Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai là gì? Chi tiết về Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai mới nhất 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

500px Collardeperlaschino

Bản vẽ phác thảo “Chuỗi Ngọc Trai”. Vòng tròn màu đỏ đại biểu sự hiện diện của Trung Quốc, vòng tròn màu lam đại biểu sự hiện diện và căn cứ của Hoa Kì.

Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai (chữ Anh: String of Pearls) là một khái niệm do giới chính trị Ấn Độ nêu ra, đã miêu tả sự suy đoán về ý đồ gia tăng sức ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương của Trung Quốc.[1] Nó chỉ các thiết bị dân dụng và quân dụng của Trung Quốc từ Trung Quốc đại lục đến Port Sudan ở trong khu vực sừng châu Phi, cùng mối quan hệ của những thiết bị này với tuyến đường thuỷ trọng yếu của Trung Quốc. Tuyến đường thuỷ trọng yếu của Trung Quốc đã đi qua một số điểm “cổ chai”, bao gồm eo biển Mandeb, eo biển Malacca, eo biển Hormuz và eo biển Lombok, cùng các nước dọc sát bờ biển như Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Maldives và Somalia.

Nhiều nhà bình luận của Ấn Độ cho biết, chiến lược Chuỗi Ngọc Trai và hành lang kinh tế Trung Quốc–Pakistan, sẽ uy hiếp đến an ninh quốc gia của Ấn Độ.[2][3] Chiến lược này hình thành một hệ thống, uy hiếp đến dự án đầu tư lực lượng, mậu dịch, thậm chí là toàn vẹn lãnh thổ của Ấn Độ.[2][4] Ngoài ra, Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ và mật thiết với Pakistan – “kẻ thù truyền kiếp” của Ấn Độ, cùng với sự phát triển của Trung Quốc ở cảng Gwadar, cộng thêm khả năng hải quân Trung Quốc thiết lập căn cứ hải quân ở cảng Gwadar, đều bị Ấn Độ coi là cái đinh trong mắt.[2] Ở hướng đông, cảng nước sâu Kyaukpyu cũng đã dẫn đến sự lo lắng đồng dạng của Ấn Độ.[3]

Từ này xuất hiện lần đầu tiên là trong bài báo cáo nội bộ năm 2005 mang tên “Tương lai nguồn năng lượng ở châu Á” (Energy Futures in Asia) của công ti kiểm soát cổ phần Booz Allen Hamilton.[5] Từ này cũng hay sử dụng trong tài liệu địa chính trị và chính sách ngoại giao của Ấn Độ, để nhấn mạnh quan ngại của Ấn Độ về việc thực hành Một vành đai, một con đường ở Nam Á.[6] Căn cứ vào lối nói của Sở Nghiên cứu bảo vệ an ninh châu Âu (EUISS), “đối thoại an ninh bốn bên” do Mĩ, Nhật, Ấn và Úc hình thành chính là hành vi phản kháng trực tiếp đối với chính sách ngoại giao tích cực của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.[7]

Sự xuất hiện ”chiến lược Chuỗi Ngọc Trai”, đã nói rõ Trung Quốc đang gia tăng kiểm soát sân bay và cửa cảng một cách có bài bản, mở mang, nâng cấp quân đội, và tăng cường quan hệ với đối tác thương mại, nhằm tăng thêm sức ảnh hưởng địa chính trị ngày càng lên.[8] Chính phủ Trung Quốc luôn bày tỏ, hải quân Trung Quốc kiên trì đường lối phát triển hoà bình, chỉ giữ trách nhiệm bảo vệ lợi ích thương mại bên trong khu vực.[9] Nhà lãnh đạo Trung Quốc, như Hồ Cẩm Đào[9] và Tập Cận Bình[10] đều tuyên bố, Trung Quốc không tìm kiếm và theo đuổi bá quyền ở trong quan hệ quốc tế. Năm 2003, tuần báo The Economist phân tích phát biểu, cho biết bản chất nhất cử nhất động của Trung Quốc chỉ có liên quan với mậu dịch.[11] Có một số phân tích cho biết, nhất cử nhất động của Trung Quốc sẽ hình thành lưỡng nan an ninh với Ấn Độ, nhưng cũng có phân tích cho biết, chiến lược của Trung Quốc tồn tại điểm yếu, dễ gãy.[12]

An ninh năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tuyến giao thông đường biển từ Hồng Kông đến Port Sudan đã trở thành một nguồn của cuộc xung đột đối với an ninh năng lượng trong tương lai của Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ nhì thế giới và là nước nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ ba thế giới. Trung Quốc nhập khẩu 15% lượng dầu từ Tây Phi[13], và là khách hàng tiêu thụ dầu mỏ lớn nhất của Sudan[14], và đã ký các hợp đồng dài hạn để phát triển các mỏ dầu Iran[15].

Với một làn sóng cướp biển ngoài khơi Somalia[16] cuối năm 2008, cuộc chiến đang diễn ra ở Darfur và sự đàn áp của chế độ Robert Mugabe ở Zimbabwe[17], chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã thay đổi theo hướng một cách tiếp cận trực tiếp hơn để đối phó với các hành động thù địch như vậy.

Căn cứ quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Biển Đông[sửa | sửa mã nguồn]

David Eshel cho rằng các cơ sở hải quân ở đảo Hải Nam (căn cứ tàu ngầm Hải Nam) ở Biển Đông là viên ngọc trai thứ nhất trong Chuỗi Ngọc Trai.[18]

Hạt ngọc thứ nhì là Sihanoukville nếu Campuchia đồng ý hợp tác.[19]

Ấn Độ Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Bên Ấn Độ Dương thì hạt trai thứ ba là quân cảng trên đảo Coco thuộc Miến Điện; tiếp theo là Chittagong, Bangladesh; Hambantota, Sri Lanka rồi đến Gwadar, Pakistan, trọn hải lộ từ Trung Đông sang Trung Hoa.[19] Ngoài ra là các hải cảng Sittwe, Miến Điện; Marao, Maldives và Lamu, Kenya cũng là những khâu trong chuỗi quân cảng chiến lược của Trung Quốc.[20]

Phản ứng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dean Cheng thuộc Heritage Foundation cho rằng Hoa Kỳ nên tìm cách hợp tác với Ấn Độ để đối phó với ảnh hưởng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương.[21][22]

Đối với Ấn Độ thì hải cảng Hambantota gây chú ý như trong bài phân tích Asian Security của Nilanthi Samaranayake thuộc CNA.[23] Daniel Kostecka thì lại cho rằng các cơ sở Trung Quốc lập nên trên Ấn Độ Dương là có mục đích thương mại chứ không phải quân sự.[24]

Ngoài tầm vóc quân sự, chuỗi ngọc trai của Trung Quốc cũng tác động đến bố cục Cuộc chơi vĩ đại mới ở Trung Á. Với nguồn năng lượng dầu mỏ và khí đốt dồi dào khiến các nước Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, khối NATO, Nga và Trung Quốc đều muốn tiếp cận, Trung Á có nhiều hứa hẹn. Tuy nhiên địa thế khó khăn hiểm trở của Trung Á là một thử thách. Hơn nữa khu vực này là cứ điểm của các nhóm khủng bố như Al-Qaeda khiến việc vận chuyển dầu và khí tự nhiên bằng đường ống dễ bị gián đoạn. Kể từ khi sự kiện của 11 tháng 9 xảy ra thì Hoa Kỳ đã trực tiếp tham chiến ở Afghanistan. Trong khi đó Nga cũng tiến quân xâm lăng Gruzia, đe dọa đường ống Baku-Tbilisi-Ceyhan.

Trung Quốc đã đề ra chiến lược chuỗi ngọc trai để đối phó với nguồn năng lượng Trung Á bằng cách mở một thông lộ khác qua ngả Pakistan mà trọng điểm là cảng nước sâu quy mô ở Gwadar.[25] Từ Gwadar Trung Quốc sẽ có căn cứ chiến lược chắc chắn để hoạt động ở Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư. Gwadar cũng là trung tâm hạ nguồn cho các đường ống nối các mỏ khí thiên nhiên ở Trung Á qua Afghanistan để thông ra biển. Trung Quốc đã hoàn thành thiết lập ống dẫn dầu Kazakhstan-Trung Quốc năm 2009. Ống dẫn này chạy từ biên giới Trung Quốc-Kazakhstan đến phía bắc biển Caspi hầu khai thác nguồn dầu lửa khổng lồ ở khu vực Tengiz đầy tiềm lực.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng Dung. Chiến tranh Đông Dương III, cuộc chiến Việt-Hoa-Miên 1979-1989. Falls Church, VA: Tiếng Quê hương, 2013.
  1. ^

    “Issues and Insights”. www.pacforum.org (bằng tiếng Anh). Diễn đàn Thái Bình Dương Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)

  2. ^ a ă â “Here Is All You Should Know About ‘String Of Pearls’, China’s Policy To Encircle India”. indiatimes.com (bằng tiếng Anh). 22 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  3. ^ a ă Lintner, Bertil (15 tháng 4 năm 2019). The Costliest Pearl: China’s Struggle for India’s Ocean (bằng tiếng Anh). Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 978-1-78738-239-8.
  4. ^ DelhiJune 15, Prabhash K. Dutta New. “Can China really encircle India with its String of Pearls? The great game of Asia”. India Today (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  5. ^ “China builds up strategic sea lanes” Lưu trữ 30 tháng 10 2019 tại Wayback Machine, The Washington Times, Washington, 17 January 2005. Retrieved on 4 May 2013.
  6. ^ C. Raja Mohan (28 tháng 11 năm 2012). Sino-Indian Rivalry in the Indo-Pacific. Nhà xuất bản Học viện Brookings, năm 2012. ISBN 978-0870033063.
  7. ^ “Indo-Pacific brief” (PDF). Sở Nghiên cứu bảo vệ an ninh châu Âu (EUISS). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2019. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  8. ^ Pehrson, Christopher J.String of Pearls: Meeting the Challenge of China’s Rising Power Across the Asian Littoral. Lưu trữ 20 tháng 2 2013 tại Wayback Machine, “Carlisle Papers in Security Strategy”, July 2006. Retrieved on 4 May 2013.
  9. ^ a ă Hu: China Would Never Seek Hegemony Lưu trữ 4 tháng 3 2016 tại Wayback Machine, “Xinhua News Agency”, Beijing, 23 April 2009. Retrieved on 4 May 2013.
  10. ^ Buckley, Chris; Myers, Steven Lee (18 tháng 12 năm 2018). “4 Takeaways from Xi Jinping’s Speech Defending Communist Party Control”. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  11. ^ Buckley, Chris; Myers, Steven Lee (18 tháng 12 năm 2018). “4 Takeaways from Xi Jinping’s Speech Defending Communist Party Control”. The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  12. ^ David Brewster. “Beyond the String of Pearls: Is there really a Security Dilemma in the Indian Ocean?”. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2014. Chú thích journal cần |journal= (trợ giúp)
  13. ^ China’s Rising Role in Africa Lưu trữ 2010-03-10 tại Wayback Machine by the Council on Foreign Relations
  14. ^ China’s April Oil Imports From Sudan Rise Sixfold
  15. ^ China Signs $70 Billion Oil and LNG Agreement with Iran
  16. ^ Somali Pirates Living the High Life
  17. ^ The Dirty Half-Dozen
  18. ^ Eshel, David. “‘String of Pearls’ is Securing China’s Sea Lanes.” Lưu trữ 2017-05-04 tại Wayback Machine Defense Update, ngày 20 tháng 12 năm 2010.
  19. ^ a ă Hoàng Dung. Tr 251
  20. ^ [1]
  21. ^ ‘India, US need to partner to balance China in Indian Ocean’
  22. ^ “India buckles up to face aggressive China”. Rediff. 23 tháng 8 năm 2010. Truy cập 14 tháng 2 năm 2015.
  23. ^ Nilanthi Samaranayake, “Are Sri Lanka’s Relations with China Deepening? An Analysis of Economic, Military, and Diplomatic Data,” Asian Security, vol. 7, no. 2 (2011): 119–46
  24. ^ Kostecka, Daniel. “Hambantota, Chittagong, and the Maldives – Unlikely Pearls for the Chinese Navy.” China Brief, ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  25. ^ Pakistan Launches Strategic Port

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai và việc bảo vệ chủ quyền VN trên Biển Đông[liên kết hỏng]


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chiến_lược_Chuỗi_Ngọc_Trai&oldid=65048391”

Từ khóa: Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai, Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai, Chiến lược Chuỗi Ngọc Trai

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO TOP giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.

Nguồn: Wikipedia

Scores: 4.7 (94 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn