

Cách diễn đạt phiếm chỉ “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” tạo ra cảm giác bóng tối lạnh lẽo như bao trùm lên dòng sông, lên cảnh vật, thi sĩ như khát khao có con thuyền chở trăng về, phải chăng là để chở những khát khao hy vọng đến khắc khoải về một sự gặp gỡ và hòa hợp? Chữ “kịp” trong câu thơ thứ 2 càng thấm thía nỗi tiếc nuối, xót xa, lo sợ khi luôn biết rằng chẳng bao giờ kịp nữa nhưng ông vẫn cố hỏi khiến tâm trạng trở nên bồn chồn, chua xót, bất lực. Hỏi chỉ để tiếc, để tự dày vò bản thân mình mà thôi. Dường như, nếu trăng không về “kịp” thì kẻ bị số phận bỏ rơi bên rìa cuộc đời này, bỏ dưới trời sâu này sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương:

“Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?

Sao bông phượng nở trong màu huyết,

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”

Cụm từ “tối nay” càng làm thi nhân thêm khắc khoải bởi khi tối là khoảng thời gian cuối cùng của một ngày, “tối nay” lại mang ý nghĩa xác định khiến quỹ thời gian vốn ngắn ngủi nay lại càng ngắn ngủi. Chỉ có “tối nay”, chỉ còn “tối nay” nữa mà thôi, dường như với Hàn, sống là chạy đua với thời gian. Nếu như Xuân Diệu chạy đua với thời gian để sống tận hưởng và tận hiến hết mình, ông chỉ sợ thời gian cướp đi tuổi trẻ cũng như tình yêu thì ở Hàn Mặc Tử đang đứng ở giữa hai bờ sinh tử, lưỡi hái của tử thần đã huơ lên lạnh buốt sau lưng bởi vậy gã lo sợ từng khắc từng giờ sẽ sớm vĩnh viễn rời xa cõi đời. Trong cảnh ngộ ấy, trăng dường như là điểm tựa duy nhất, là bấu víu cuối cùng của kẻ cô đơn đang chới với trong mơ hồ. “Thơ là sự lên tiếng của thân phận”, thật trớ trêu, định nghĩa ấy hoàn toàn đúng với Hàn Mặc Tử.

Đọc thơ Hàn Mặc Tử đôi khi khiến ta liên tưởng đến những vần thơ của Lamartine, tứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc phát ngẫu, cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào trong cõi sương mù bởi vậy cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn đó chính là kiểu thơ “Phong cảnh nội tâm” như trong bài “Tình hồ” có viết:

“Dưới đá sâu lòng hồ gào thét

Tự vỗ mình đau xiết tâm can

Gió xua bọt sóng miên man

Trên đôi chân đẹp của nàng dấu yêu.”

Thơ Hàn cũng vậy, mặc dù đang sống với cảnh mộng và sống với người trong mộng, câu thơ đang bồng bềnh phút chốc như trở nên hụt hẫng khi thi sĩ rơi về hiện thực của cuộc đời:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”

Khi không còn ánh nắng ấm áp, cũng không còn ánh trăng mộng ảo thi nhân đưa người đọc tới một cõi xa xăm, không gian đã chuyển sang hoàn toàn thế giới mộng ảo. Màu sắc, âm thanh, đường nét đều mờ nhòa, chỉ còn một bóng hình ai đó đang chập chờn xuất hiện, phải chăng đó là hình bóng xa xôi của một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào… Chữ “mơ” đầu câu thể hiện niềm mong ước cháy bỏng của thi nhân muốn được cảm nhận, gần gũi với những hình bóng, hơi ấm của con người và cuộc đời nơi trần thế song điệp từ “khách đường xa” trong hai vế câu như tái hiện hình ảnh con người nơi trần thế đang xa dần, mờ khuất dần trong ánh nhìn tiếc nuối mà vô vọng của thi nhân.

Hình ảnh người con gái xứ Huế xuất hiện trực diện bằng tiếng “em” rất mơ hồ. Em gần gũi đấy nhưng mà sao lại quá đỗi xa vời? Gần gũi vì đây là hình ảnh thường trực trong cõi lòng thi nhân, xa vời vì giữa hai người là khoảng cách thời gian cùng màn khói sương của quá khứ mờ ảo hay là vì xuất phát từ sự mặc cảm tự ti trong tình yêu:

“Em lớn quá làm sao anh giữ nổi

Nên lúc nào em muốn cứ xa anh!”

(Sechxpia)

Dường như bóng dáng em xa khuất chỉ còn đọng lại sắc áo trắng – một vẻ đẹp thánh thiện, tinh khôi đúng như Huy Cận từng viết:

“Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,

Hôm xưa em đến, mắt như lòng.”

Hàn Mặc Tử muốn cực tả sắc trắng trong câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra” ở độ tuyệt đối, tột cùng. Nó choáng cả không gian làm lập lòe cả thị giác. Ta dễ thường thấy trong thơ Tử hình bóng giai nhân bao giờ cũng là hiện thân sống động của vẻ đẹp trinh khiết xuân tình và gắn vào làm một với hình bóng họ là sắc áo trắng tinh khôi: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”, đôi lúc khiến câu thơ trở nên kì quặc: “chết rồi xiêm áo trắng như tinh”. Câu thơ của Hàn làm ta liên tưởng tới màu trắng trong thơ Xuân Quỳnh khi thi sĩ cảm thấy thời khắc xa cách cuộc đời đã đến gần:

“Người ta khuyên lúc này đừng suy nghĩ

Mà cũng đừng xúc động, lo âu.

Phía trước, phía sau, dưới đất, trên đầu

Dường trong suốt một màu vô tận trắng.”

Hình ảnh “khách đường xa” đã trở về trong cõi mộng khiến nhà thơ ngơ ngẩn, bâng khuâng, Hàn như bất lực trước cuộc đời khi thấy nó mỗi ngày một xa dần tưởng như nắm bắt được rồi lại tuột ra khỏi tay…

Say đến đâu rồi cũng phải tỉnh, mơ mộng đến mấy rồi cũng phải quay lại thực tại, Hàn Mặc Tử cũng vậy, ông đã đến lúc phải quay về với thực tại u ám dù chẳng muốn chút nào, ấy là chốn lãnh cung ảm đạm mờ mịt chẳng biết tương lai ngày mai ra sao:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?”

Cụm từ “ở đây” đã vẽ ra hai không gian hoàn toàn đối lập. “Ở đây” là nơi nhà thơ đang sống, là không gian nghiệt ngã và tăm tối đang bủa vây xung quanh Tử tựa một lãnh cung nơi không có “niềm trăng và ý nhạc”, nơi có “người cung nữ nhớ thương vua”. Không gian ấy bây giờ chìm trong sương khói mông lung, lạnh lẽo của xứ Huế buồn lắm nắng, nhiều mưa. Dường như bóng dáng của người đang dần nhòa mờ “nhân ảnh” làm ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Gia Thiều:

“Con quay búng sẵn lên trời

Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”

Dù tất cả đều chìm vào ảo ảnh nhưng tâm hồn thi nhân vẫn luôn băn khoăn, day dứt với một câu hỏi:

“Ai biết tình ai có đậm đà?”

Từ cõi hư vô ấy, câu hỏi cuối cùng vang lên như một nỗi xót xa, tuyệt vọng của một con người tha thiết mê đắm với cuộc đời, khao khát bộc lộ tình yêu đời và khắc khoải tìm kiếm sự đồng cảm, đồng điệu. Câu thơ sử dụng đến hai lần đại từ phiếm chỉ “ai” gợi nhiều liên tưởng đến mối giao cảm của nhà thơ với người con gái xứ Huế. Chẳng biết thôn Vĩ có hiểu cho mối tình đơn phương mà tha thiết đó không? Chẳng hay người thôn Vĩ có tình cảm đậm đà với mình không? Đó là câu hỏi của tình yêu và cũng là câu hỏi muôn thuở của tất cả những người đang yêu tha thiết như nữ sĩ Xuân Quỳnh đã từng viết:

“Anh có nghe hoa rơi

Quanh chỗ mình đứng đó

Hoa ơi sao chẳng nói

Anh ơi sao lặng thinh

Đốt lòng em câu hỏi:

Yêu em nhiều không anh?”

Câu thơ của Tử rất mơ hồ, một câu hỏi đã hàm ý vô vọng nhưng vẫn thể hiện được niềm khao khát của thi nhân. Hai chữ “đậm đà” khép lại bài thơ như muốn nói dẫu vô vọng nhưng thi nhân vẫn khao khát, vẫn mong ai đó biết và thấu hiểu cho tình yêu, cho sự đậm đà của tình người.

Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng nhận định: “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình”. Biết bao ống kính thiên văn đua nhau chĩa về “ngôi sao chổi” kì lạ ấy, song tiếc thay, cái vừng sáng vừa trong trẻo, vừa chói lói, vừa ma quái phát ra từ ngôi sao có sức cuốn hút bao nhiêu cũng có sức xô đẩy bấy nhiêu. Dù xuất hiện trên thi đàn văn học Việt Nam vỏn vẹn 12 năm, song những gì ông để lại cho hậu thế là cả một vườn thơ “rộng không bờ, không bến, càng đi xa càng ớn lạnh”, càng thấy “nhọc” bởi lớp lớp tầng nghĩa của những vần thơ vẫn chưa được lật mở.

Ba câu hỏi ở ba khổ thơ là ba sắc thái tình cảm hoàn toàn khác nhau. Câu hỏi thứ nhất là để nhớ mong, tiếc nuối, câu hỏi thứ hai là khắc khoải, lo âu và câu hỏi cuối cùng cho ta thấy khát khao cũng như hoài nghi của thi nhân. Ba câu hỏi như sợi dây vô hình gắn kết các khổ thơ trong mặt cảm xúc thống nhất, bài thơ thể hiện một tâm hồn rạo rực tình đời, tình người tha thiết hướng về cuộc sống đến khắc khoải của thi nhân. Bài thơ đã để lại một bức tranh ngoại cảnh và tâm cảnh thật đẹp vương vấn mãi trong lòng người đọc như nhà thơ Thu Bồn đã viết:

“Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ trong mơ

Em rất thực mà nắng thì mờ ảo

Xin đừng lầm em với cố đô”

(Nguồn fanpage: Thích văn học)

2. Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ bài số 2

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là tác phẩm nổi bật nằm trong tập “Thơ Điên” đại diện cho hồn thơ mãnh liệt và luôn sáng tạo dẫu xa lạ với đời thực của Hàn Mặc Tử. Sự sáng tạo ấy thể hiện ngay ở phần mở đầu của bài thơ khi tác giả lại chọn một câu hỏi tu từ để dẫn dắt người đọc vào bức tranh thiên nhiên đầy tâm sự của Vĩ Dạ.

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Câu thơ đầu là lời tự sự chạy theo dòng cảm xúc của chủ thể trữ tình. Đôi chút trách móc, giận hờn cũng là nghệ thuật để tôn lên nét duyên của người con gái. Hoặc có chăng đây chính là lời tự vấn khi từ “anh” được dùng như đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất thể hiện sự nuối tiếc muốn giãi bày. Chính vì giọng thơ rất duyên Đây thôn Vĩ Dạ cảm nhận được đượm chút buồn để rồi kết thúc bằng một dấu chấm hỏi lưng chừng.

Có thể bạn quan tâm  Giáo Trình Dạy Bé Chuẩn Bị Vào Lớp 1 Bộ tài liệu cho bé chuẩn bị vào lớp 1 năm 2022 - 2023 Tập đọc, tập viết, tập đếm, luyện chữ cho bé

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ bắt đầu hiện lên rõ nét qua từng hình ảnh thơ cụ thể của tác giả. Từ “nắng” được lặp lại hai lần trong cùng một câu thơ khiến cả thôn Vĩ Dạ như được tắm mình trong màu nắng vàng ấm áp, ấm như chính lòng người nơi đây. Nhà thơ đã đặc biệt miêu tả về hình ảnh “nắng mới lên” như muốn gợi đến sự thanh khiết, tinh tươm của cảnh vật chốn quê nhà.

Bức tranh thiên nhiên Vĩ Dạ không chỉ có “nắng hàng cau” trải dài từng vệt ấm mà còn tươi mới với màu xanh của cây cối nơi đây. Màu xanh được so sánh với màu ngọc như một phép nghệ thuật khéo léo tôn lên vẻ trân quý của bức tranh thiên nhiên xứ mộng mơ. Câu thơ thứ ba nổi bật lên nhờ vào giọng thơ đầy sắc thái ngạc nhiên pha lẫn thích thú của tác giả. Chính vì thế mà người đọc như được bước vào không gian nghệ thuật mà nhà thơ xây lên.

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Thiên nhiên dẫu đẹp đến đâu thì cũng sẽ trở nên vô hồn nếu thiếu đi bóng dáng con người. Do đó mà câu thơ cuối của khổ thơ thứ nhất đã làm sống dậy hồn của cả đoạn thơ khi vẻ đẹp con người được miêu tả hòa quyện cùng cảnh vật thiên nhiên.

Ở đây, tác giả đã vô cùng tinh tế khi đưa hình ảnh con người vào bức tranh thiên nhiên một cách thấp thoáng, vừa thực vừa ảo với gương mặt chữ điền vốn là biểu tượng của sự phúc hậu và vừa gần gần vừa xa bởi sự che ngang của lá trúc. Tại sao lại là lá trúc mà không phải bất kì loại lá nào, vì trúc với dáng lá thanh mảnh tượng trưng cho cái đẹp nhẹ nhàng của thiên nhiên.

Có thể nói, khổ thơ đầu chính là một bức tranh thiên nhiên đẹp đúng với vẻ mộng mơ của xứ Huế. Từ đó, gợi lên nỗi niềm nhớ thương về quê hương của nhà thơ.

Khổ thơ thứ hai là sự chuyển biến nội tâm hoàn toàn của nhân vật trữ tình thông qua tứ thơ vận động theo cảm xúc.

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Hai câu thơ trên vốn tả cảnh nhưng lại nặng trĩu tâm tình khi tác giả mượn hình ảnh gió và mây để cụ thể hóa tâm sự nơi lòng mình. Gió và mây muôn đời vẫn quấn quýt bên nhau nhưng ở đây hai sự vật này lại chia đôi ngã “gió theo lối gió” để rồi bỏ lại “mây đường mây”. Tiếp đến là hình ảnh hoa rơi nước chảy càng khiến lòng người thêm não nề bởi cảnh vật sao mà vô tình thế khiến lòng người cũng chẳng mấy khá hơn. Đây thôn Vĩ Dạ cảm nhận được mối tình đơn phương của chính chủ thể, chưa gặp đã vội chia lìa:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?”

Trăng với Hàn Mặc Tử là đôi bạn tri âm tri kỉ, trong thơ ông bao giờ cũng có cả một miền trăng như mượn hình ảnh đó để mà giải tỏa niềm đau, chất chứa tâm sự. Qua hình ảnh “sông trăng” độc đáo, dòng sông Hương được nhà thơ miêu tả với tất cả vẻ đẹp đằm thắm, thơ mộng. Bút pháp tả thực mà như ảo của nhà thơ đã khiến dòng sông quê hương không chỉ là một dòng nước mà đây chính là một dòng ánh trăng lấp lánh trải dài.

Kết thúc khổ thơ, Hàn Mặc Tử lại đặt một dấu chấm hỏi lưng chừng nhưng khắc khoải hi vọng. Từ “kịp” được tác giả sử dụng rất đắt, thể hiện tâm trạng lo âu của chính nhà thơ. Bởi với một người bình thường, nếu không kịp vào tối nay thì sẽ còn những đêm khác, nhưng với nhân vật trữ tình này, đêm nào cũng có cảm giác là đêm cuối và nếu không kịp thì có lẽ ông sẽ ra đi mãi trong sự nuối tiếc.

Qua đó thể hiện rõ nét bi kịch của chính cuộc đời ông, đó là nỗi lòng khắc khoải tìm kiếm sự tri âm, thèm muốn được giao cảm với đời nhưng lại phải chống chọi với nỗi đau thể xác trong quỹ thời gian hạn hẹp còn lại của đời mình.

Bút pháp lãng mạn tượng trưng của ông không chỉ dựng lên không gian nghệ thuật độc đáo mà qua ngôn ngữ điêu luyện ông còn gửi gắm tâm trạng của chính mình.

Từ giọng thơ man mác, khắc khoải của khổ thơ thứ hai, Hàn Mặc Tử đã chuyển thành giọng gấp gáp ở khổ thơ cuối cùng.

“Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá, nhìn không ra”

Bị cuộc đời tuyệt giao nhưng nhà thơ quyết không bao giờ chịu tuyệt tình, càng bị bỏ rơi ông càng tha thiết níu giữ dù đớn đau muôn phần. Lời gọi “Khách đường xa” được lặp lại như tiếng nấc nghẹn ngào đầy hụt hẫng của tác giả. Ông chơi vơi khi nghĩ về người thương nơi quê nhà để rồi phải mặc cảm trong sự chia li, tưởng chừng dáng người vừa hiện lên nhưng lại vội biến mất.

Hàn Mặc Tử đã cho người đọc cùng ông chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nhân vật trữ tình trong quan niệm thơ mới của mình. Nếu như sắc trắng ở văn học trung đại là màu của sự tang thương, mất mát thì trong văn học hiện đại, nhà thơ đã nhắc đến nó như màu của sự tươi mới, tinh khôi.

Quan niệm văn chương mới mẻ này đã tạo nên một vẻ đẹp “nhìn không ra”, rất đẹp nhưng xa vời chẳng dễ dàng nắm bắt. Đây vốn là cái đẹp đáng để tôn thờ nhưng bi kịch thay lại tưởng chừng như sắp tuột khỏi tầm với của ông.

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà.”

Đắm mãi trong giấc mơ về con người Vĩ Dạ, nhà thơ cuối cùng cũng phải quay về với thực tại đầy “sương khói”. Đây là sương khói của Huế thương hay là sương khói của dòng thời gian khiến mọi thứ trở nên “mờ nhân ảnh”. Dù hiểu theo cách nào thì ta cũng dễ dàng cảm nhận được rằng nhà thơ vẫn muốn thoát mình khỏi nỗi cô đơn, sự đau đớn giày xéo mãi một thân xác bệnh tật.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” kết thúc bằng câu hỏi đầy khắc khoải vô cùng thương xót. Động từ phiếm chỉ “ai” vang lên khiến lòng người lắng đọng bởi cảm giác hụt hẫng của cô gái ấy hoặc cũng có thể của chính nhà thơ. Dù bài thơ khép lại bằng nỗi buồn mênh mang nhưng lại cháy lên mãnh liệt ngọn lửa yêu đời, yêu người nhà thơ.

Đây thôn Vĩ Dạ cảm nhận bằng một hồn thơ mãnh liệt nặng tình với cuộc đời, với cái nhìn mới mẻ của mình Hàn Mặc Tử đã mang một góc Huế thân thương dệt cùng nỗi lòng đầy tâm sự của mình. Trong cơn giằng xé giữa tâm hồn và thể xác đớn đau, nhà thơ đã mang đến cho chúng ta những vần thơ đầy xúc cảm, rung lên từng hơi thở nghẹn ngào từ sự đồng điệu của nhà văn và bạn đọc.

Xem hướng dẫn chi tiết cách lập dàn ý phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử để có định hướng nội dung tốt hơn cho bài văn của mình.

3. Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ bài số 3:

Hàn Mặc Tử là một hồn thơ mãnh liệt và có sức sáng tạo đặc biệt nhưng luôn quằn quại đau đớn vì một căn bệnh hiểm nghèo. Ông là tác giả tiêu biểu cho “trường phái thơ loạn” xa lạ với đời thực. Tuy nhiên, Hàn Mặc Tử cũng có những bài thơ thật tuyệt mĩ và trong trẻo lạ thường viết về thiên nhiên, đất nước và con người như Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín…

Đây thôn Vĩ Dạ được in trong tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử. Bài thơ được ông viết khi nhận được bức ảnh chụp về phong cảnh Huế kèm theo mấy lời thăm hỏi của người bạn gái có tên là Hoàng Cúc. Những kỉ niệm về vùng đất và con người xứ Huế được sống lại trong bài thơ. Lúc này, ở Quy Nhơn ông đã biết mình mắc bệnh hiểm nghèo. Vì vậy bài thơ là một bức tranh đẹp về thiên nhiên xứ Huế nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn da diết, bâng khuâng:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Câu hỏi Sao anh không về chơi thôn Vĩ có thể là câu tự vấn. Từ anh có thể là đại từ nhân xưng được dùng ở ngôi thứ nhất, mang tính chất giãi bày, thể hiện niềm nuối tiếc. Nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ đã tự trách mình sao lại không về chơi thôn Vĩ. Giọng thơ đượm buồn có pha chút ân hận.

Cảnh vườn cây đẹp trong nắng ban mai với cành lá mơn mởn ướt sương, ánh như ngọc được miêu tả trực tiếp, qua những hình ảnh cụ thể, sinh động:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Rồi con người xuất hiện:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

khiến cho thiên nhiên bỗng trở nên sinh động hẳn lên. Thiên nhiên như được thổi thêm một luồng sinh khí, tạo nên nét đẹp hài hòa trong giá trị tạo hình. Ở đây, câu thơ vừa miêu tả khuôn mặt chữ điền vuông vức đầy đặn ẩn chứa bên trong cảm giác hiền lành đã bị trúc trong vườn che khuất (cảnh thực) vừa như nói đến một trở lực ngăn cách tình người.

Sau vườn cây xứ Huế là thiên nhiên xứ Huế. Cảnh trời, mây, sông, nước ở đây thật đẹp, nhất là cảnh một dòng sông được tưới đẫm ánh trăng với con thuyền cũng đầy ắp ánh trăng. Nhưng tất cả đều thấm đượm nỗi buồn. Cách miêu tả thể hiện trạng thái ảo mộng của tâm hồn nhà thơ. Nếu như ở khổ thơ đầu, nỗi buồn chỉ lộ rõ ở một câu thì ở khổ thơ này, dường như nỗi buồn giăng trải ra ở khắp cả khổ thơ:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Câu thơ như xẻ ra làm hai diễn tả sự phân cách, li tán của thiên nhiên nhưng lại gợi ra sự chia ly của lòng người. Nó như lưỡi dao rạch vào nỗi đau của thân phận kẻ bị chia lìa.

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Nỗi buồn của thi nhân đã lan trải ra khắp không gian theo quy luật tâm lý người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du).

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ nên không khí hư ảo. Tâm trạng mộng mơ của thi nhân dường như đã cảm nhận được tất cả: sông trăng, bến trăng, thuyền chở trăng. Khổ thơ cho thấy con người nhà thơ rất cô đơn, đang khao khát được ai đó chia sẻ, tâm sự. Có chở trăng về kịp tối nay là một câu hỏi vừa như khắc khoải, bồn chồn, vừa như hy vọng chờ đợi một cái gì đang rời xa, biết có khi nào quay trở lại.

Tiếp tục nối mạch thơ trên, khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong không gian bao la của trời, mây, sông, nước đã thấm đẫm ánh trăng. Đó là sự hy vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi. Vẫn ở trong mộng ảo, vì vậy cảnh và người ở đây đều hư hư, thực thực. Đối với thi nhân thì tất cả chỉ là sự cảm nhận.

Nhà thơ mơ thấy một khách đường xa, cảm nhận rõ một bóng hình người con gái Huế thơ mộng song không thể nắm bắt được, thoắt ẩn, thoắt hiện, áo em trắng quá nhìn không ra.

Sự hụt hẫng đến cao độ, nhà thơ muốn bấu víu, cầm nắm mà không được vì cảnh đầy màu hư ảo lẫn khói mây:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Bóng hình của giai nhân mờ ảo trong sương, nhưng cũng có thể đó là ẩn ý của người viết. Phải chăng đây là biểu tượng của cái “không đi đến đâu” trong tình yêu của Hàn Mặc Tử:

Ai biết tình ai có đậm đà?

Một câu hỏi không rõ ngôi thứ, không cần sự trả lời nhưng người đọc cũng hiểu được ý nghĩa của nó, vì những khổ thơ đầu của bài thơ đã xuất hiện những cụm đại từ vườn ai, thuyền ai và những câu hỏi như thế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Có chở trăng về kịp tối nay?

Tâm trạng mong mỏi, khát khao bao nhiêu thì sự day dứt, buồn đau cũng tăng lên bấy nhiêu.

Tóm lại, cảnh trong Đây thôn Vĩ Dạ là cảnh của vườn quê sông nước xứ Huế. Cảnh đẹp, giàu sức sống, thơ mộng nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng, da diết. Cảnh ấy như là sự thể hiện biện chứng tâm hồn của một nghệ sỹ tài hoa nhưng đa tình, đa cảm. Mỗi khổ thơ là một câu hỏi, như một nỗi buồn day dứt lòng người. Vì vậy âm hưởng chung của bài thơ là buồn nhưng không bi lụy.

Bài thơ thể hiện một tâm trạng rất thật của nhà thơ và một tình yêu xứ Huế thiết tha. Những chi tiết hình ảnh, thủ pháp nghệ thuật, cấu tứ của bài thơ đều được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng chính tình cảm của mình.

So sánh liên hệ hai đoạn thơ trong Đây thôn Vĩ Dạ và Tây Tiến để thấy những đặc sắc khác biệt trong hai tác phẩm ở cách miêu tả thiên nhiên và cách thể hiện tình yêu thiên nhiên, đất nước.

4. Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ bài số 4

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ nổi bật trong phong trào thơ mới. Các sáng tác thơ của ông là tiếng lòng của một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống, mang khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, khi tác giả đang phải điều trị bệnh phong. Bài thơ đã thể hiện nổi bật và sâu sắc một hồn thơ tha thiết với đời.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh vườn thôn Vĩ sáng trong nắng mai với cảnh sắc đẹp một cách bình dị:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Câu hỏi tu từ đầu tiên đặt ra cho độc giả nhiều thắc mắc. Có người cho rằng, câu thơ này xuất phát từ lời trách móc, nhưng đó hay chăng cũng là một lời mời nhẹ nhàng mà tình tứ. Câu hỏi gợi ra hình ảnh thôn Vĩ bình dị, tràn đầy sức sống trong tâm thức của nhà thơ. Đây cũng như là câu hỏi mà nhà thơ đã phân thân ra để hỏi chính bản thân mình. Hình ảnh nắng mới tràn đầy sức sống, khu vườn được hứng trọn những tia sáng tinh khôi nhất của đất trời. Màu sắc của khu vườn được lột tả qua từ “mướt”, qua đó gợi những sức sống mạnh mẽ của cảnh vật.

Không gian được tràn ngập ánh sáng, ánh sáng như mang sự sống gieo vào tất cả cảnh vật, cảnh vật đơn sơ mà lại vô cùng lộng lẫy. Hình ảnh thơ ở cuối khổ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” gợi lên hình ảnh thơ vô cùng độc đáo. Khuôn mặt ai duyên dáng sau cành lá trúc, gợi một chất tạo hình cho thơ đậm chất cổ điển, tạo nên sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người nơi thôn Vĩ. “Mặt chữ điền” thường được nhắc tới khi nói về người có khuôn mặt phúc hậu, cũng có thể được hiểu đó là khuôn mặt trở về thăm thôn Vĩ, đang say đắm trước vẻ đẹp thiên nhiên của khu vườn và cảnh vườn thôn Vĩ cũng là hình ảnh cuộc đời, như một thiên đường trần gian.

Cảnh trời mây buồn và sông nước đếm trăng vừa thực, vừa ảo cứ chập chờn chuyển hóa trong khổ thơ thứ 2:

“Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Những mặc cảm chia lìa đã hiện ra qua từng câu chữ. Hai câu thơ diễn tả thực trạng chia lìa, không có sự ràng buộc, không có sự gắn kết. Nỗi buồn chia lìa của gió mây đôi ngả đã thấm vào dòng nước và hoa bắp lay. Trong tâm trí của thi sĩ lại xuất hiện một khao khát. Ông coi trăng như một tri âm, một niềm tin cậy. “Thuyền” và “trăng” là những hình ảnh đầy chất thơ, ảo huyền trong cõi mộng.

Câu thơ cuối là một câu hỏi đầy tâm sự. Tại sao lại dùng từ “kịp”? Có phải không kịp thì tất cả sẽ trở thành muộn màng, phải chăng thi sĩ đã dự cảm về một kết thúc đau thương của mình, chữ “kịp” như chất chứa bi kịch tâm hồn của tác giả. Nó hé mở cho người đọc về cảm nhận và tâm thế sống của Hàn Mặc Tử: cảm nhận về một hiện tại ngắn ngủi và sống là chạy đua với thời gian.

Nỗi niềm khắc khoải đã hiện rõ trong khổ thơ cuối của bài:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà”

Giấc mơ ấy là niềm mong ước, tận cùng là hình bóng của “khách đường xa” đã trở nên xa xôi quá. Câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra”, mới đọc ta cảm giác khó hiểu, trắng quá là cách nói đầy cảm xúc để tả sắc trắng của áo em, tạo nên một cách nói ấn tượng để cực tả sắc trắng, màu trắng đã trở thành ám ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử. Trong bài thơ này, vẻ đẹp của chiếc áo trắng tinh khôi như một vẻ đẹp đang tôn thờ, hình ảnh người con gái càng đẹp, càng tinh khiết thì lại càng xa vời. Cuối bài thơ xuất hiện từ để hỏi và đại từ “ai”, như khép lại bài thơ một cách ngậm ngùi, bởi tình người quá mong manh và xa vời. Câu thơ nhuốm màu hoài nghi về sự đậm đà trong tình cảm của ai đó. Đây là sự hoài nghi của một người rất yêu đời, yêu cuộc sống, cũng chính là uẩn khúc của một người có tấm lòng thiết tha với đời.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” đã giúp người đọc cảm thông với khát vọng và nỗi đau của tác giả. Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài năng nhưng lại phải chịu một cuộc đời ngắn ngủi, một số phận bất hạnh. Nhưng, ông vẫn luôn giữ một niềm yêu đời, khát khao sống và thiết tha với cuộc sống.

5. Cảm nhận Đây thôn Vĩ Dạ bài số 5:

Đây thôn Vĩ Dạ” là một kiệt tác của Hàn Mặc Tử, được sáng tác vào năm 1938, in lần đầu trong tập “Thơ điên”. Khi viết bài thơ này Hàn Mặc Tử đang trong giai đoạn bệnh nặng, cả thể xác lẫn tinh thần bị đau đớn và bệnh tật giằng xé. Nhưng thể hiện qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” ta chỉ thấy một chất thơ nhẹ nhàng, một hồn thơ khao khát yêu thương, bệnh tật dường như không thể chạm đến tâm hồn của Hàn Mặc Tử. Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, hình ảnh gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, “Đây thôn Vĩ Dạ” vẽ lên một bức tranh đẹp về một miền quê Việt Nam cũng như qua đó gửi gắm tiếng lòng tha thiết yêu đời, yêu người của tác giả.

Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn ở thôn Vĩ Dạ. Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

Câu hỏi vừa như lời trách cứ nhưng lại nhẹ nhàng, dịu ngọt như một lời mời. Nghệ thuật trách và mời trong câu thơ thật khéo léo, uyển chuyển, ngọt ngào như nét duyên của người con gái. Qua lời mời gọi dịu dàng, tác giả đưa ta đến với một bức tranh thiên nhiên nhiên tuyệt mĩ của thôn Vĩ:

“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”

Thôn Vĩ Dạ là một thôn làng thơ mộng nằm kề sát thành phố Huế bên bờ sông Hương. Qua ngòi bút tinh tế của tác giả, vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ hiện lên càng lấp lánh hơn, như một điểm nhấn của thiên nhiên. Đến với bức tranh thôn Vĩ Dạ, cảnh đầu tiên hiện ra trong tầm nhìn chính là “hàng cau”. Nhà thơ nói đến hàng cau trước tiên vì cau là một loài cây thanh nhã, ngay thẳng gợi lên sự bất khuất, thủy chung. Cau trồng thành hàng lối tạo nên vẻ đẹp chuẩn mực, ngay ngắn, giàu tính tạo hình, gây ấn tượng đẹp trong tâm trí người đọc.

Vẻ đẹp của hàng cau còn có thêm một chi tiết đẹp hơn tô điểm, đó là “nắng hàng cau”, “nắng mới lên”. Những hàng cau trồng theo hàng lối đón ánh nắng lấp lánh khiến cho ánh nắng dường như cũng trải dài, trải dài thành từng tầng sáng theo từng ngọn cau bao phủ lấy thôn làng ngõ xóm. Từ “nắng” ở đây lặp lại hai lần làm ta dường như cảm nhận được ánh nắng ấm áp lan tỏa khắp nơi, tạo nên sức sống cho bức tranh thôn Vĩ Dạ. Câu thơ thứ ba bật lên như một sự ngạc nhiên thích thú: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.

Bức tranh thiên nhiên không chỉ có ánh vàng của nắng mà còn có màu xanh tràn nhựa sống của cây lá hoa cỏ. “Mướt quá” gợi lên cho ta thấy sự tràn trề sức sống của cây cối xanh tốt. Màu “mướt quá” làm dịu đi trong ta những bụi bặm, khiến tâm hồn cảm thấy như tươi trẻ hơn. Màu xanh được so sánh với “ngọc” càng khiến cho bức tranh thiên nhiên dường như cao quý, thuần khiết hơn, không nhiễm bụi trần. Câu thơ cũng thoáng hiện lên hình bóng của ai đó qua thông tin “vườn ai” mà tác giả còn để ngỏ. Và để đến câu thơ tiếp theo, hình bóng ấy hiện ra một các rõ ràng hơn:

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Hình bóng con người hiện lên làm cảnh vật dường như sinh động hẳn lên. “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Thấp thoáng trong khu vườn xanh mướt lá, hiện ra một gương mặt “chữ điền” phúc hậu vừa thực, vừa ảo, vừa gần nhưng lại vừa xa bởi “lá trúc che ngang”. Gương mặt trong câu thơ như đang dõi theo bước chân người khách nhưng lại vô cùng dịu dàng, e ấp. Câu thơ đẹp vì có sự hài hòa giữa cảnh vật và con người. Như vậy chỉ với vài nét chấm phá, Hàn Mặc tử đã phác họa được cảnh vật và con người ở thôn Vĩ Dạ một cách vô cùng sinh động, vừa quen thuộc gần gũi lại thi vị độc đáo. Đoạn thơ gợi lên trong tâm hồn người đọc bao nỗi niềm, cảm xúc về quê hương yêu dấu.

Khổ thơ thứ hai cho ta thấy một thế giới khác của Huế, một sự chuyển biến hoàn toàn về tâm trạng của nhân vật trữ tình:

“Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”

Hai câu thơ tả cảnh nhưng ta dường như ta thấy nặng trĩu tâm tình. Hai câu thơ gợi cảnh chia li sầu não buồn đến não nề. Gió thổi mây bay thường quấn quýt bên nhau nhưng ở đây “gió theo lối gió, mây đường mây”. Còn nữa, hoa rơi nước chảy còn sự việc nào vô tình hơn? Phải chăng là một mối tình đơn phương, chưa có phút giây gặp gỡ yêu thương đã sớm chia li buồn tủi nên cảnh mới hòa vào lòng người mà sầu khổ, phân li. Điệp từ “gió” và “mây” càng nhấn mạnh thêm khoảng cách, sự xa cách. Hai câu thơ mang một nhịp điệu rất Huế, êm đềm, lững lờ mà trầm tư, man mác buồn.

Đặc biệt viết về Huế không thể thiếu ánh trăng:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Trăng là biểu tượng cho cái đẹp, tượng trưng cho hạnh phúc và thanh bình. Hình ảnh trăng trong thơ của Hàn Mặc Tử gợi cho người đọc một niềm hi vọng, một niềm tin. Chỉ có trong thơ mới có thể có sông trăng và thuyền chở trăng. Ẩn dụ của tác giả thật thơ mộng, mang đến cho ta niềm khao khát, đợi chờ. Nhưng có thể không? “Có chở trăng về kịp tối nay”. Lời thơ cất lên như một câu hỏi vô vọng không có đáp án. Hai câu thơ đặc tả tâm trạng khát khao gặp gỡ nhưng đồng thời cũng thể hiện nỗi lo lắng phập phồng.

Khổ thơ cuối có lẽ nhà thơ đã tỉnh mộng, quay về với thực tại đang sống, đối mặt với chính mình để viết lên những vần thơ:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra”

Điệp ngữ “khách đường xa” vừa thể hiện tâm trạng nhớ thương khắc khoải lại dường như cái vô vọng của mối tình đơn phương xa vời. Lúc này ở thực tại tác giả đang đối mặt với căn bệnh hiểm nghèo, cắt đứt mọi giao tiếp với xung quanh nên ta có thể nhận thấy qua lời thơ ước mơ của tác giả vô cùng tha thiết. Tác giả không mơ được trở về thôn Vĩ nữa mà mơ có một người khách nào đó đến thăm. Nhưng rồi giấc mơ ấy như nhòa đi: “Áo em trắng quá nhìn không ra”.

Ở đây ta có thể thấy tác giả mơ về một người con gái, nhưng chỉ có thể thấy “áo” chứ “nhìn không ra”. Chỉ biết đây là một hình ảnh rất đỗi gần gũi nhưng lại quá xa xôi. Gần gũi vì nó đã trở thành một hoài niệm thường trực, còn xa xôi là vì khoảng cách thời gian, không gian. Câu thơ còn có nét đặc sắc riêng khi nhắc đến chiếc áo trắng gợi cho ta nhớ đến những nữ sinh Huế mặc áo dài. Nét thanh khiết này làm ta hình dung rõ hơn về cô gái trong mộng tưởng.

Trong tâm trạng buồn bã cô đơn của thực tại và nhớ mong khắc khoải trong thơ, nhà thơ chợt khao khát cuộc sống đến tột cùng:

“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà”

Ở nơi tình cảm chỉ mờ như sương khói, cái tha thiết mong đợi của tác giả như đọng lại tới vô cùng. “Ai biết tình ai có đậm đà”. Cái hay của câu thơ nằm ở đại từ phiếm chỉ “ai”, nghe như lời nghi ngờ, cũng như một tiếng thở dài vô vọng.

Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” mặc dù đã ra đời từ lâu nhưng vẫn để lại cho người đọc rất nhiều cảm xúc. Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ mà con là nỗi lòng của một con người với những tâm sự sâu lắng, với những khát khao yêu đời, yêu người. Hiện nay, theo nhiều đánh giá, bài thơ xứng đáng được xếp vào một trong những thi phẩm xuất sắc của thơ Việt Nam hiện đại.

Xem thêm:

  • Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ
  • Cảm nhận khổ 1 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
  • Cảm nhận khổ 2 bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
  • Dàn ý phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
  • Phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Đây thôn Vĩ Dạ
  • Đây thôn Vĩ Dạ chỉ thể hiện tình yêu đối với người con gái xứ Huế
  • Ấn tượng của em về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
  • Cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong Đây thôn Vĩ Dạ
  • Mở bài Đây thôn Vĩ Dạ
  • Phân tích 2 khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ
  • Cảm nhận về hai khổ thơ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ

Trên đây là những hướng dẫn làm bài chi tiết và một số bài văn hay trình bày cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn. Các em có thể tìm đọc thêm những bài văn mẫu lớp 11 đặc sắc khác tại mục tài liệu Văn mẫu 11 để mở rộng vốn từ ngữ và tự rèn luyện các kĩ năng làm văn. Chúc các bạn học tốt và đạt được điểm cao !

Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333
Lượt xem: 13331333

2. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ VNExpress

VNExpress
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên VNExpress, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

3. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ dantri.com.vn

dantri.com.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Mong rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên dantri.com.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

4. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ tuoitre.vn

tuoitre.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Trong đây là TOP các nội dung về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên tuoitre.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

5. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ thanhnien.vn

thanhnien.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên thanhnien.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

6. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ tienphong.vn

tienphong.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Mong rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên tienphong.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

7. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ vietnamnet.vn

vietnamnet.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Trong đây là TOP các nội dung về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên vietnamnet.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

8. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ soha.vn

soha.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên soha.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

9. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ 24h.com.vn

24h.com.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Mong rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên 24h.com.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

10. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ kenh14.vn

kenh14.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Trong đây là TOP các nội dung về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên kenh14.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

11. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ zingnews.vn

zingnews.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên zingnews.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

12. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ vietnammoi.vn

vietnammoi.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Mong rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên vietnammoi.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

13. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ vov.vn

vov.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Trong đây là TOP các nội dung về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên vov.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

14. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ afamily.vn

afamily.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên afamily.vn, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

15. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ cafebiz.vn

cafebiz.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Mong rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên cafebiz.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

16. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ suckhoedoisong.vn

suckhoedoisong.vn
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Trong đây là TOP các nội dung về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên suckhoedoisong.vn sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

17. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ coccoc.com

coccoc.com
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Chắc hẳn là bạn đã có thêm nhiều thông tin về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ rồi nhỉ? Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên coccoc.com, hy vọng sẽ giúp bạn có được thông tin tốt nhất cho bản thân.
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

18. Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ từ facebook.com

facebook.com
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Tóm tắt: Mong rằng những thông tin trên về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được team tìm kiếm trên facebook.com sẽ giúp bạn giải quyết được những thắc mắc về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Đánh giá: 4-5 sao
Lượt đánh giá: 1333

Câu hỏi về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Nếu có bắt kỳ thắc mắc nào về Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ hãy cho chúng mình biết nhé, mọi câu hỏi hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình hoàn thiện hơn trong các bài sau nhé!

Bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được mình và team tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ giúp ích cho bạn thì hãy ủng hộ team Like hoặc Share nhé!

Từ khóa tìm Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
cách Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
hướng dẫn Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Cảm Nhận Của Anh Chị Về Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ miễn phí

Scores: 4.1 (102 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn