HMS Formidable (67) là gì? Chi tiết về HMS Formidable (67) mới nhất 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Hms-formidable-r67.jpg

Tàu sân bay HMS Formidable (67), vào khoảng năm 1944
Lịch sử
Naval Ensign of the United Kingdom.svgAnh Quốc
Hãng đóng tàu Harland & Wolff, Belfast, Bắc Ireland
Đặt lườn 17 tháng 6 năm 1937
Hạ thủy 17 tháng 8 năm 1939
Hoạt động 24 tháng 11 năm 1940
Ngừng hoạt động 1947
Xóa đăng bạ 1953
Số phận Bị bán để tháo dỡ năm 1956
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu Lớp tàu sân bay Illustrious
Trọng tải choán nước list error: <br /> list (help)
23.207 tấn (tiêu chuẩn);
28.661 tấn (đầy tải)
Độ dài 226,7 m (743 ft 9 in)
Sườn ngang 29,0 m (95 ft)
Mớn nước 8,5 m (28 ft)
Động cơ đẩy list error: <br /> list (help)
3 × Turbine hơi nước Parsons
6 × nồi hơi Admiralty
3 × trục
công suất 111.000 mã lực (82,8 MW)
Tốc độ 56,5 km/h (30,5 knot)
Tầm xa list error: <br /> list (help)
20.400 km ở tốc độ 26 km/h
(11.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Tầm hoạt động 4.854 tấn dầu đốt
Thủy thủ đoàn
đầy đủ
817 (thủy thủ) + 394 (không lực)
Vũ trang list error: <br /> list (help)
8 × pháo QF 114 mm (4,5 inch) Mk.III (4×2)
48 × QF 2 pounder Mk.VIII (40 mm) (6×8)
Bọc giáp list error: <br /> list (help)
Sàn đáp: 76 mm (3 inch),
hông và vách ngăn: 112 mm (4,5 inch)
Máy bay mang theo list error: <br /> list (help)
1940: 36 Fulmar/Swordfish
1943: Martlet, Seafire và Albacore
1945: 54 Corsair/Avenger

HMS Formidable (67) là một tàu sân bay của Hải quân Hoàng gia Anh thuộc lớp Illustrious. Nó từng hoạt động trong Chiến tranh Thế giới thứ hai tại các chiến trường Địa Trung Hải, Bắc Đại Tây Dương và Viễn Đông; và sau chiến tranh nó bị tháo dỡ vào năm 1956.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Formidable được chế tạo tại xưởng đóng tàu của hãng Harland & Wolff tại Belfast, Bắc Ireland. Nó được đặt lườn vào ngày 17 tháng 6 năm 1937; và vào ngày 17 tháng 8 năm 1939 nó đã “tự hạ thủy” nửa giờ trước giờ quy định. Chiếc tàu sân bay được đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 11 năm 1940.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Địa Trung Hải và Bắc Đại Tây Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Formidable tham gia Trận chiến mũi Matapan từ ngày 27 đến ngày 29 tháng 3 năm 1941.[1] Vào ngày 26 tháng 5 năm 1941, chiếc tàu sân bay bị hư hại nặng khi tham gia vận chuyển máy bay đến đảo Malta tăng cường cho hòn đảo đang bị vây hãm, bị đánh trúng hai quả bom 1000 kg buộc nó phải ngừng hoạt động trong sáu tháng.[1] Sau khi được sửa chữa tại Xưởng hải quân Norfolk ở Hoa Kỳ, Formidable được tái trang bị bằng các kiểu máy bay tiêm kích Mỹ Vought Corsair[2] và F4F Martlet.[3]

Năm 1942, chiếc tàu sân bay băng ngang Thái Bình Dương và hoạt động một thời gian ngắn tại Ấn Độ Dương trước khi quay lại Địa Trung Hải vào tháng 10. Sau đó, Formidable hỗ trợ trên không cho Chiến dịch Bắc Phi[3] và Chiến dịch Ý (1943), bao gồm cuộc đổ bộ lên Sicilia (Chiến dịch Husky)[4]; trước khi được chuyển đến khu vực Bắc Đại Tây Dương tham gia hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến biển Bắc Cực.[5] Ngày 17 tháng 11 năm 1943, máy bay của HMS Formidable đã tấn công và đánh chìm được chiếc tàu ngầm U-Boat U-331 (chiếc U-Boat đã đánh chìm HMS Barham).[3]

Ngày 17 tháng 7 năm 1944, những chiếc Swordfish cất cánh từ Formidable đã tham gia Chiến dịch Mascot, cuộc tấn công nhắm vào chiếc thiết giáp hạm Đức Tirpitz tại Na Uy.[6] Chiếc tàu sân bay còn tham gia các cuộc tấn công khác nhắm vào chiếc Tirpitz trong tháng 8, như là một phần của Chiến dịch Goodwood.[5]

Viễn Đông[sửa | sửa mã nguồn]

250px Flightdeck of HMS Formidable

Một chiếc Grumman Martlet thuộc Phi đội Không lực Hải quân 888 trên sàn đáp HMS Formidable

Sang năm 1945, Formidable đã tham gia chiến đấu chống lại lực lượng Nhật Bản trong thành phần Hải đội Tàu sân bay 1 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương Anh Quốc, và đã phải chịu đựng những cuộc tấn công cảm tử kamikaze trong khi hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lên Okinawa.[2][7] Vào ngày 4 tháng 5 lúc khoảng sau 11 giờ 30 phút, một máy bay Nhật bổ nhào từ một độ cao lớn nhắm vào Formidable. Cho dù đã bị hỏa lực pháo phòng không bắn trúng ở cự ly gần, chiếc máy bay cảm tử đâm bổ xuống sàn đáp, làm vỡ một lỗ hổng lớn kích thước 3 × 0,6 m (10 × 2 ft) trên sàn đáp bọc thép. Một mảnh thép lớn xuyên thủng sàn chứa máy bay và phòng nồi hơi trung tâm, làm vỡ một ống dẫn hơi nước, và xuyên đến một thùng chứa nhiên liệu, gây một đám cháy dữ dội tại hầm chứa máy bay. Tám thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng cùng 47 người khác bị thương. Dù sao, lớp sàn đáp được bảo vệ bằng vỏ giáp thép dày 76 mm (3 inch) trên chiếc Formidable đã ngăn ngừa những hư hỏng khác nghiêm trọng hơn gây ra bởi các cuộc tấn công kiểu này.[8] Một chiếc Corsair và mười chiếc Grumman Avenger bị phá hủy. Tuy nhiên, đám cháy dần dần được kiểm soát, và lỗ hổng trên sàn đáp được sửa chữa bằng những tấm thép và bê tông. Đến 17 giờ 00, những chiếc Corsair lại có thể hạ cánh trên chiếc Formidable. Một cuộc tấn công Kamikaze khác cũng đã đánh trúng sàn đáp chiếc Formidable vào ngày 9 tháng 5 năm 1945, nhưng mức độ thiệt hại không thể nào so được với cuộc tấn công bốn ngày trước đó.[9]

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến tranh, sự tích lũy các hư hại trong chiến đấu trên khắp các chiến trường, đặc biệt là hư hại do trúng bom tại Địa Trung Hải, khiến cho chiếc tàu sân bay vĩnh viễn bị thương tật; và một ủy ban điều tra của Hải quân Hoàng gia đã kết luận rằng việc sửa chữa nó không kinh tế. Formidable được đưa về lực lượng dự bị vào năm 1947, và ‘Old Formy’ không bao giờ được đưa ra hoạt động nữa. Nó được bán vào năm 1953 và được tháo dỡ từ tháng 11 năm 1956.[1]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Chesneau (1998), các trang103-107
  2. ^ a ă Biggs & Ott (1994), p.39
  3. ^ a ă â Sturtivant (1990), các trang 91-94
  4. ^ Sturtivant (1990), p.95-97
  5. ^ a ă Sturtivant (1990), p.104
  6. ^ Sturtivant (1990), p.109
  7. ^ Sturtivant (1990), các trang 133-135
  8. ^ Tàu sân bay Mỹ trong Thế Chiến II có sàn đáp bằng gỗ, trong khi những chiếc của Anh làm bằng thép. Một số lớp tàu, trong đó có Illustrious, được trang bị lớp vỏ giáp trên sàn đáp
  9. ^ Waters (1956), các trang 383-385

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biggs, Morris; Ott, Frank (1994). 80 Years of the British Aircraft Carrier. Yeovilton: The Society of Friends of the Fleet Air Arm Museum. tr. 60. ISBN 0 951313932.

  • Chesneau, Roger (1998). Aircraft Carriers of the World, 1914 to the Present. An Illustrated Encyclopedia (Rev Ed). London: Brockhampton Press. tr. 288. ISBN 1 86019 87 5 9.
  • Sturtivant, Ray (1990). British Naval Aviation: The Fleet Air Arm 1917-1990. London: Arms & Armour Press Ltd. tr. 224. ISBN 0853689385.
  • Waters, S.D. (1956). The Royal New Zealand Navy: Official History of New Zealand in the Second World War 1939–45, Chapter 24 – With the British Pacific Fleet. Wellington: War History Branch New Zealand Department of Internal Affairs. tr. 571.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Maritimequest HMS Formidable photo gallery
  • Fleet Air Arm entry for Formidable Lưu trữ 2007-08-04 tại Wayback Machine


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=HMS_Formidable_(67)&oldid=65034195”

Từ khóa: HMS Formidable (67), HMS Formidable (67), HMS Formidable (67)

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO TOP giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.

Nguồn: Wikipedia

Scores: 5 (187 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn