Napoli là gì? Chi tiết về Napoli mới nhất 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Tọa độ: 40°50′42″B 14°15′30″Đ / 40,845°B 14,258333°Đ / 40.845; 14.258333

Napoli
Νεάπολις – Neapolis
—  Thành phố và comune  —
Napule (tiếng địa phương)
Naples (tiếng Anh)
Từ trên xuống dưới, từ trái sang phải: (1) Toàn cảnh phố cảng Mergellina, khu Chiaia và núi Vesuvius; (2) Quảng trường Plebiscito; (3) Nhà ga tàu điện ngầm Toledo; (4) Lâu đài Mới (Castel Nuovo); (5) Bảo tàng Capodimonte; (6) Cung điện hoàng gia Napoli

Từ trên xuống dưới, từ trái sang phải:
(1) Toàn cảnh phố cảng Mergellina, khu Chiaia và núi Vesuvius; (2) Quảng trường Plebiscito; (3) Nhà ga tàu điện ngầm Toledo; (4) Lâu đài Mới (Castel Nuovo); (5) Bảo tàng Capodimonte; (6) Cung điện hoàng gia Napoli
Hiệu kỳ của Napoli
Hiệu kỳ
CoA Città di Napoli.svg
Huy hiệu
Tên hiệu: Città del Sole
Thành phố Mặt Trời
Città dalle 500 cupole
Thành phố 500 mái vòm
Phạm vi của thành phố Napoli (Città di Napoli, màu đỏ) nằm bên trong lãnh thổ Thành phố đô thị Napoli (Città metropolitana di Napoli, màu vàng)
Phạm vi của thành phố Napoli (Città di Napoli, màu đỏ) nằm bên trong lãnh thổ Thành phố đô thị Napoli (Città metropolitana di Napoli, màu vàng)
Napoli trên bản đồ Ý

Napoli
Napoli

Napoli trên bản đồ Châu Âu

Napoli
Napoli

Quốc gia 23px Flag of Italy.svg Ý
Vùng Flag of Campania.svg Campania
Tỉnh Stemma Città metropolitana di Napoli.png Thành phố đô thị Napoli
Phân chia hành chính 10 quận
Chính quyền
 • Kiểu Đô thị cấp huyện
 • Thị trưởng Luigi de Magistris
Diện tích[1]
 • Thành phố 117,27 km2 (45,28 mi2)
 • Thành phố đô thị 1.171 km2 (452 mi2)
Độ cao 99,8 m (327,4 ft)
Độ cao cực đại 453 m (1,486 ft)
Độ cao cực tiểu 0 m (0 ft)
Dân số (31 tháng 1 năm 2021[2])
 • Thành phố 940.398
 • Thứ hạng Đứng thứ 3 tại Ý
 • Mật độ 8.019,08/km2 (20,769,3/mi2)
 • Thành phố đô thị Napoli 3.016.762
 • Vùng đại đô thị Napoli 4.434.136
Tên cư dân tiếng Ý: Napoletano/a hoặc Partenopeo/a (nam/nữ), Napoletani hoặc Partenopei (số nhiều)
tiếng Napoli: Napulitano/a (nam/nữ), Napulitani (số nhiều)
tiếng Anh: Neapolitan(s)
Các múi giờ CET (UTC+1)
CEST (UTC+2)
Mã bưu chính 80121–80147 sửa dữ liệu
Mã điện thoại 081 sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩa (xem bên dưới)
Thánh bảo hộ Thánh Gianuariô
Ngày lễ 19 tháng 9
Trang web www.comune.napoli.it
Di sản thế giới UNESCO
Tên chính thức Trung tâm lịch sử Napoli
Tham khảo 726
Công nhận 1995 (Kỳ họp 19)
Diện tích 1.021 ha (2.520 mẫu Anh)
Vùng đệm 1.350 ha (3.300 mẫu Anh)
“Naples” được chuyển hướng đến đây. Với những mục đích tìm kiếm khác, vui lòng xem Naples (định hướng).

Napoli (/ˈnaːpoli/ (), tiếng Napoli: Napule [ˈnɑːpulə]; tiếng Hy Lạp cổ đại: Νεάπολις – Neapolis có nghĩa là “thành phố mới“, còn phổ biến với tên gọi Naples trong tiếng Anh và tiếng Pháp) là thành phố lớn thứ ba của Ý sau Roma và Milano cũng như là thành phố lớn nhất miền nam nước này, với dân số 940.398 người sống bên trong phạm vi thành phố tính đến năm 2021,[2] đồng thời đóng vai trò thủ phủ của vùng Campania. Napoli là trung tâm của Thành phố đô thị Napoli (đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh) với 3.115.320 dân cư, do đó là thành phố đô thị đông dân thứ ba của quốc gia.[3][4] Vùng đại đô thị Napoli (vươn ra bên ngoài cương vực của Thành phố đô thị Napoli) là khu vực đô thị đông dân thứ hai của Ý và thứ 7 tại Liên minh châu Âu.[5]

Khởi nguồn từ những người Hy Lạp định cư đầu tiên vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công Nguyên, Napoli là một trong những khu đô thị lâu đời nhất trên thế giới có dân cư liên tục sinh sống.[6] Vào thế kỷ thứ 9 TCN, một thuộc địa có tên Parthenope được thiết lập trên hòn đảo Megaride[7] mà sau này được tái lập thành Neapolis vào thế kỷ 6 TCN.[8] Thành phố từng là một phần thuộc Magna Graecia tức “Đại Hy Lạp”, đóng vai trò quan trọng trong việc giao thoa gắn kết giữa xã hội Hy Lạp và La Mã, trở thành trung tâm văn hóa chiến lược dưới sự cai trị của người La Mã.[9] Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc La Mã, Napoli dần hình thành nền công quốc tự chủ dưới quyền của Đế quốc Byzantine, và bắt đầu từ thế kỷ 13 trong suốt hơn 500 năm kế tiếp, nơi đây lần lượt là kinh đô của Vương quốc Napoli và Vương quốc Hai Sicilia cho đến khi thống nhất nước Ý vào năm 1861.

Suốt hàng thế kỷ, Napoli trở thành một trong những cái nôi tiên phong của nền học thuật hàn lâm và trung tâm tri thức lớn của phương Tây với Đại học Napoli “Federico II” là viện đại học công lập đầu tiên trên toàn thế giới. Ngoài ra còn là nơi tọa lạc của Đại học Đông phương Napoli là ngôi trường cổ nhất tại châu Âu về lĩnh vực Đông phương học và Hán học, và Nunziatella – học viện đào tạo quân sự lâu đời nhất vẫn còn hoạt động trên thế giới. Thành phố được xem là một trong những kinh đô của nghệ thuật Baroque, bắt đầu với sự nghiệp của nghệ sĩ Caravaggio vào thế kỷ 17 và cuộc cách mạng nghệ thuật mà ông truyền cảm hứng,[10] đồng thời là trung tâm quan trọng của chủ nghĩa nhân văn Phục Hưng và thế kỷ Ánh Sáng,[11][12] và từ lâu đã là địa điểm tham chiếu toàn cầu về âm nhạc cổ điển và opera thông qua trường phái Napoli.[13]

Trong những năm 1925 đến 1936, Napoli được chính quyền phát xít của Benito Mussolini mở rộng và nâng cấp nhưng sau đó chịu thiệt hại nặng nề do các cuộc đánh bom của quân Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, dẫn đến công cuộc tái thiết diện rộng hậu 1945.[14] Từ nửa sau thế kỷ 20, Napoli đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế đáng kể trong những thập kỷ gần đây, nhờ xây dựng khu vực trung tâm tài chính Centro Direzionale và mạng lưới giao thông tiên tiến, bao gồm tuyến đường sắt cao tốc Alta Velocità kết nối đến Roma và Salerno cùng hệ thống tàu điện ngầm mở rộng. Napoli là nền kinh tế đô thị lớn thứ ba ở Ý, sau Milano và Roma.[15] Cảng Napoli là một trong những hải cảng quan trọng nhất ở châu Âu cũng như khu vực Địa Trung Hải. Ngoài các hoạt động giao thương, nơi đây còn là trụ sở của Bộ Tư lệnh Quân Đồng Minh Napoli, bộ phận NATO có sứ mệnh giám sát Bắc Phi, Sahel và Trung Đông.[16]

Trung tâm lịch sử của Napoli là khu vực di tích lịch sử lớn nhất tại châu Âu và là một Di sản thế giới thuộc UNESCO, song song với một loạt các địa điểm văn hóa và lịch sử quan trọng khác xung quanh thành phố như Đại cung điện hoàng gia Caserta và tàn tích La Mã Pompeii và Herculaneum. Napoli đồng thời nổi tiếng với những thắng cảnh tự nhiên hùng vĩ như Posillipo, cánh đồng Phlegraei, Nisida, và đặc biệt Vườn quốc gia núi lửa Vesuvius được trao tặng danh hiệu khu dự trữ sinh quyển thế giới.[17][18] Thành phố nổi tiếng với bề dày truyền thống, di sản và văn hóa độc đáo của riêng mình, là cội nguồn của thể loại ca khúc vang danh quốc tế cũng như hình thức trình diễn sân khấu mang dấu ấn riêng. Tiếng Napoli, được xem là ngôn ngữ khá khác biệt so với tiếng Ý, vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực kiến thức, văn hóa, hình thái xã hội và lối sống của người dân thành phố. Đặc biệt nền ẩm thực Napoli nổi tiếng với pizza – món ăn mang tính biểu tượng toàn cầu được khai sinh từ thành phố này[19] và nghệ thuật của những người làm bánh pizza ở Napoli được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.[20] Cùng với nhiều món địa phương đặc sắc, các nhà hàng tại Napoli đạt được số lượng ngôi sao Michelin nhiều hơn bất kỳ thành phố Ý nào khác.[21] Bên cạnh đó, Napoli tồn đọng những vấn đề rất lớn như mafia và tội phạm có tổ chức – là lực cản đối với sự phát triển kinh tế, xã hội;[22] hay về mặt tự nhiên, thành phố đã và đang có nguy cơ phải hứng chịu những trận động đất lớn và mối đe dọa từ hoạt động núi lửa.[23] Đường chân trời quận tài chính Centro Direzionale là quang cảnh các tòa nhà chọc trời đầu tiên của nước Ý, được xây dựng vào năm 1994 và trong suốt 15 năm là thành phố duy nhất của quốc gia có cảnh quan như vậy cho đến năm 2009. Đội thể thao nổi tiếng nhất ở Napoli là câu lạc bộ S.S.C. Napoli, hai lần vô địch Giải bóng đá vô địch quốc gia Ý Serie A tại sân vận động San Paolo – Diego Maradona nằm ở phía tây nam thành phố.[24]

Thần thoại và từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

240px Odysseus siren Parthenope%2C the mythological founder of Naples

Cảnh phác họa siren Parthenope (bản tiên chim) gieo mình xuống biển.

250px Castel dell%27ovo al tramont0

Lâu đài Trứng (Castel dell’Ovo) trên hòn đảo Megaride xưa, nay là một bán đảo.

Neapolis (Tân Thành, “thành phố mới”) được xây dựng cách vài mét từ một thành phố đã tồn tại trước đó, có tên là “Parthenope” hay được xem là Paleopolis (tiếng Hy Lạp cổ: Παλαιόπολις – Cựu Thành, “thành phố cũ”).

Theo thần thoại của người Hy Lạp, Parthenope (Παρθενόπη, nghĩa là “giọng ca trinh nữ”)[25] là một trong 3 nàng siren (tiên chim hoặc tiên cá tùy theo dị bản), là con gái của thần Achelous – vị thần của dòng sông lớn nhất Hy Lạp, và thần nàng thơ (muse) Terpsichore. Từ những hang động trên đảo Capri, nàng cùng với hai người chị em dùng tiếng hát ngân nga tuyệt vời của mình để quyến rũ người anh hùng Odysseus và đoàn tùy tùng của chàng trên thuyền nhưng thất bại.[26][27] Tuyệt vọng và buồn đau, nàng trẫm mình xuống biển và xác của nàng trôi dạt vào bờ biển ở hòn đảo Megaride, chính là nơi tọa lạc của Lâu đài Trứng ngày nay.[28] Khi người dân từ Cumae đến định cư tại đây, họ đã đặt tên cho thành phố là Parthenope để tưởng nhớ nàng.[29] Người Hy Lạp sau đó đã chọn vùng đất bên cạnh để tái lập thành phố mới và đặt tên Neapolis, mà từ đó chính là nguồn gốc trực tiếp của tên gọi “Napoli” hay “Naples”. Hiện tại cái tên Parthenope được sử dụng như biệt danh của thành phố Napoli, và người dân Napoli vẫn được gọi là “Partenopeo/Partenopei” trong tiếng Ý, đồng nghĩa với “Napoletano/Napoletani” (tuy vậy từ tương đương trong tiếng Anh là “Parthenopean” chỉ còn được sử dụng trong các văn cảnh lịch sử).[30][31] Các thành trì Parthenope (cũ) và Neapolis (mới) thời cổ đại tương ứng với khu vực cốt lõi trung tâm của thành phố Napoli rộng lớn ngày nay.[32]

442px Partenope
Cựu Thành Paleopolis (Παλαιόπολις), mang tên “Parthenope” (Παρθενόπη)
442px Neapolisgreca
Tân Thành Neapolis (Νεάπολις), “thành phố mới”

Thần thoại La Mã kể một phiên bản khác của câu chuyện trên, trong đó chàng nhân mã tên là Vesuvius say mê đắm đuối nàng Parthenope. Trong cơn giận, thần Jupiter đã biến chàng nhân mã kia thành ngọn núi lửa và nàng Parthenope biến thành thành phố Napoli. Vì bị ngăn cấm khỏi ham muốn của mình, cơn thịnh nộ của Vesuvius được thể hiện qua những đợt phun trào dữ dội thường xuyên của ngọn núi lửa.[33]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hy Lạp khai sinh và La Mã thâu nhận[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli Monte Echia 100 4001

Núi Echia, nơi bức tường thành Hy Lạp của Parthenope vươn dậy.

250px ColonneDioscuriNapoli

Các cột chống của Đền thờ La Mã Castor và Pollux kết hợp vào mặt tiền của Nhà thờ Thánh Phaolô Cả.

Napoli đã có mặt con người sinh sống từ thời kỳ đồ đá mới.[34] Các khu định cư Hy Lạp sớm nhất được thành lập ở khu vực Napoli trong thiên niên kỷ đầu tiên trước Công Nguyên. Các thủy thủ từ đảo Rhodes của Hy Lạp đã thành lập một cảng thương mại nhỏ gọi là Parthenope trên đảo Megaride vào thế kỷ thứ 9 TCN.[35][36] Đến thế kỷ thứ 8 TCN, khu định cư đã mở rộng bao gồm cả khu vực núi Echia.[37] Vào thế kỷ thứ 6 TCN, thành phố được tái lập với tên gọi là Neápolis, cuối cùng trở thành một trong những thành phố quan trọng nhất của khu vực Magna Graecia.

Thành phố phát triển nhanh chóng nhờ ảnh hưởng từ thành bang Siracusa của Hy Lạp hùng mạnh,[7] và trở thành đồng minh với nền Cộng hòa La Mã trong cuộc chiến chống lại quân Carthage. Trong các cuộc Chiến tranh Samnite, thành phố lúc bấy giờ là một trung tâm buôn bán sầm uất đã bị người Samnite đánh chiếm;[38] tuy nhiên, người La Mã sau đó sớm chiếm được thành trì từ tay họ và biến Neapolis trở thành thuộc địa của La Mã. Trong các cuộc Chiến tranh Punic, những bức tường thành vững chắc bao quanh Neapolis đã đẩy lùi lực lượng xâm lược của quân đội Cathage dưới sự chỉ huy của tướng Hannibal.[39]

Neapolis rất được người La Mã tôn trọng như một biểu tượng của nền văn hóa Hy Lạp. Trong thời La Mã, người dân Neapolis vẫn duy trì ngôn ngữ và phong tục Hy Lạp của mình, trong khi thành phố được mở rộng với các biệt thự La Mã trang nhã, hệ thống cầu dẫn nước và nhà tắm công cộng. Các thắng cảnh như Đền thờ Dioscures được xây dựng, và nhiều hoàng đế đã chọn đến nghỉ mát tại thành phố, bao gồm cả Claudius và Tiberius.[39] Vergilius, tác giả của bộ sử thi La Mã Aeneis, đã tiếp nhận một phần giáo dục của mình tại thành phố và sau đó cư trú tại các khu vực xung quanh Neapolis.

Cũng trong thời kỳ này, khi Kitô giáo lần đầu tiên đến Napoli; các tông đồ Phêrô và Phaolô được cho là đã rao giảng trong thành phố. Thánh Gianuariô đã tử vì đạo tại Napoli vào thế kỷ thứ 4 và về sau trở thành vị thánh bảo trợ của thành phố.[40] Hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Tây La Mã, Romulus Augustulus, bị vua man tộc Odoacer đày đến Napoli vào thế kỷ thứ 5.

Thời kỳ Byzantine và Công quốc Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự suy tàn của Đế quốc Tây La Mã, Napoli bị người Ostrogoth thuộc một nhóm tộc người Giéc-manh xâm lược và sáp nhập vào Vương quốc Ostrogoth.[41] Tuy nhiên, Belisarius của Đế quốc Đông La Mã đã tái chiếm lại Napoli vào năm 536, sau khi tiến vào tòa thành thông qua một cây cầu dẫn nước.[42]

220px Gothic Battle of Mons Lactarius on Vesuvius

Trận đồi Lactarius trên sườn núi Vesuvius, tranh vẽ bởi Alexander Zick.

Năm 543, trong các cuộc Chiến tranh Gothic, Totila chiếm được thành phố cho người Ostrogoth trong một thời gian ngắn, nhưng người Byzantine đã giành quyền kiểm soát khu vực này sau trận chiến đồi Lactarius trên sườn núi Vesuvius.[41] Napoli được trông đợi sẽ giữ mối liên hệ với Quan trấn thủ Ravenna, trung tâm của quyền lực của Đông La Mã trên bán đảo Ý.[43]

Sau khi quan trấn thủ thất bại, Công quốc Napoli được thành lập. Mặc dù nền văn hóa Hy-La của Napoli vẫn tồn tại lâu dài, nhưng cuối cùng nó đã chuyển lòng trung thành từ Constantinopolis sang Roma dưới thời Công tước Stefano II, đặt thể chế dưới quyền tôn chủ của giáo hoàng vào năm 763.[43]

Từ những năm 818 đến 832 có nhiều xáo trộn trong mối quan hệ của Napoli với Hoàng đế Đông La Mã, với nhiều phe thù địch giả danh để chiếm giữ ngôi vị công tước.[44] Theoctistus được bổ nhiệm mà không có sự chấp thuận của hoàng đế; sự bổ nhiệm này sau đó đã bị thu hồi và Theodore II thay thế vị trí của ông. Tuy nhiên, dân chúng bất mãn đã đuổi vị công tước ra khỏi thành phố, và thay vào đó, bầu Stefano III, người đúc tiền bằng tên viết tắt của chính mình thay vì tên của Hoàng đế Byzantine. Napoli giành được độc lập hoàn toàn vào đầu thế kỷ thứ chín.[44] Thành phố liên minh với người Hồi Saracen vào năm 836 và yêu cầu sự hỗ trợ để đẩy lùi cuộc bao vây của quân Lombard đến từ Công quốc Benevento lân cận. Tuy nhiên, trong những năm 850, Muhammad I Abu al-Aghlab đã lãnh đạo người Ả Rập-Hồi giáo tiến hành cuộc chinh phạt Napoli, cướp phá thành phố và lấy đi một lượng lớn tài sản.[45][46]

Công quốc nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của người Lombard trong một thời gian ngắn, sau khi Pandolfo IV chiếm được Thân vương quốc Capua, một kỳ phùng địch thủ của Napoli; tuy nhiên, chế độ này chỉ kéo dài ba năm trước khi các công tước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Hy-La phục hồi chức vị.[44] Đến thế kỷ 11, Napoli bắt đầu sử dụng lính đánh thuê người Norman để chiến đấu với các đối thủ của họ; Công tước Sergius IV đã thuê Rainulf Drengot để gây chiến với Capua cho ông.[47]

Đến năm 1137, người Norman gây được ảnh hưởng lớn ở Ý, kiểm soát các thành phố và công quốc độc lập trước đây như Capua, Benevento, Salerno, Amalfi, Sorrento và Gaeta; cũng vào năm này, Napoli – công quốc độc lập cuối cùng ở phần phía nam của bán đảo đã rơi vào sự kiểm soát của người Norman. Công tước cầm quyền cuối cùng của công quốc, Sergius VII, buộc phải đầu hàng Roger II, người tự xưng là Vua của Sicilia bảy năm trước đó. Napoli do đó gia nhập Vương quốc Sicilia, với Palermo là thủ đô.[48]

Norman và nhập vào Vương quốc Sicilia[sửa | sửa mã nguồn]

200px Palazzo Reale di Napoli Federico II

Federico II của Đế quốc La Mã Thần thánh.

Sau thời gian cai trị của người Norman, vào năm 1189, Vương quốc Sicilia nằm trong một cuộc tranh chấp kế vị giữa Tancredi vua Sicilia là con ngoài giá thú và Nhà Staufer hoàng tộc người Đức,[49] vì Hoàng tử Henry của gia tộc này đã kết hôn với Công chúa Constanza, người thừa kế hợp pháp ngai vàng xứ Sicilia. Năm 1191, Henry xâm lược Sicilia sau khi đăng quang với hiệu là Henry VI, Hoàng đế La Mã Thần thánh và nhiều thành phố đầu hàng, nhưng Napoli đã chống lại ông từ tháng 5 đến tháng 8 dưới sự lãnh đạo của Riccardo, Bá tước Acerra, Niccolò xứ Aiello, Aligerno Cottone và Margarito thành Brindisi trước khi quân Đức bị dịch bệnh và buộc phải rút lui. Conrad II, Công tước Bohemia và Philip I, Tổng giám mục thành Cologne chết vì bệnh dịch trong cuộc vây hãm. Nhờ đó, Tancredi đã đạt được một thành tích bất ngờ khác trong cuộc phản công của mình, đó là bắt được Constanza, đương kim hoàng hậu. Ông giam giữ vị hoàng hậu tại Lâu đài Trứng trước khi bà được thả vào tháng 5 năm 1192 dưới áp lực của Giáo hoàng Cêlestinô III. Năm 1194 Henry bắt đầu chiến dịch thứ hai sau cái chết của Tancredi, và lần này Aligerno đã đầu hàng mà không kháng cự, và cuối cùng Henry chinh phục được Sicilia, đặt nó dưới sự cai trị của Nhà Staufer.

Viện Đại học Napoli, đại học công lập đầu tiên của thế giới và trường đào tạo quản lý thế tục đầu tiên ở châu Âu, được thành lập bởi Hoàng đế Fedirico đệ Nhị, biến Napoli trở thành trung tâm tri thức của vương quốc.[50] Xung đột giữa Nhà Staufer và giáo hoàng dẫn đến việc Giáo hoàng Innôcentê IV phong tước vị công tước vương triều Capet là Charles I làm Vua của Sicilia vào năm 1266:[51] Charles chính thức chuyển thủ đô từ Palermo đến Napoli, nơi ông cư trú tại Lâu đài Mới.[52] Do niềm yêu thích lớn đối với kiến ​​trúc, Charles I đã nhập khẩu các kiến ​​trúc sư và công nhân người Pháp và chính cá nhân ông đã tham gia vào một số dự án xây dựng tại thành phố.[53] Nhiều ví dụ về kiến ​​trúc Gothic mọc lên xung quanh, bao gồm cả Nhà thờ chánh tòa Napoli, hiện vẫn là nhà thờ chính của thành phố.[54]

Vương quốc Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

250px Galleria San Martino. 02 %28cropped%29

Lâu đài Mới (Castel Nuovo), nơi ngự tọa của các vị vua Napoli thời Trung Cổ, thời Aragon và thời thuộc Tây Ban Nha.

Thời kỳ Angevin[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1282, sau sự nổi dậy thành công chống lại Charles I nổ ra tại Sicilia, Vương quốc Sicilia được chia làm đôi. Vương quốc Napoli thuộc quyền của Đế quốc Angevin bao gồm phần phía nam của bán đảo Ý, trong khi đảo Sicilia trở thành Vương quốc Sicilia của người Aragon.[51] Các cuộc chiến tranh giữa các vương triều kình địch nhau tiếp tục cho đến Hòa ước Caltabellotta vào năm 1302, chứng kiến Federico III được công nhận là vua của Sicilia, trong khi Charles II được Giáo hoàng Bonifaciô VIII công nhận là vua của Napoli.[51] Bất chấp sự chia rẽ, Napoli ngày càng trở nên quan trọng, thu hút các thương gia từ Pisa và Genova,[55] hào chủ ngân hàng vùng Toscana, và một vài nghệ sĩ nổi bật nhất thời Phục Hưng lúc bấy giờ như Boccaccio, Petrarca và Giotto.[56] Trong thế kỷ 14, Louis Đại đế của Hungary của nhà Angevin đã nhiều lần chiếm được thành phố. Năm 1442, Alfonso V của vương triều Aragon chinh phục Napoli sau chiến thắng của ông trước vị vua Angevin cuối cùng, René, và Napoli được thống nhất với Sicilia một lần nữa trong một thời gian ngắn.[57]

Vương triều Aragon – Habsburg và Đế quốc Tây Ban Nha[sửa | sửa mã nguồn]

250px French troops and artillery entering Naples 1495

Quân đội Pháp và pháo binh tiến vào Napoli năm 1495 trong chiến tranh bán đảo Ý 1494-1495.

Sicilia và Napoli được tách ra từ năm 1282, nhưng vẫn là thuộc quốc của nhà Aragon dưới thời Ferdinand I.[58] Vương triều mới nâng cao vị thế thương mại của Napoli bằng cách thiết lập quan hệ với bán đảo Iberia. Napoli cũng trở thành một trung tâm của thời kỳ Phục Hưng, với các nghệ sĩ như Francesco Laurana, Antonello da Messina, Jacopo Sannazaro và Poliziano đến thành phố.[59] Năm 1501, Napoli nằm dưới quyền cai trị trực tiếp của Pháp dưới thời Louis XII, khi của Napoli bấy giờ là Federico IV bị bắt làm tù binh; tuy nhiên, tình trạng này không tồn tại lâu, khi Tây Ban Nha giành được Napoli từ tay người Pháp trong trận Garigliano năm 1503.[60]

Sau chiến thắng của Tây Ban Nha, Napoli trở thành một phần của Đế quốc Tây Ban Nha, và vẫn duy trì như vậy trong suốt thời kỳ Habsburg của Tây Ban Nha.[60] Người Tây Ban Nha cử các phó vương đến Napoli để trực tiếp giải quyết các vấn đề địa phương: quan trọng nhất trong số các vị phó vương này là Pedro Álvarez de Toledo, người chịu trách nhiệm về những cải cách xã hội, kinh tế và đô thị đáng kể trong thành phố; ông cũng ủng hộ các hoạt động của Tòa án dị giáo Tây Ban Nha.[61] Năm 1544, khoảng 7.000 người bị cướp biển Barbary bắt làm nô lệ và đưa đến Bờ biển Barbary tại Bắc Phi.[62]

Đến thế kỷ 17, Napoli đã trở thành thành phố lớn thứ hai của châu Âu – chỉ sau Paris – và là thành phố Địa Trung Hải lớn nhất của châu Âu, với khoảng 250.000 dân.[63] Thành phố là một trung tâm văn hóa lớn trong thời kỳ Baroque, là quê hương của các nghệ sĩ như Caravaggio, Salvator Rosa và Gian Lorenzo Bernini, các triết gia như Bernardino Telesio, Giordano Bruno, Tommaso Campanella và Giambattista Vico, và các nhà văn như Giambattista Marino. Một cuộc cách mạng do ngư dân địa phương Masaniello lãnh đạo đã chứng kiến ​​sự thành lập của nhà nước Cộng hòa Napoli độc lập ngắn ngủi vào năm 1647, mặc dù chỉ kéo dài vài tháng trước khi sự cai trị của Tây Ban Nha được tái lập.[60] Năm 1656, một trận dịch hạch bùng phát đã giết chết khoảng một nửa trong số 300.000 cư dân của Napoli.[64]

Nhà Bourbon[sửa | sửa mã nguồn]

250px Departure of Charles III from Naples

Carlos III của Tây Ban Nha rời Napoli năm 1759.

Năm 1714, quyền cai trị của Tây Ban Nha đối với thành phố chấm dứt do Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha; Charles VI của Áo cai trị Napoli từ Viên thông qua các phó tướng của riêng mình.[65] Tuy nhiên, Chiến tranh Kế vị Ba Lan chứng kiến ​​người Tây Ban Nha giành lại Sicilia và Napoli như một phần của liên minh cá nhân, với Hiệp ước Vienna năm 1738 công nhận hai chính thể độc lập dưới quyền của nhánh phụ thuộc Nhà Bourbon Tây Ban Nha.[66]

Trong thời Ferdinand IV, người ta đã cảm nhận được ảnh hưởng của Cách mạng Pháp ở Napoli: Horatio Nelson, một đồng minh của nhà Bourbons, thậm chí đã đến thành phố vào năm 1798 để cảnh báo chống lại những người theo chủ nghĩa cộng hòa Pháp. Ferdinand buộc phải rút lui và chạy trốn đến Palermo, nơi ông được bảo vệ bởi hạm đội Anh. Tuy nhiên, các lazzaroni – những người thuộc tầng lớp thấp của Napoli rất sùng đạo và bảo hoàng, ủng hộ nhà Bourbon; trong trận chiến sáp lá cà sau đó, họ chiến đấu với tầng lớp quý tộc Napoli ủng hộ nền Cộng hòa, gây ra một cuộc nội chiến.[67]

250px Veduta di Santa Lucia %28Largo di Palazzo%29 e San Martino%2C Napoli%2C1799
Một thoáng Napoli trong thời kỳ Cộng hòa Parthenope yểu mệnh.
250px Fergola%2C Salvatore The Inauguration of the Naples Portici Railway%2C 1840
Khai trương tuyến đường sắt Napoli-Portici.

Cuối cùng, những người Cộng hòa đã chinh phục Lâu đài Thánh Elmo và tuyên bố lập nước Cộng hòa Parthenope, được Quân đội Pháp bảo trợ.[67] Một đội quân tôn giáo phản cách của lazzaroni được gọi là “quân lòng lành” dưới thời Hồng y Fabrizio Ruffo đã được dấy lên; họ gặt được thành công lớn, và người Pháp buộc phải đầu hàng tại các lâu đài Napoli, và hạm đội của họ quay trở lại Toulon.[67]

Napoleon và Vương quốc Hai Sicilia[sửa | sửa mã nguồn]

Ferdinand IV được phục hồi làm vua; tuy nhiên, chỉ sau bảy năm, Napoléon đã chinh phục vương quốc và cài đặt các vị vua nhà Bonaparte, bao gồm cả anh trai của ông là Joseph Bonaparte (vua của Tây Ban Nha). Với sự giúp đỡ của Đế quốc Áo và các đồng minh, nhà Bonaparte đã bị đánh bại trong Chiến tranh Napoli, và Ferdinand IV một lần nữa giành lại ngai vàng và vương quốc.[68]

Đại hội Viên năm 1815 chứng kiến các vương quốc Napoli và Sicilia kết hợp để tạo thành Vương quốc Hai Sicilia,[68] với Napoli là thành phố thủ đô. Năm 1839, Napoli trở thành thành phố đầu tiên trên bán đảo Ý có đường sắt, với việc xây dựng tuyến đường sắt Napoli – Portici.[69]

Sáp nhập vào vương quốc Ý thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli Castel Nuovo museo civico ingresso di Garibaldi a Napoli Wenzel bis

Garibaldi tiến vào Napoli vào ngày 7 tháng 9 năm 1860.

Năm 1860, Vương quốc Hai Sicilia là đối tượng của cuộc Viễn chinh Nghìn quân do Giuseppe Garibaldi lãnh đạo và sau đó bị Vương quốc Sardegna của nhà Savoia xâm lược. Franceso II nhà Bourbon buộc phải chạy khỏi Napoli, rút về Gaeta cùng với một phần quân đội của mình. Sau trận chiến Volturno và đỉnh điểm là cuộc vây hãm Gaeta, Napoli chính thức được sát nhập vào Vương quốc Ý còn non trẻ vào năm 1861 trong tiến trình thống nhất nước Ý, chấm dứt kỷ nguyên thống trị của Nhà Bourbon.

Năm 1864, Vương quốc Ý đã bị ràng buộc bởi Hiệp ước Tháng Chín với Đệ Nhị Đế chế Pháp của Napoléon III, buộc phải dời thủ đô khỏi Torino.[70] Trong số các lý do trong lựa chọn dời đô đến Napoli vì những lý do quân sự gồm có: Napoli được xem là nơi ưa chuộng cùng với Firenze (thứ nhất được “bảo vệ” bởi dãy Appennini và thứ hai bởi biển Tyrrhenum).[71] Thành phố Napoli vì lý do chính trị, được đa số nội các coi là ứng cử viên đặc biệt thích hợp, nhưng không nhận được sự ủng hộ của nhà vua. Vị quân vương cho rằng Firenze là thành phố phù hợp hơn với vai trò thủ đô lâm thời,[72] lựa chọn này đã được thông qua ủy ban gồm năm vị tướng được gọi để quyết định, vì Napoli sẽ không đủ khả năng phòng thủ với hạm đội Ý vốn không hề ngang tầm với hạm đội Pháp hoặc Anh.[73]

Trên hết, việc dỡ bỏ các cấu trúc chính phủ trước đây sau khi bán đảo thống nhất,[75] kết hợp với hệ thống thuế và hải quan quốc gia mới kế thừa từ hệ thống Piemonte,[76] đã gây ra một cuộc khủng hoảng công nghiệp và xã hội sâu sắc. Nền kinh tế của khu vực cựu Vương quốc Hai Sicilia rơi vào sa sút, dẫn đến làn sóng di cư chưa từng có,[77] với ước tính khoảng 4 triệu người di cư khỏi khu vực Napoli từ năm 1876 đến năm 1913.[78] Trong bốn mươi năm sau khi thống nhất, dân số Napoli chỉ tăng 26%, so với 63% của Torino và 103% ở Milano; tuy nhiên, đến năm 1884, Napoli vẫn là thành phố lớn nhất ở Ý với 496.499 dân, với khoảng 64.000 người trên một kilomet vuông (hơn hai lần mật độ dân số của Paris).[79]

250px Galleria Umberto I da piazza del Plebiscito

Nhà triễn lãm Umberto I – biểu tượng của tiến trình canh tân đô thị Risanamento

Điều kiện y tế công cộng của thành phố ở một số khu vực nhất định rất kém, với 12 trận dịch tả và sốt thương hàn gây ra cái chết của khoảng 48.000 người trong nửa thế kỷ 1834–1884, và tỷ lệ tử vong cao (vào thời điểm đó) là 31,84 phần nghìn trong thời kỳ không có dịch bệnh 1878–1883. Sau đó vào năm 1884, Napoli trở thành nạn nhân của một trận dịch tả lớn, nguyên nhân phần lớn là do cơ sở hạ tầng thoát nước kém của thành phố. Để đối phó với những vấn đề này, kể từ năm 1852 vương triều Bourbon đã thúc đẩy một cuộc canh tân thay đổi bộ mặt đô thị hoàn toàn được gọi là risanamento (nghĩa là “tái vệ sinh thành phố”) và sau đó được tiếp nối bởi chính phủ Ý với mục tiêu cải thiện cơ sở hạ tầng thoát nước và thay thế những khu vực tập trung nhất bằng những con đường lớn và thoáng mát vì đây được coi là nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém thông thoáng.[80] Dự án tỏ ra khó hoàn thành cả về mặt chính trị và kinh tế do tham nhũng như trong Cuộc điều tra Saredo, tình trạng đầu cơ đất đai và bộ máy quan liêu trì trệ, tất cả những điều này đã khiến dự án mất vài thập kỷ để hoàn thành kèm với kết quả không được như mong đợi. Trong thời kỳ này, nhiều tòa nhà và tượng đài đã bị phá bỏ, các khu phố và tòa nhà mới được xây dựng và các tuyến đường huyết mạch như Via Duomo, Viale Gramsci đã được mở ra, phố Caracciolo thay cho bãi biển dọc theo lối đi dạo, tạo ra Nhà triển lãm Umberto I và Nhà triển lãm Principe và xây dựng Diễu lộ Umberto.[81][82] Thời điểm lịch sử này rất trùng hợp với sự ra đời của nhiều buổi hòa nhạc cà phê (caffè-concerto) và một môi trường văn hóa xã hội năng động.[83]

Vào ngày 11 tháng 3 năm 1918 trong giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ nhất, mặc dù ở rất xa khu vực xung đột, thành phố đã bị ném bom bởi khí cầu L.58 hoặc LZ 104 của quân Đức khởi hành từ một căn cứ tại Bulgaria, khiến 16 dân thường thiệt mạng.

Thời kỳ Phát xít và Thế chiến thứ 2[sửa | sửa mã nguồn]

250px Mussolini adunata napoli 1922

Đại hội những người Áo Đen của Đảng Phát xít quốc gia với Mussolini đứng giữa sân khấu, Quảng trường Plebiscito.

250px Mt Vesuvius Erupting

Phi cơ ném bom của Không lực Hoa Kỳ bay ngang qua núi lửa Vesuvius trong lần phun trào sau cùng của nó tháng 3 năm 1944.

Vào đầu những năm 20 của thế kỷ 20, Napoli là trụ sở của một trong những tổ chức phong trào Phát xít lớn nhất của Ý do Aurelio Padovani đứng đầu; vào ngày 24 tháng 10 năm 1922, thành phố là nơi diễn ra cuộc họp mặt trọng đại của những người Áo Đen – bộ phận bán quân sự của Đảng Phát xít quốc gia, đây là hành động chuẩn bị cho cuộc Hành quân tới Roma.[84][85]

Với sự dịch chuyển trọng tâm kinh tế và chính trị của đất nước về phía Nam,[86] Mussolini đã dành cho Napoli vai trò thành phố cảng của Đế quốc Ý từ đó làm bàn đạp xâm lược thuộc địa,[87] đó là lý do tại sao vị lãnh tụ đã tiến hành kế hoạch đổi mới đô thị sâu sắc.[88] Những tòa nhà biểu tượng như Triển lãm Mostra d’Oltremare và tuyến đường sắt đầu tiên liên đô thị dưới lòng của Ý, được gọi là “đường sắt ngầm” nối Napoli-Pozzuoli.[89]

Chính vì vai trò tầm vóc này của nó mà trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Napoli là thành phố của Ý hứng chịu số lượng bom đạn nặng nề nhất.[14][90] Ngay sau khi Vương quốc Ý ký hiệp định đầu hàng quân Đồng Minh diễn ra vào ngày 8 tháng 9 năm 1943, quân Đức nhanh chóng chiếm đóng toàn bộ Ý và áp đặt kiểm soát lên phần lớn quân đội nước này. Napoli là nơi đầu tiên của toàn quốc diễn ra cuộc nổi dậy lịch sử của quần chúng được gọi là Bốn ngày Napoli (27-30 tháng 9 năm 1943) đánh đuổi quân Đức và chiếm được thành công vang dội, qua đó thúc đẩy phong trào kháng chiến Ý chống lại Đức Quốc Xã.[91] Thành phố được giải phóng hoàn toàn vào ngày 1 tháng 10 năm 1943, khi lực lượng Anh và Mỹ tiến vào thành phố.[92] Những người Đức rời đi đã đốt cháy thư viện của đại học, cũng như Hiệp hội Hoàng gia Ý. Họ cũng phá hủy cục lưu trữ của thành phố. Những quả bom hẹn giờ được đặt trên khắp thành phố tiếp tục phát nổ vào tháng 11.[93] Biểu tượng cho sự tái sinh của Napoli là việc xây dựng lại nhà thờ Thánh Chiara sau khi nhà thờ này đã bị phá hủy trong một cuộc tập kích ném bom của Quân đoàn Không quân Hoa Kỳ.[14]

Tái thiết thời Hậu chiến và Đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

200px Enrico De Nicola

Tổng thống đầu tiên của nước Ý Enrico De Nicola là người Napoli.

Không lâu sau khi thế chiến kết thúc, đã diễn ra một cuộc trưng cầu dân ý để quyết định giữ chế độ quân chủ hay trở thành nhà nước cộng hòa, và ở thành phố Napoli bấy giờ có đến 904.000 người ủng hộ phương án đầu tiên[94] với tư tưởng bảo hoàng vẫn còn rất mạnh mẽ ở miền Nam nước Ý nói chung. Vài ngày sau, với chiến thắng đa số (54,27%) thuộc về lựa chọn cộng hòa, Enrico De Nicola – người đến từ Napoli, được bầu làm tổng thống đầu tiên của nước Cộng hòa Ý.

Vào những năm 1950, giữa hiện tượng chính trị-xã hội được gọi là chủ nghĩa Laurism – bắt nguồn từ tên của vị doanh nhân và chính trị gia Achille Lauro, những cuộc đầu cơ bất động sản quy mô lớn đã ra đời. Napoli trong thời kỳ này mở rộng ra theo mọi hướng, tạo thành địa giới thành phố ngày nay là những vùng ngoại ô bao la dần chuyển thành các “quận” kết nối với trung tâm hơn.[95] Trong cùng thời kỳ, thành phố dần hồi phục sau sự tàn phá của chiến tranh, đã chứng kiến ​​sự ra đời của hoạt động điện ảnh rất mạnh mẽ, có ảnh hưởng trên cả nước và quốc tế.[96] Trận động đất Irpinia năm 1980 cũng đã ảnh hưởng đến Napoli: ở khu vực phía đông, một tòa nhà xây dựng nặng bị sập khiến 52 người thiệt mạng và ngành du lịch bị sụt giảm nghiêm trọng. Từ tình hình kinh tế và xã hội khó khăn như vậy đã khiến cho chính Camorra sinh sôi nảy nở. Nguồn vốn đặc biệt từ Quỹ dành cho miền Nam của chính phủ Ý đã tài trợ từ năm 1950 đến năm 1984, giúp nền kinh tế Napoli cải thiện phần nào, với các địa danh của thành phố như Quảng trường Plebiscito được cải tạo. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp cao tiếp tục ảnh hưởng đến Napoli.[97] Năm 1994, thành phố đăng cai tổ chức G7 và hội nghị thế giới của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức, do đó bắt đầu một thời kỳ tái sinh tương đối. Năm 1995, sau khoảng 10 năm xây dựng, quận trung tâm tài chính Napoli được hoàn thành, là cụm tòa nhà chọc trời đầu tiên ở Nam Âu.[98]

250px Universiadi1

Lễ khai mạc Thế vận hội Đại học mùa hè 2019 tại Napoli.

Truyền thông Ý cho rằng các vấn đề xử lý rác thải của thành phố trong quá khứ là do hoạt động của mạng lưới tội phạm có tổ chức Camorra, tên gọi của mafia tại Napoli.[99] Do vấn nạn này, ô nhiễm môi trường và việc gia tăng nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cũng phổ biến.[100] Năm 2007, chính phủ Silvio Berlusconi đã tổ chức các cuộc họp cấp cao tại Napoli để thể hiện ý định giải quyết những vấn đề này.[101] Tuy nhiên, cuộc đại suy thoái cuối những năm 2000 đã tác động nghiêm trọng đến thành phố, làm gia tăng các vấn đề về quản lý rác thải và thất nghiệp.[102] Đến tháng 8 năm 2011, số người thất nghiệp ở khu vực Nappoli đã lên đến 250.000 người, làm dấy lên các cuộc biểu tình phản đối tình hình kinh tế của công chúng.[103] Vào tháng 6 năm 2012, các cáo buộc đe dọa, tống tiền và đấu thầu hợp đồng bất hợp pháp xuất hiện liên quan đến các vấn đề xử lý rác của thành phố.[104][105]

Những năm gần đây, Napoli đã tổ chức Diễn đàn Đô thị Thế giới lần thứ 6 vào tháng 9 năm 2012[106] và Đại hội Phi hành vũ trụ Quốc tế lần thứ 63 vào tháng 10 năm 2012.[107] Năm 2013, nó là nơi tổ chức Diễn đàn Văn hóa Toàn cầu. Năm 2016 chứng kiến ​​thành phố trở thành ngôi nhà của Học viện đào tạo phát triển Lập trình Apple – học viện iOS đầu tiên của cả châu Âu.[108] Napoli cũng là nơi đăng cai tổ chức Thế vận hội Đại học mùa hè 2019.

Địa lý tự nhiên và địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí và địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

895px Naples from the Castello Sant Elmo with Abbazia San Martino
Toàn cảnh Vịnh Napoli từ đồi Vomero, có thể nhìn thấy núi lửa Vesuvius, bán đảo Sorrento, đảo Capri (ngoài xa) và bờ tây nam Posilipo (rìa bên phải hình)
189px N%C3%A1poles y Monte. Vesubio 2
Nhìn từ vệ tinh
Vesuvius SRTM3.png

1
2
3
4
5
6
7
8
9
Bản đồ địa hình khu vực thành phố đô thị Napoli
và vùng vịnh Napoli.

1
Phlegraei
2
Tp. Napoli
3
Herculaneum
4
Vesuvius
5
Pompeii
6
Procida
7
Vịnh Napoli
8
Capri
9
Sorrento

Thành phố tọa lạc tại khu vực duyên hải trung tâm Vịnh Napoli – một khu vực vùng vịnh phía tây miền Nam bán đảo Ý cách thủ đô Roma khoảng 230km về phía đông nam, “thống trị” bởi núi lửa Vesuvius và giáp với bán đảo Sorrento ở phía đông, và phía tây là dải cánh đồng hõm chảo miệng núi lửa có tên Phlegraei (Campi Flegrei hay Phlegraean Fields, “Cánh đồng Hỏa Diệm Liên Sơn”), phía tây bắc giáp với sườn nam của vùng đồng bằng Campania kéo dài từ hồ Patria (Lago di Patria) đến khu vực Nola. Giới hạn địa phận của thành phố Napoli nằm giữa cánh đồng Hỏa Diệm Phlegraei và phức hợp núi lửa Somma-Vesuvius. Đây là khu vực có lịch sử địa chất rất phức tạp, và lớp nền đất của thành phố có nguồn gốc nổi tiếng từ núi lửa và là sản phẩm do hàng loạt các vụ phun trào của hai khu phức hợp trên.[109]

Lãnh thổ của thành phố được cấu thành bởi rất nhiều ngọn đồi, điển hình nhất như đồi Vomero 250 mét tại khu vực trung tâm, Capodimonte 150 mét ở phía Bắc, Posilippo 78 mét tại bờ tây nam, và nơi cao nhất Napoli là ngọn đồi Camaldoli 457 mét (1.480 ft) – nằm ở khu vực ngoại ô phía Tây, ngoài ra còn bao gồm các hòn đảo (như Nisida, Gaiola, một vài đảo Phlegraei) và bán đảo (như Baia Trentaremi) nhìn ra biển Tyrrhenum. Những con sông nhỏ trước đây đi qua trung tâm thành phố đã bị bao phủ trong quá trình xây dựng. Sorrento và bờ biển Amalfi nằm ở phía nam thành phố, trong khi các tàn tích La Mã từng bị hủy diệt trong vụ phun trào núi Vesuvius năm 79 như Pompeii, Herculaneum, Oplontis và Stabiae cũng có thể được nhìn thấy gần đó. Các thị trấn cảng Pozzuoli và Baia, là một phần của cơ sở hải quân La Mã Portus Julius, nằm ở phía tây của thành phố.

Napoli từ lâu đã là một ngã tư Địa Trung Hải trọng yếu, không chỉ là điểm xuất phát của nhiều chuyến phà hay tàu cánh ngầm đến các đảo xung quanh (như Procida, Capri và Ischia) mà còn là đầu tuyến hàng hải đến các vùng địa lý khác như Sardegna, Sicilia, Quần đảo Eolie, Quần đảo Ponza, Corse và Tunisia.

Núi Veuvius[sửa | sửa mã nguồn]

250px Destruction of Pompeii and Herculaneum

Hủy diệt Pompeii và Herculaneum, tranh mô tả vụ phun trào núi Vesuvius năm 79.

Cách Napoli 9 km về phía đông là núi Vesuvius (Vesuvio trong tiếng Ý) tọa lạc bên bờ Vịnh Napoli – một trong những núi lửa nổi tiếng nhất thế giới và là ngọn núi lửa duy nhất còn hoạt động trên lãnh thổ châu Âu lục địa. Nó thuộc loại núi lửa hỗn hợp hình nón dạng tầng, được đặc trưng bởi các vụ phun trào có giai đoạn kèm theo các dòng dung nham, tro và mạt vụn, làm phát sinh sự chồng chéo về địa tầng khiến loại núi lửa này có kích thước lớn.[110][111]

Núi Vesuvius có hình dạng “lưng gù” đặc trưng, ​​bao gồm “Đại Nón” (Gran Cono) được bao bọc một phần bởi vành dốc của khu vực hõm chảo tạo ra từ sụp đổ của một cấu trúc cao hơn nhiều trước đó có tên là đỉnh Somma[112] – vì lý do này, núi lửa Vesuvius còn được gọi là “phức hợp Somma-Vesuvius”.[113] Đại Nón – nón núi lửa trung tâm mới của Vesuvius – là kết quả của vụ phun trào năm 79, được xem là một trong những vụ phun trào nổi tiếng nhất trong lịch sử thế giới. Với sức mạnh hủy diệt khủng khiếp, Vesuvius đã phun ra một đám mây chứa đầy mạt vụn núi lửa và khí núi lửa siêu nóng đến độ cao 33 km, bắn ra dung nham, đá núi lửa, đá bọt dạng bột và tro nóng với khối lượng 1,5 triệu tấn mỗi giây, giải phóng năng lượng nhiệt gấp 100.000 lần hai vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki cộng lại, xóa sổ các thành phố Pompeii, Herculaneum, Oplontis và Stabiae cũng như chôn vùi nhiều khu định cư La Mã khác bên dưới những lớp mạt núi lửa và đá tro ngưng tụ.[114][115][116]

250px Parco nazionale vesuvio

Đỉnh “Đại Nón” (Gran Cono), phía sau là khu vực Pompeii và bán đảo Sorrento.

Hõm chảo núi lửa bắt đầu hình thành trong một vụ phun trào khoảng 17.000-18.000 năm trước,[117][118][119] được mở rộng bởi các vụ phun trào bộc phát và định hình sau cùng bằng lần phun trào năm 79.[120] Cấu trúc này đã được dùng để đặt tên cho thuật ngữ “núi lửa somma”, mô tả bất kỳ ngọn núi lửa nào có hõm chảo trên đỉnh bao quanh một hình nón mới hình thành sau nó.[121] Chiều cao của đỉnh Đại Nón liên tục thay đổi do các vụ phun trào, độ cao gần đây được đo vào năm 2010 là 1.281 mét (4.203 ft).[118] Đỉnh Somma cao 1.132 mét (3.714 ft), ngăn cách với Đại Nón bởi thung lũng có tên là Atrio di Cavallo (nghĩa là “sảnh ngựa”) dài 5 km (3,1 dặm). Các sườn của núi lửa hình thành sẹo bởi các dòng dung nham, trong khi phần còn lại có thảm thực vật dày đặc, với cây bụi và rừng ở phía trên và vườn nho ở chỗ có độ cao thấp hơn. Vesuvius vẫn được xem là một ngọn núi lửa đang hoạt động, mặc dù hoạt động hiện tại của nó chủ yếu tạo ra các đám hơi nước giàu lưu huỳnh từ các lỗ thông hơi và vết nứt ở đáy và thành của miệng núi lửa. Vesuvius là một núi lửa phức hợp dạng tầng ở ranh giới hội tụ nơi mảng kiến tạo châu Phi đang bị chồng lấp bên dưới mảng Á-Âu. Các lớp dung nham, tro, scoria và đá bọt cấu thành nên đỉnh núi lửa.[122] Nó là ngọn núi lửa duy nhất trên phần đất liền của châu Âu đã từng phun trào trong hàng trăm năm qua. Ngày nay, nó được coi là một trong những ngọn núi lửa nguy hiểm nhất trên thế giới vì dân số hơn 3 triệu người sống ở các đô thị xung quanh đủ gần để chịu ảnh hưởng bởi một vụ phun trào kèm theo những đám mây bốc khói mù mịt và những dòng dung nham nóng chảy, trong đó hơn 600.000 người nằm trong zona rossa (“vùng đỏ”) nguy hiểm trực tiếp, khiến nơi đây trở thành khu vực núi lửa đông dân cư nhất trên thế giới,[123][124] kèm với xu hướng phun trào bùng nổ dữ dội, được gọi là phun trào kiểu Plinius hoặc kiểu Vesuvius (Plinian eruptions hoặc Vesuvian eruptions).[125]

900px Vesuvio landscape

Núi Vesuvius – biểu tượng của thành phố Napoli. Từ trái sang phải lần lượt là các đỉnh Somma và Đại Nón, ảnh chụp lúc hoàng hôn.

Vesuvius được xem là biểu tượng nổi tiếng nhất của Napoli,[126][127] mặc dù trên thực tế ngọn núi không bao gồm trong địa giới hành chính của thành phố này. Nó là thành phần trực quan nổi bật nhất trong cảnh quan của vịnh Napoli. Vesuvius được người Hy Lạp và La Mã hiến dâng cho người anh hùng á thần Heracles/Hercules trong thần thoại (tiếng Ý: Ercole), và từ đó đặt tên cho thành phố La Mã Herculaneum (nghĩa là “thành phố của Hercules”, ngày nay là Ercolano của Ý) được xây dựng bên cạnh, trên nền chân núi.[128]

Vành đai núi lửa và nguy cơ hiểm họa[sửa | sửa mã nguồn]

217px Phlegraean Fields Relief Map%2C SRTM 1
Bản đồ địa hình khu vực cánh đồng Phlegraei phía tây thành phố Napoli
217px Pozzuoli NASA ISS004 E 5376 added names
Ảnh NASA chụp Phlegraei và vịnh Pozzuoli, một bộ phận của vịnh Napoli

Ngoài Vesuvius ở phía đông, một thực thể nguy hiểm tiềm tàng khác có tên gọi Cánh đồng Phlegraei (tiếng Hy Lạp: Φλεγραῖον πεδίον, cánh đồng/quảng trường lửa cháy) là vùng hõm chảo khổng lồ nằm ở phía tây, một siêu núi lửa cổ xưa bao gồm dải 24 miệng núi lửa lớn nhỏ, phần lớn trong số chúng nằm dưới mặt nước điển hình như hồ Averno. Nơi đây thường diễn ra các hoạt động nhiệt dịch, giải phóng khí gas cũng như hiện tượng nâng lên và chìm xuống của đất liền theo thời gian. Nổi tiếng nhất trong quần thể này là núi lửa Solfatara – được xem là trụ xứ của vị thần La Mã Vulcan và Núi Mới (Monte Nuovo) – được tạo ra trong vụ phun trào 8 ngày liền vào năm 1538. Cánh đồng Hỏa Diệm bao gồm các phường Agnano và Fuorigrotta của Napoli, và vùng ngoại thành như Pozzuoli, Bacoli, Monte di Procida, Quarto, và các hòn đảo Ischia, Procida và Vivara. Hiện tại khu vực Phlegraei có thể tham quan bằng đường bộ, nó chứa nhiều khói và có thể nhìn thấy hơi nước bốc ra cũng như hơn 150 vũng bùn đang sôi. Với vị thế địa lý đặc biệt gồm vành đai các núi lửa này, vùng đô thị Napoli là một trong những khu vực nguy hiểm nhất thế giới và là đối tượng chịu nhiều nguy cơ đe dọa từ các vụ phun trào núi lửa và nguy cơ địa chấn, bằng chứng rõ nhất trong thế kỷ 20 là những tàn phá do trận động đất các năm 1930 và 1980 đã khiến hàng ngàn người thiệt mạng, riêng ở Napoli đã có hàng chục công trình bị chôn vùi, bao gồm một tòa nhà căn hộ 10 tầng.[129] Theo phân loại địa chấn quốc gia của Ý, địa phận thành phố Napoli nằm trong vùng 2 (địa chấn trung bình).[130]

250px Osservatorio

Tòa nhà cổ của Đài quan sát Vesuvius, đài quan sát núi lửa đầu tiên trên thế giới.

Để lường trước những rủi ro của một vụ phun trào núi lửa, các kế hoạch sơ tán cho thành phố đang được nghiên cứu.[131] Kế hoạch giả định thông báo từ hai tuần đến 20 ngày về một vụ phun trào và dự đoán việc sơ tán khẩn cấp hơn 600.000 người sống trong “vùng đỏ” tức có nguy cơ chịu hiểm họa cao nhất từ các luồng mạt vụn núi lửa,[125][132] và sau đó là quần thể triệu dân của Napoli. Việc sơ tán, bằng tàu hỏa, phà, ô tô và xe buýt, được lên kế hoạch kéo dài khoảng 7 ngày, và những người sơ tán chủ yếu sẽ được gửi đến các vùng khác của quốc gia thay vì đến các nơi an toàn trong khu vực Campania và có thể phải tránh xa khu vực trong vài tháng. Tuy nhiên, vấn đề nan giải sẽ phải đối mặt ngoài số lượng dân cư khổng lồ với những người thực hiện kế hoạch là khi nào bắt đầu cuộc đại di tản này: nếu bắt đầu quá muộn, hàng nghìn người có thể thiệt mạng; trong khi nếu bắt đầu quá sớm, các dấu hiệu của một vụ phun trào có thể trở thành báo động giả. Năm 1984, 40.000 người đã phải sơ tán gấp khỏi khu vực Phlegraei nhưng không có vụ phun trào nào xảy ra.[132] Các nỗ lực liên tục đang được thực hiện bởi chính phủ ở nhiều cấp (đặc biệt là chính quyền vùng Campania) để giảm dân số sống trong vùng đỏ, bằng cách phá bỏ các tòa nhà xây dựng trái phép, thành lập một công viên quốc gia xung quanh toàn bộ núi lửa để ngăn chặn việc xây dựng các tòa nhà trong tương lai[132] và bằng cách cung cấp đủ các biện pháp khuyến khích tài chính cho những người chuyển đi nơi khác.[133] Một trong những mục tiêu cơ bản là giảm thời gian cần thiết để di tản khỏi khu vực xuống còn hai hoặc ba ngày trong vòng hai mươi đến ba mươi năm tới.[134]

Bên cạnh đó, các núi lửa và lò magma của nó phải được theo dõi liên tục và cẩn thận một cách khoa học. Đài quan sát Vesuvius (Osservatorio Vesuviano) được thành lập năm 1851 bởi Ferdinand II của nhà Bourbon là đài quan sát núi lửa và viện nghiên cứu ngành núi lửa học lâu đời nhất thế giới, có nhiệm vụ giám sát chặt chẽ Vesuvius, cánh đồng Phlegraei và đảo Ischia, nhờ mạng lưới rộng lớn của các trạm đo đạc địa chấn và trọng lực, sự kết hợp của mảng trắc địa GPS và radar độ mở tổng hợp dựa trên vệ tinh để đo lường những chuyển động trên mặt đất và bằng các cuộc khảo sát địa vật lý cũng như phân tích hóa học khí thải ra từ các lỗ phun (fumarole). Tất cả nhằm mục đích theo dõi trạng thái magma bên dưới núi lửa.[135]

250px Campi Flegrei

Lưu huỳnh tại miệng núi lửa Solfatara.

Vào năm 2009 các nhà nghiên cứu đã nói rằng hoạt động bề mặt của trung tâm miệng núi lửa gần Pozzuoli có thể báo trước một sự kiện phun trào trong vòng nhiều thập kỷ tới.[136] Vào năm 2012, Chương trình Khoan Khoa học Lục địa Quốc tế (International Continental Scientific Drilling Program – ICSDP) đã lên kế hoạch khoan 3,5 km (11.000 ft) dưới dưới mặt đất gần Pompeii, để theo dõi buồng magna nóng chảy khổng lồ bên dưới và đưa ra cảnh báo sớm về bất kỳ vụ phun trào nào. Các nhà khoa học địa phương lo ngại rằng bản thân việc khoan như vậy có thể gây ra một vụ phun trào hoặc động đất. Năm 2010, hội đồng thành phố Napoli đã tạm dừng dự án khoan này. Các nhà khoa học của chương trình cho biết chương trình khoan này không khác gì so với việc khoan công nghiệp trong khu vực, thị trưởng mới được bầu sau đó đã cho phép tiếp tục dự án. Một bài báo của Reuters nhấn mạnh rằng khu vực này có thể thức tỉnh một “siêu núi lửa” giết chết hàng triệu người.[137] Vào tháng 12 năm 2016, hoạt động địa chất trở nên cao đến mức người ta lo sợ sẽ có một vụ phun trào.[138] Vào tháng 5 năm 2017, một nghiên cứu mới của UCL và Đài quan sát Vesuvius được công bố trên tạp chí Nature Communications đã tiết lộ rằng một vụ phun trào có thể xảy ra gần hơn những gì đã nghĩ trước đây. Nghiên cứu cho thấy tình trạng bất ổn địa lý kể từ những năm 1950 có tác động tích lũy, gây ra sự tích tụ năng lượng trong lớp vỏ và khiến núi lửa dễ bị phun trào hơn.[139][140][141][142]

Vào ngày 21 tháng 8 năm 2017, đã có một trận động đất mạnh 4 độ Richter ở rìa phía tây của khu vực cánh đồng Phlegraei.[143] Hai người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương ở Casamicciola trên bờ biển phía bắc đảo Ischia, phía nam của tâm chấn.[144] Vào Chủ nhật ngày 26 tháng 4 năm 2020, một trận động đất vừa phải đã tấn công vào vùng hõm chảo Phlegraei, bao gồm khoảng 34 trận động đất từ ​​0 đến 3,1 độ richter tập trung xung quanh thành phố cảng Pozzuoli.[145] Ở khu vực Vesuvius, không có magma nào được phát hiện trong vòng 10 km tính từ bề mặt, và do đó núi lửa này hiện tại được đài quan sát phân loại ở Cấp độ Cơ bản hoặc Cấp độ Xanh.[135]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

250px VillePos

Bờ biển khu vực phường Posillipo.

Napoli sở hữu lằn ranh giữa khí hậu Địa Trung Hải (Csa) và cận nhiệt đới ẩm (Cfa) trong phân loại khí hậu Köppen, vì chỉ có hai tháng mùa hè với lượng mưa dưới 40 mm (1,6 in), khiến nó không bị phân loại rạch ròi là cận nhiệt đới ẩm hay kiểu Địa Trung Hải. Một tháng mùa hè tại đây nhận được một lượng mưa vượt quá 40 mm.[146][147] Số lượng ngày nắng dồi dào của “Thành phố Mặt Trời” trung bình chiếm khoảng 250 ngày trong một năm.[148] Khí hậu và độ phì nhiêu của Vịnh Napoli đã khiến khu vực này trở nên nổi tiếng trong thời La Mã, khi các hoàng đế như Claudius và Tiberius thường đi nghỉ mát gần thành phố. Khí hậu nơi đây là sự giao thoa giữa các đặc điểm hải dương và lục địa, một kiểu đặc trưng của bán đảo Ý. Đặc điểm hải hương có mùa đông ôn hòa nhưng đôi khi gây ra mưa lớn, đặc biệt là vào các tháng thu và đông trong khi mùa hè khá giống với các khu vực nội địa xa hơn về phía bắc của quốc gia với nhiệt độ và độ ẩm cao. Ảnh hưởng của lục địa vẫn đảm bảo nhiệt độ cao nhất vào mùa hè trung bình gần 30°C (86°F), và Napoli nằm trong phạm vi khí hậu cận nhiệt đới với trung bình hàng ngày vào mùa hè trên 22°C (72°F) với ngày nóng, đêm ấm và thỉnh thoảng có dông vào mùa hè. Mùa đông ôn hòa với tuyết rất hiếm khi rơi trong thành phố mà thường đọng lại trên đỉnh núi Vesuvius. Tháng mười một là tháng ẩm ướt nhất ở Napoli trong khi tháng bảy là khô nhất.

Dữ liệu khí hậu của Napoli-Capodichino, phường ngoại ô thành phố (độ cao: 72 mét (236 foot) so với mực nước biển.[149])
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 21.1 22.8 27.8 27.4 34.8 37.4 39.0 40.0 37.2 31.5 26.0 24.4 40
Trung bình cao °C (°F) 13.0 13.1 15.6 17.4 23.0 26.5 29.8 30.8 26.8 22.7 17.3 14.3 20,9
Trung bình ngày, °C (°F) 8.7 8.8 11.0 12.9 17.8 21.3 24.3 24.9 21.4 17.1 12.5 9.9 15,88
Trung bình thấp, °C (°F) 4.4 4.5 6.3 8.4 12.6 16.2 18.8 19.1 16.0 12.1 7.8 5.6 11,0
Thấp kỉ lục, °C (°F) −5.6 −3.8 −3.6 0.8 5.0 9.0 11.2 11.4 5.6 2.6 −3.4 −4.6 −5,6
Giáng thủy mm (inch) 92.1
(3.626)
95.3
(3.752)
77.9
(3.067)
98.6
(3.882)
59.0
(2.323)
32.8
(1.291)
28.5
(1.122)
35.5
(1.398)
88.9
(3.5)
135.5
(5.335)
152.1
(5.988)
112.0
(4.409)
1.008,2
(39,693)
Số ngày giáng thủy TB (≥ 1.0 mm) 9.3 9.1 8.6 9.3 6.1 3.3 2.4 3.7 6.1 8.5 10.2 9.9 86,5
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 114.7 127.6 158.1 189.0 244.9 279.0 313.1 294.5 234.0 189.1 126.0 105.4 2.375,4
Nguồn: Servizio Meteorologico[150] và Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (1961-1990, độ ẩm)[151]
Nhiệt độ trung bình nước biển (Duyên hải vịnh Napoli):[152]
Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Tháng 7 Tháng 8 Tháng 9 Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12 TB Năm
14,6 °C (58,3 °F) 13,9 °C (57,0 °F) 14,2 °C (57,6 °F) 15,6 °C (60,1 °F) 19,0 °C (66,2 °F) 23,6 °C (74,5 °F) 25,9 °C (78,6 °F) 26,0 °C (78,8 °F) 24,9 °C (76,8 °F) 21,5 °C (70,7 °F) 19,2 °C (66,6 °F) 16,4 °C (61,5 °F) 19,6 °C (67,3 °F)

Cảnh quan thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm lịch sử Napoli
Centro storico di Napoli
UNESCO logo.svg Welterbe.svg


Di sản thế giới của UNESCO

Targa unesco na.jpg

Tại quảng trường Gesù Nuovo có thể nhìn thấy
bia văn tự ghi nhận Napoli
là thành phố Di sản UNESCO của nhân loại
Tên chính thức
Tiếng Anh Historic Centre of Naples
Tiếng Pháp Centre historique de Naples
Thông tin khái quát
Quốc gia 23px Flag of Italy.svg Ý
Diện tích 1.021 ha (2.520 mẫu Anh)
Kiểu Văn hóa
Tiêu chuẩn (ii), (iv)
Tham khảo 726
Vùng UNESCO Châu Âu và Bắc Mỹ
Công nhận 1995 (kỳ họp thứ 19)

Thấy Napoli rồi chết[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli6

See Naples and die

Vedi Napoli e poi muori” hay “See Naples and die” – câu ngạn ngữ nổi tiếng về Napoli có nghĩa rằng: “một khi ai đã nhìn thấy được thành phố Napoli, người ấy đã có thể mãn nguyện ra đi thanh thản, không còn gì để luyến tiếc và vướng bận, vì không gì khác có thể sánh được vẻ đẹp của Napoli”. Napoli là chốn giao thoa hội tụ giữa các giá trị đồ sộ về di tích lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ, di sản văn hóa tuyệt vời mang tầm đẳng cấp thế giới cộng với những cảnh trí danh thắng hùng vĩ nên thơ được thiên nhiên trù phú ban tặng, sự kết hợp đặc biệt này đã tạo nên câu nói thành danh trên – dùng để biểu cảm và nhấn mạnh cho vẻ đẹp độc đáo của thành phố, đồng thời nó cũng có thể ám chỉ đến sự hoàn thành tâm nguyện của một mong muốn quan trọng nào đó đến mức những sự tồn tại khác bên ngoài tâm nguyện ấy cũng không còn thiết tha ý nghĩa gì. Đại văn hào lỗi lạc thế giới người Đức Johann Wolfgang von Goethe đã trích dẫn lại câu ngạn ngữ trên một cách đầy cảm xúc và ấn tượng khi ông đến thăm Napoli vào năm 1787 trong chuyến hành trình du ngoạn đến Ý của mình.[153][154]

Lịch sử của Napoli được thể hiện như một mô hình thu nhỏ của lịch sử châu Âu được tạo thành từ các nền văn minh, các dân tộc và nhiều nền văn hóa khác nhau, in lên dấu ấn rõ nét của họ đọng lại trong hình hài khối di sản đồ sộ nổi bật của thành phố. Napoli cho đến nay là một trong những tòa thành có mật độ tài nguyên văn hóa, nghệ thuật và di tích cao nhất thế giới, được định nghĩa là “một thành phố có quá nhiều lịch sử để quản lý”. Trung tâm cổ kính của Napoli là sự hội tụ của thời gian, của nghệ thuật và biểu hiện đô thị trong khoảng ba nghìn năm, có ảnh hưởng sâu sắc đến châu Âu kể từ thời cổ đại. Trải qua ba thiên niên kỷ ấy đã lưu lại đây rất nhiều công trình hùng vĩ, từ các lâu đài thời Trung Cổ đến những tàn tích cổ đại xa xưa, và một loạt các địa điểm văn hóa và lịch sử quan trọng xung quanh, bao gồm Cung điện Caserta và tàn tích La Mã Pompeii và Herculaneum. Các hình thức kiến trúc nổi bật nhất có thể nhìn thấy ở Napoli ngày nay là phong cách Trung Cổ, Phục Hưng và Baroque.[155] Napoli có tổng cộng 448 nhà thờ lịch sử (trong số tổng cộng khoảng 1000 nhà thờ),[156] khiến nó trở thành một trong những thành phố đậm tính Công giáo nhất trên thế giới về số lượng nơi thờ tự. Năm 1995, khu trung tâm lịch sử Napoli được UNESCO công nhận là di sản thế giới, tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc duy trì danh mục và bảo tồn các địa điểm có tầm quan trọng về văn hóa hoặc thiên nhiên nổi bật đối với di sản chung của nhân loại.[157]

Lâu đài và pháo đài[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli là thành phố duy nhất trên thế giới có 7 tòa lâu đài nằm bên trong giới hạn địa phận của mình, từng hình thành nên một hệ thống phòng thủ vững chắc trong suốt chiều dài lịch sử, chúng bao gồm Lâu đài Trứng (Castel dell’Ovo), Lâu đài Mới (Castel Nuovo), Lâu đài Thánh Elmo (Castel Sant’Elmo), Lâu đài Capuano (Castel Capuano), Lâu đài Carmine (Castello del Carmine), Lâu đài Nisida (Castello di Nisida) và Pháo đài Vigliena (Forte di Vigliena), mà từ đó Napoli còn có biệt danh là “Thành phố của 7 tòa lâu đài” (Città dei Sette Castelli).[158]

250px CastelOvo

Lâu đài Trứng

Cổ kính nhất là Lâu đài Trứng nổi bật trong quang cảnh vịnh Napoli, được xây dựng trên hòn đảo nhỏ Megaride sát bờ, nơi mà những người Cumae đến đầu tiên và thành lập nên thành phố Parthenope. Tên của lâu đài bắt nguồn từ một truyền thuyết thời Trung Cổ về nhà thơ La Mã cổ đại Vergilius, theo đó vị thi sĩ kiêm phù thủy này đã đặt một quả trứng ma thuật vào nền móng để hỗ trợ công trình pháo đài, quả trứng vẫn còn ở đó cùng với xương của ông, và nếu quả trứng này bị vỡ, lâu đài sẽ bị phá hủy và một loạt các sự kiện thảm khốc tai ương sẽ đến với Napoli ngay sau đó.[159] Vào thời La Mã, hòn đảo nhỏ này trở thành một phần của biệt thự sang trọng Lucullus và sau đó nó là địa điểm mà Romulus Augustulus – vị hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã bị lưu đày. Phần còn lại của các cấu trúc thời La Mã và các công trình sau này đã bị phá hủy bởi chính cư dân địa phương vào thế kỷ thứ 9 để ngăn chặn việc nơi đây bị sử dụng bởi quân giặc cướp phá người Ả Rập – Saracen bấy giờ. Lâu đài Trung Cổ đầu tiên được xây dựng bởi người Norman vào thế kỷ 12, sau đó trải qua nhiều cuộc tái cấu trúc quan trọng khác dưới thời thống trị của vương triều Aragon, định hình nên phiên bản lâu đài hiện nay. Lâu đài Trứng đặc trưng bởi sự uy nghiêm, trên sân thượng có những khẩu đại bác và ngôi làng ven biển rất đặc trưng ngay dưới chân lâu đài.[160]

250px N%C3%A0pols Castel Nuovo

Lâu đài Mới buổi đêm.

Lâu đài Capuano được xây dựng bởi vua Guglielmo I xứ Sicilia người Norman, tên của lâu đài bắt nguồn từ địa điểm mà nó tọa lạc, nằm trên tuyến đường dẫn đến thành phố Capua (25 km về phía Bắc của Napoli). Lâu đài được Hoàng đế Federico II mở rộng và trở thành một trong những cung điện hoàng gia của ông. Thời triều đại Aragon chinh phục miền nam nước Ý và đưa thủ đô quay trở lại Napoli, một cuộc tu sửa lớn tại lâu đài bắt đầu. Theo dòng lịch sử, lâu đài là nơi cư ngụ của nhiều vị vua và nữ vương. Từ thế kỷ 16, tòa nhà được sử dụng làm trụ sở của các tòa án hay còn gọi là “Điện Công Lý Napoli”;[161] ngày nay nó mang lại một sự tương phản kiến ​​trúc đáng chú ý do nằm trong vùng lân cận của khu vực các tòa nhà chọc trời quận trung tâm tài chính Napoli.

Lâu đài Mới hay còn có tên gọi khác là Pháo đài Angevin (Maschio Angioino), là một trong những quang cảnh kiến trúc nổi tiếng nhất của thành phố; được xây dựng dưới thời Charles I nhà Anjou, vị vua đầu tiên của Vương quốc Napoli. Trong thời trị vì của Roberto Thông Thái nhà Anjou, lâu đài đã trở thành một trung tâm văn hóa đem lại lòng hiếu khách cho giới văn nghệ sĩ và tri thức trong đó có Giotto, Petrarca và Boccaccio. Thời vua Alfonso I nhà Aragon đã sử dụng lâu đài làm nơi ở của hoàng gia, bắt đầu công việc tái thiết và xây mới các tòa tháp để củng cố bức tường mặt ngoài và giữa 2 tòa tháp có Khải hoàn môn theo phong cách Phục Hưng ấn tượng để chào mừng chiến thắng của ông đến thành phố. Thời kỳ của vương triều này cũng chứng kiến sự chuyển đổi từ phức hợp lâu đài-cung điện thời Trung Cổ thành pháo đài kiên cố để phù hợp với nhu cầu lúc bấy giờ trong thời kỳ chiến loạn và khu vực xung quanh lâu đài đã mất đi tính chất dành cho dân cư đã từng tồn tại dưới thời Angevin. Cấu trúc của tòa lâu đài Aragon chắc chắn đồ sộ hơn so với phiên bản tiền triều của mình và khá tương đồng với lâu đài hiện tại mà ta đang thấy, là kết quả của việc giải phóng mặt bằng vào những năm đầu của thế kỷ 20. Ngày nay nó là địa điểm tổ chức các sự kiện văn hóa và cũng như là nơi tọa lạc Bảo tàng Thành phố.[162]

250px Castel Sant%27 Elmo panoramio %281%29

Quang cảnh đồi Vomero nhìn từ dưới lên, bên trái cao hơn là Lâu đài Thánh Elmo, bên phải thấp hơn là Đan viện Thánh Martino – nay là một bảo tàng quốc gia.

Một lâu đài nổi bật khác là Sant’Elmo, tọa lạc trên đỉnh của ngọn đồi Vomero có tầm quan trọng về vị trí chiến lược, khiến nó luôn trở thành mục tiêu thèm muốn của nhiều thế lực khác nhau: từ vị trí cao 250 mét so với mực nước biển có thể nhìn thấy toàn cảnh thành phố, khu vực vùng vịnh và những con đường dẫn đến Napoli từ những ngọn đồi xung quanh. Tòa ốc hùng vĩ này là lâu đài đầu tiên được xây dựng ở phía ngoài tường thành của thành cổ Napoli, trong kế hoạch toàn diện của phó vương Toledo nhằm mở rộng lãnh thổ đất đai của thành phố dựa trên địa thế 4 tòa lũy kiên cố. Lâu đài Thánh Elmo có cấu trúc hình ngôi sao 6 cạnh dưới sự thiết kế của nhà kiến trúc sư quân sự bậc thầy Pedro Luis Escriva xứ Valencia từ năm 1537 đến năm 1547. Trong cuộc nổi dậy của Masaniello vào năm 1647, người Tây Ban Nha đã ẩn náu ở Sant’Elmo để trốn thoát khỏi những người cách mạng cộng hòa. Trên thực tế, với kiểu thiết kế gọng kìm kép và nhiều vòng vây trong pháo đài và có tường cao bao quanh bởi hào, lâu đài hòa hợp vừa vặn một cách đáng ngưỡng mộ với địa hình của khu vực cũng như các chức năng chiến lược và phòng thủ của nó. Ngày nay Sant’Elmo có chức năng là một viện bảo tàng, phòng triển lãm và đồng thời là văn phòng thuộc Bộ Văn hóa Ý có nhiệm quản lý điều hành các bảo tàng quốc gia thuộc vùng Campania.[163][164]

Lâu đài Carmine xây dựng vào năm 1392 và được người Tây Ban Nha cải đổi nhiều lần vào thế kỷ 16, đã bị phá bỏ vào năm 1906 để nhường chỗ cho phố Via Marina, mặc dù hai trong số các tòa tháp của lâu đài hiện vẫn còn là một di tích. Pháo đài Vigliena, được xây dựng vào năm 1702, đã bị phá hủy vào năm 1799 trong cuộc chiến tranh bảo hoàng chống lại nền Cộng hòa Parthenope, hiện là một tàn tích bỏ hoang và đổ nát.[165][166]

Cung điện và tòa nhà lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

250px Palazzo reale panoramio %282%29

Cung điện Hoàng gia Napoli

Cung điện Hoàng gia Napoli (Palazzo Reale di Napoli) là một công trình lịch sử và địa điểm thu hút du khách nổi tiếng tọa lạc tại Quảng trường Plescibito trung tâm thành phố. Bắt đầu xây dựng từ năm 1600 bởi kiến trúc sư Domenico Fontana thời Phục Hưng hậu kỳ, làm nơi cư ngụ của các vị phó vương Tây Ban Nha, và vào giữa thế kỷ 17, vị kiến trúc sư Baroque Francesco Antonio Picchiatti đã tiến hành nhiều cải tiến và sửa sang chẳng hạn như cầu thang và nhà nguyện. Từ năm 1734 vua Carlos III đã chính thức biến nó trở thành dinh thự chính thức của vương triều Bourbon tại Napoli trong hơn 150 năm, đầu tiên là các vị vua của Napoli và Sicilia (1734-1816) và sau đó là các vị vua của vương quốc Hai Sicilia (1816-1861). Đây đồng thời cũng là nơi cư trú của Joseph Bonaparte và Joachim Murat trong thời gian cai trị ngắn ngủi của Pháp thời Napoléon (1806-1815), theo đó các công trình tái thiết rộng rãi đã được thực hiện. Nhà Bourbon đã thực hiện những sửa đổi quan trọng và liên tục đối với nội thất của cung điện, dựa vào những nghệ sĩ đại tài như Francesco De Mura hay Francesco Solimena. Tuy nhiên, sau trận hỏa hoạn năm 1837, cung điện đã phải xây dựng lại gần như mới hoàn toàn bởi Gaetano Genovese, ông cũng là người đã hoàn thành những mạn cánh công trình còn dang dở và tạo cho toàn bộ khu phức hợp một diện mạo đồng nhất. Sau quá trình thống nhất nước Ý năm 1861, cung điện thuộc về tay của nhà Savoia, cho đến khi vua Vittorio Emanuele III nhượng lại nó cho Nhà nước vào năm 1919. Từ cuối thế kỷ 19, mạn phía tây của cung điện được mở cửa cho công chúng tham quan như viện bảo tàng Căn hộ Hoàng gia và vào năm 1924, cánh phía đông của nó trở thành trụ sở của Thư viện quốc gia, tiếp tục mang chức năng này cho đến ngày nay.[167][168]

250px Reggia di Capodimonte 1

Cung điện Hoàng gia Capodimonte nay là một bảo tàng quốc gia nổi tiếng.

Cung điện Hoàng gia Capodimonte là một dinh cư khác của nhà Bourbon tại Napoli, cũng như Bonaparte và Murat và của nhà Savoia sau này. Nguyên thủy là một căn hộ mùa hè và bãi đi săn của các vị vua vương quốc Hai Sicilia, và cái tên “Capodimonte” có nghĩa là “đỉnh của ngọn đồi”, ban đầu nằm ngay bên ngoài thành phố về phía bắc và không khí nơi đây có phần mát mẻ hơn so với thành phố vào mùa hè. Khởi công vào năm 1738 theo lệnh của Carlos III, thay vì dựng nên một nhà nghỉ tạm trú tiện cho việc săn bắn thì vị vua quyết định xây dựng nơi đây một cung điện to lớn hoành tráng cũng như làm nơi để tổ chức và lưu giữ bộ sưu tập nghệ thuật Farnese tuyệt vời mà ông thừa hưởng từ thân mẫu của mình là Nữ vương Elisabetta của gia tộc Farnese – hậu duệ cuối cùng của Công quốc Parma. Năm 1760 vua Ferdinando IV đã ủy nhiệm cho cho kiến trúc sư Ferdinando Fuga mở mang phạm vi cung điện và thiết kế khuôn viên hoàng gia rộng lớn xung quanh trong khu rừng bên cạnh. Cung điện trải dài trên hai tầng và ở tầng đầu tiên là nơi tọa lạc của các căn hộ hoàng gia. Đồ đạc và nội thất thuộc về gia đình các triều đại đã sống trong dinh thự này một phần đã được thay đổi sửa sang lại và một phần vẫn còn giữ được nguyên bản; các yếu tố nổi bật trong đó bao gồm đồ sứ, vật dụng hàng ngày và tác phẩm điêu khắc và các bức tranh vẽ của các nghệ sĩ Ý và châu Âu trong thế kỷ 18 và 19. Công trình được sử dụng như một cung điện cho đến năm 1957, thời điểm mà nó trở thành Bảo tàng quốc gia Capodimonte – ngày nay là một trong những bảo tàng quốc gia nổi tiếng nhất và được viếng thăm nhiều nhất ở Ý, với tổng cộng 1.007.564 lượt khách tham quan đăng ký chính thức trong năm 2016.[169][170]

250px Napoli Albergo dei poveri

Nhà tế bần Hoàng gia dành cho Người nghèo, nay là tòa nhà hội nghị quan trọng.

Ngoài các cung điện hoàng gia ở trên, Napoli còn có một loạt những cung điện quý tộc và các công trình dân sự, tòa nhà lịch sử đáng chú ý nổi lên trong khoảng thời gian bắt đầu từ thời Trung Cổ cho đến tận ngày nay. Có đến hàng trăm trong số những công trình như vậy và chúng tạo thành một di sản rất phong phú về nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử dân sự được hình thành trong ít nhất 8 thế kỷ. Thánh Gianuariô của Người nghèo (San Gennaro dei Poveri) là một phức hợp tu viện và tôn giáo, sau chuyển thành bệnh viện thời Phục Hưng dành cho người nghèo, được người Tây Ban Nha xây dựng vào năm 1667. Đây là tiền thân của một dự án tham vọng hơn nhiều, Nhà tế bần Hoàng gia dành cho Người nghèo (Ospedale L’Albergo Reale dei Poveri) do Carlos III nhà Bourbon khởi xướng. Tòa nhà này dành cho những người nghèo khổ và bệnh tật của thành phố; mang lại một cộng đồng tự cung tự cấp, nơi người nghèo sẽ sống và làm việc. Mặc dù là một địa danh đáng chú ý, nó hiện không còn là một bệnh viện hoạt động, mà là một tòa nhà dành cho những cuộc hội nghị, triễn lãm, hòa nhạc quan trọng của thành phố.[171] Sau khi nước Ý thống nhất vào cuối thế kỷ 19, đại dự án khôi phục Napoli bắt đầu bao gồm việc phá bỏ toàn bộ khu vực và xây dựng các tòa nhà mới, những công trình có giá trị đáng kể như tòa nhà triễn lãm Umberto I. Napoli chứng kiến sự ra đời của các tòa nhà quan trọng như Dinh Bưu Điện (Palazzo delle Poste) mới hay Nhà hát Địa Trung Hải tại phức hợp Mostra d’Oltremare theo trường phái chủ nghĩa duy lý thời phát xít đầu thế kỷ 20.[172][173]

Tường thành và cổng thành[sửa | sửa mã nguồn]

250px Mura Greche panoramio

Di tích tường thành Hy Lạp cổ đại tại Quảng trường Bellini.

225px Napoli%2C 4 febbraio 2010

Cổng thành Thánh Gianuariô

Kể từ thời Hy Lạp, các bức tường thành kéo dài theo bố cục hình chữ nhật được giới hạn về phía bắc tại phố Via Foria ngày nay, phía nam giáp Corso Umberto I, phía tây là con đường Via San Sebastiano và phía đông là Via Carbonara.[174] Tường thành tiếp tục được củng cố vào thời La Mã,[175] do đó tạo thành trung tâm cổ đại của thành phố – tòa thành Neapolis. Những thay đổi đã được thực hiện để phù hợp trong bối cảnh tiếp nhận những người tị nạn từ vụ phun trào núi lửa Vesuvius vào năm 79 cho đến thời hoàng đế Valentinianus III.[174]

Napoli đã chứng kiến ​​sự thay triều đổi đại của nhiều thế lực ngoại bang khác nhau, đó là lý do tại sao thành phố phải trang bị cho mình những công sự kiên cố hùng mạnh chẳng hạn như Lâu đài Trứng được xây trực tiếp trên biển với chức năng phòng thủ thuần túy hay lâu đài Capuano dựng lên với mục đích bảo vệ vùng nội địa đồng thời cũng là nơi ở của hoàng gia. Trong thời kỳ Angevin, các bức tường thành kéo dài khoảng 4,5 km, thành cổ bấy giờ bao gồm diện tích khoảng 200 héc-ta với khoảng 30.000 cư dân.[174] Con hào ở phía bắc được gọi là carbonarius publicus vì rác thải được đổi tại đây, con hào ở phía tây Lavinaius nơi thoát nước mưa chảy vào trước khi tự đổ xuống biển. Những thay đổi tiếp theo trong bố cục tòa thành đã được thực hiện vào thế kỷ 13 bởi Charles I nhà Anjou hướng ra bến cảng chính bao gồm cả Lâu đài Mới – nơi ở của hoàng gia; và vào năm 1484 bởi người Aragon hướng tới khu Carmine và dựng nên lâu đài cùng tên và tháp canh Sant’Elmo, có chức năng kiểm soát thành phố nhờ vị trí thuận lợi trên đồi.[166]

250px Porta Capuana Naples 2013 05 16 10 19

Cổng thành Capuana

Trong thời kỳ phó vương Tây Ban Nha, các công trình xây dựng mới đã được thực hiện bất chấp lệnh tiền lệ cấm mở rộng thành phố ra bên ngoài các bức tường thành trước đó,[174] và lâu đài đảo Nisida và pháo đài Vigliena cũng ra đời trong thời kỳ này.[176] Cuối cùng, Doanh trại Garibaldi đại diện kiến trúc phòng thủ cuối cùng, được xây dựng ngay trước khi nước Ý thống nhất. Các lâu đài khác, hầu hết là các cung điện hoặc tu viện kiên cố, nằm bên ngoài các bức tường thành cổ. Đáng chú ý là hệ thống các pháo đài nhỏ dọc theo tường thành Finanziere là bức tường thành cuối cùng bao quanh thành phố thế kỷ 19.

Với sự phát triển của công nghệ quân sự và chiến tranh, các bức tường thành cổ kính dần mất đi giá trị cho đến khi chúng biến mất hoàn toàn. Các bức tường ban đầu nằm xen kẽ với một loạt các tòa tháp, đầu tiên được dựng lên bằng đá tro núi lửa và sau đó bằng đá magma và đá nham thạch, cùng với một loạt các cổng thành mà các chứng tích của chúng ngày nay vẫn còn hiện hữu như Cổng thành Medina (1640) ở phường Montesanto, Cổng thành Thánh Gianuariô (1573) hiện ở Quảng trường Cavour, Cổng thành Capuana có nguồn gốc cổ xưa, Cổng Bình Minh Port’Alba (1625) ở Quảng trường Dante. Một số tòa tháp canh vẫn còn tồn tại đến ngày nay điển hình như Tháp Ranieri và Tháp Thánh Đa Minh.

Nhà thờ và công trình tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

250px Facciata Duomo di Napoli BW 2013 05 16

Nhà thờ chánh tòa Napoli

Các tòa nhà tôn giáo là một bộ phận thiết yếu trong hệ thống di sản đồ sộ của Napoli. Thành phố này có vai trò ngai giám mục của Tổng giáo phận Napoli, và Công giáo Rôma là tôn giáo rất quan trọng đối với người dân địa phương.[157] Nổi tiếng hàng đầu là Nhà thờ chánh tòa Napoli hay tên chính thức là “nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời” hoặc còn có tên khác là “nhà thờ Thánh Gianuariô” – vị thánh bảo hộ của thành phố. Nhiều nơi thờ tự đáng chú ý khác gồm có Vương cung thánh đường hoàng gia thuộc Giáo hoàng Thánh Phanxicô thành Paola tọa lạc tại quảng trường Plebiscito trung tâm, nhà thờ Thánh Girolamini, nhà thờ Chúa Ba Ngôi Cả (hay còn gọi là nhà thờ Tân Giêsu), nhà thờ Thánh Đa Minh Cả, vương cung thánh đường Chúa Thánh Thần, vương cung thánh đường Thánh Chiara với tu viện theo phong cách Gothic vùng Provençal dài 130 mét và cao 45 mét, cung thánh vương cung thánh đường Đức Mẹ Carmine Cả, vương cung thánh đường Thánh Phaolô Cả, vương cung thánh đường Đức Bà Sanità, nhà thờ Thánh Augustinô Cả, nhà thờ Thánh Lôrensô Cả, Thánh Martino, Nhà thờ Đức Bà cứu rỗi linh hồn ở Luyện ngục Arco, Nhà nguyện Thánh Severo, vân vân. Đan viện Thánh Martino, được xây dựng trên nền móng Gothic trước đó, chỉ riêng nó đã tạo thành một công trình kiến ​​trúc rất nổi bật, là một trong những ví dụ thành công nhất của thời kỳ Baroque.[177]

250px San Gennaro%27s chapel Dome %28Naples%29

Bên trong mái vòm nhà thờ chánh tòa

Số lượng các nhà thờ tại Napoli nằm trong khoảng một nghìn đơn vị,[178] khiến nó trở thành thành phố có nhiều nhà thờ nhất nhì trên thế giới chỉ sau thánh đô Roma. Trong khu vực tòa thành cổ đại (không nên nhầm lẫn với khu vực trung tâm lịch sử) có khoảng 300 nhà thờ có giá trị lịch sử, nghệ thuật và kiến ​​trúc to lớn.[179] Vào thế kỷ thứ mười tám, Napoli được mệnh danh là “Thành phố 500 mái vòm” (tiếng Ý: Città dalle 500 cupole).[180]

Mặc dù đã hoàn thành các đợt trùng tu khác nhau trong vòng 5 năm qua như nhà thờ San Carlo Mortelle, nhà thờ Đức Bà Cả Pietrasanta, khu phức hợp thánh đường Thánh Gia người Hoa, nhà thờ Đức Mẹ Lên Trời Pignatelli, nhà thờ Đức Mẹ Colonna hay đang thi công như Vương cung thánh đường Thánh Giacôbê Tiền của người Tây Ban Nha, khu phức hợp Girolamini, nhà thờ Đức Mẹ Portosalvo thì vẫn còn rất nhiều nhà thờ ang đóng cửa và trong tình trạng bảo tồn tồi tệ, thậm chí có giá trị đáng kể như nhà thờ Đức Bà Đại Ân Caponapoli, nhà thờ Ba Ngôi Cực Thánh Cesarea hay nhà thờ Đức Bà Cosmedin. Ngoài ra vẫn còn có vô số các miếu thờ linh thiêng dễ được nhìn thấy ven các con phố và mọi ngóc ngánh tại Napoli,[181] các tu viện hoành tráng và các khu nghĩa trang, chẳng hạn như nghĩa trang Poggioreale, một trong những nghĩa trang lớn nhất ở châu Âu.[182]

Quảng trường, đường phố và nơi công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli Piazza del Plebiscito 2010 by RaBoe 56

Quảng trường Plebiscito

Quảng trường chính của thành phố là Quảng trường Plebiscito nằm trước mặt tiền của Cung điện Hoàng gia, tạo thành một hình vòng cung elip ở giữa là hai bức tượng cưỡi ngựa, một là tượng vua Carlos III, tác phẩm của Antonio Canova, và tượng còn lại là vua Fernando I kỷ niệm sự trở lại nắm quyền của nhà Bourbon, sau thời kỳ chiếm đóng của Napoléon chiếm đóng và chính phủ Joachim Murat. Kể từ năm 1994, khi Napoli tổ chức hội nghị thượng đỉnh G7, quảng trường không còn được sử dụng làm bãi đỗ xe nữa và nó phục hồi tầm quan trọng trước đây như một không gian công cộng, nơi thường xuyên tổ chức các buổi hòa nhạc, biểu tình và thậm chí là biểu diễn opera vào dịp Giáng sinh.[183]

Tại quảng trường này tọa lạc Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô thành Paola. Với việc phá hủy các căn hộ ở Công trường Cung điện (Largo di Palazzo) xưa vào năm 1809, Murat đã giải phóng địa hình rộng rãi mà ngày nay tạo nên quảng trường, nhằm mục đích biến nơi đây trở thành một diễn đàn, trong đó sẽ một tòa nhà dân sự hoành tráng có dạng hình vòng cung sẽ ở vị trí đối diện với Cung điện Hoàng gia. Với sự trở lại nắm quyền của Ferdinando IV, tòa nhà dân sự được chuyển sang sử dụng cho mục đích tôn giáo và vào năm 1824, khu phức hợp nhà thờ được hoàn thành, cao 53 m, với 38 thức cột Doric mở rộng và một mái cổng hoành tráng đối ứng về phía Cung điện Hoàng gia, ý định của vị kiến ​​trúc sư là khôi phục quảng trường làm trung tâm của các hoạt động chính trị, tôn giáo, kinh tế và văn hóa trong thành phố.[184] Gần đó là Nhà hát Thánh Carlo, là nhà hát opera lâu đời nhất ở Ý. Ngay đối diện với San Carlo là Nhà triễn lãm Umberto I, một trung tâm mua sắm và địa điểm tụ tập giao lưu công cộng.

250px Monument of Dante Alighieri in Piazza Dante Napoli. Campania%2C Italy%2C South Europe 2

Quảng trường Dante

Lâu đời nhất là Quảng trường Dante, được biết đến với cái tên Mercatello vào thế kỷ 16 và 17, vì nó từng là nơi tập trung lượng lớn các trạm sạp giao thương buôn bán. Giữa năm 1757 và 1765, quảng trường đã được xây dựng lại hoàn toàn bởi kiến trúc sư Luigi Vanvitelli, ông đã lên kế hoạch với một bức tượng của vua Carlos III ở chính giữa quảng trường, nhưng chưa bao giờ thực hiện được bởi khi Napoléon xâm lược thành phố, “cây tự do” (tiếng Pháp: L’arbre de la liberté) – biểu tượng của Cách mạng Pháp đã được trồng và dựng lên tại đây. Tòa nhà chính trên quảng trường có hai cánh cong đặc trưng, ở phía trên có 26 bức tượng đại diện cho những phẩm hạnh và đức tính của vua Carlo và một tháp đồng hồ được dựng lên ở thời sau này. Khi nước Ý thống nhất, bức tượng của đại thi hào Dante Alighieri được đặt ở trung tâm và từ đó quảng trường có tên gọi như ngày nay. Năm 2002, quảng trường được trùng tu bởi kiến trúc sư Gae Aulenti, giờ đây rộng rãi hơn và được trang bị một mái khung bằng kính rất bắt mắt là lối vào của nhà ga tàu điện ngầm mang cùng tên.[185][186]

Ngoài Plebiscito và Dante, Napoli còn có quảng trường công cộng lớn khác là Quảng trường Thánh Tử đạo (Piazza dei Martiri), ban đầu chỉ có đài tưởng niệm các vị tử đạo tôn giáo, nhưng vào năm 1866, sau khi nước Ý thống nhất, bốn con sư tử đã được thêm vào, đại diện cho bốn cuộc nổi dậy chống lại nhà Bourbon.[187] Quảng trường Tân Giê-su (Piazza del Gesù Nuovo) – một trong những quảng trường quan trọng nhất của khu vực phố cổ trung tâm lịch sử Napoli – tọa lạc ngay trước mặt của nhà thờ cùng tên và ở trung tâm là Tượng đài bút tháp Vô nhiễm nguyên tội, cao 34 mét, với tượng Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội được dựng vào năm 1747; nơi đây vào ngày 8 tháng 12 hàng năm lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội được cử hành bằng cách đặt vòng nguyệt quế lên tôn tượng của Đức Mẹ.[185] Tại quảng trường này có thể tìm thấy bia văn tự chứng nhận của UNESCO về di sản thế giới của thành phố Napoli. Một quảng trường rất nổi bật khác chính là Quảng trường Garibaldi – nơi nhộn nhịp và tấp nập nhất tại Napoli, do vị trí mà nó tọa lạc: trước mặt Napoli Centrale – nhà ga chính của thành phố, cũng như là nút giao thông công cộng trọng điểm cũng như là phức hợp chuyển trạm sang các tuyến tàu vùng, tàu đô thị và các tuyến tàu điện ngầm khác nhau.[188]

250px Via Toledo in Napoli

Phố Toledo

Một trong số những đường phố chính nổi bật nhất ở trung tâm Napoli là phố Via Toledo – mang tên kỷ niệm vị phó vương Pedro Álvarez de Toledo trong thời kỳ Tây Ban Nha – người đã xây dựng nó vào năm 1536. Con phố này là một trong những huyết mạch thương mại chính của thành phố, nơi có các cửa hàng của các nhà thiết kế chính. Nó đồng thời là một điểm thu hút khách du lịch quan trọng vì là con đường tọa lạc nhiều cung điện và tòa nhà như trụ sở của Ngân hàng Napoli, Điện Doria d’Angri, Điện Zevallos (hay Colonna di Stigliano), Nhà thờ Chúa Thánh Thần, cửa vào phía đông của Nhà triễn lãm Umberto I, nhà thờ Thánh Fernando và Quảng trường Trieste e Trento – cùng với Quảng trường Plebiscito giáp ngay tiếp theo đó.[189][190]

Phố San Gregorio Armeno thu hút khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 1 tức độ dịp nghỉ lễ Giáng sinh và đón chào năm mới. Đây là chợ máng cỏ – dựng cảnh Chúa giáng sinh lớn nhất và nổi tiếng nhất thành phố, một truyền thống đặc trưng của địa phương, nơi bạn có thể tìm thấy những mô hình tinh tế và độc đáo nhất của Chúa hài đồng Giê-su, Mẹ Maria, Thánh Giuse cùng những người chăn cừu, các vị thánh và nhiều tác phẩm khác đại diện cho thành Nazareth thời bấy giờ. Con phố lấy tên từ nhà thờ quan trọng được xây dựng từ năm 1574 đến năm 1580 với các bức bích họa bên trong của đại họa sĩ Luca Giordano.[191][192]

Phố Via dei Tribunali có tiền thân là đại lộ trung tâm quan trọng nhất của thành phố Neapolis thời cổ đại. Tuyến phố này chạy từ nhà thờ San Pietro a Majella và Nhạc viện Napoli bên cạnh nằm ở đầu mút phía tây của thành phố cổ, kéo dài trong khoảng một cây số và giao với một loạt những con đường và di tích quan trọng như San Gregorio Armeno và Via Duomo gần Nhà thờ chính tòa, và kết thúc tại Lâu đài Capuano – trụ sở của tòa án Napoli (tiếng Ý: Tribunale), từ đó bắt nguồn tên của con phố này. Một tuyến đường cổ quan trọng khác là Spaccanapoli, một trong ba đại lộ Đông Tây quan trọng của thành phố thời Hy Lạp – La Mã xưa, nó trở nên quan trọng trong khoảng thời gian từ thời Trung Cổ đến thế kỷ 19 vì là nơi tổ chức hội họp của các dòng tu khác nhau và là nơi ở của các gia đình quyền thế.[193]

Với chiều dài 1,3 km, diễu lộ Corso Umberto I (còn được gọi là Rettifilo vì nó chạy trên một đường thẳng tắp) tạo thành một huyết mạch cơ bản của thành phố, nối Quảng trường Garibaldi với Quảng trường Bovio. Đường phố được quy hoạch theo dự án Risanamento – cuộc can thiệp và canh tân đô thị tầm cỡ vào cuối thế kỷ 19 dẫn đến việc phá hủy các khu phố nổi tiếng và các tòa nhà cũ.[194][195]

Bảo tàng[sửa | sửa mã nguồn]

220px Salone della Meridiana Museo Archeologico Naples

Sảnh phòng Đồng hồ Mặt Trời, Bảo tàng Khảo cổ học quốc gia Napoli.

Napoli, một trong những thành phố nghệ thuật vĩ đại của Châu Âu, tự hào có một lượng đồ sộ phong phú các viện bảo tàng. Trong số đó những bảo tàng quan trọng nhất là Bảo tàng Khảo cổ học quốc gia Napoli, được coi là một trong những bảo tàng quan trọng nhất trên thế giới cả về chất và số lượng nơi các tác phẩm được trưng bày chủ yếu là những tác phẩm từ thời cổ đại Hy-La, đồng thời lưu giữ nhiều đồ cổ được khai quật tại Pompeii và Herculaneum, cũng như một số tác phẩm thủ công mỹ nghệ từ thời Hy Lạp và Phục Hưng; Bảo tàng quốc gia Capodimonte, tọa lạc bên trong cung điện cùng tên của nhà Bourbon, là nơi trưng bày nhiều bức tranh kiệt tác nghệ thuật của những bậc thầy vĩ đại nhất người Ý từ thời kỳ Phục Hưng đến Baroque như Raffaello, Simone Martini, Tiziano Vecelli, Caravaggio, El Greco, Jusepe de Ribera và Luca Giordano; Bảo tàng quốc gia Thánh Martino, nơi thu thập các hiện vật liên quan đến lịch sử của Napoli; và Cung điện Hoàng gia Napoli – cung điện lịch sử và điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng tại trung tâm thành phố.[196][176]

220px Interior of Galleria Umberto I. Naples%2C Campania%2C Italy%2C South Europe

Bên trong tòa Nhà triễn lãm Umberto I.

Ngoài những bảo tàng này, các bảo tàng đáng chú ý khác đáng bao gồm Pio Monte della Misericordia, Quadreria dei Girolamini (phòng tranh công cộng đầu tiên của thành phố),[197] Lâu đài Mới – là một bảo tàng dân sự, Bảo tàng thánh tích Thánh Gianuariô, Bảo tàng gốm sứ quốc gia “Công tước xứ Martina”, bảo tàng Nhạc viện San Pietro a Majella – một trong những tàng thư viện âm nhạc quan trọng nhất trên thế giới, Bảo tàng MEMUS của nhà hát San Carlo, phòng trưng bày Điện Zevallos, Bảo tàng Opera của Thánh Lôrensô Cả và Thánh Chiara, Bảo tàng giáo phận Napoli, bảo tàng trong biệt thự Pignatelli, Bảo tàng đường sắt quốc gia Pietrarsa, phòng trưng bày Học viện Mỹ thuật Napoli, nhà nguyện Thánh Severo.

Phía trước Cung điện Hoàng gia Napoli là Nhà triễn lãm Umberto I, nơi có Bảo tàng Trang sức San hô. Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Đức Bà Nữ Vương (Museo d’Arte Contemporanea Donnaregina – MADRE) nằm trong một cung điện từ thế kỷ 19 được cải tạo bởi kiến ​​trúc sư người Bồ Đào Nha Álvaro Siza Vieira có một dãy bao quanh đặt nhiều tác phẩm của các nghệ sĩ đương đại như Francesco Clemente, Richard Serra và Rebecca Horn.[198] Cung điện Roccella có từ thế kỷ 16 là nơi tổ chức Điện Nghệ thuật Napoli, nơi chứa các bộ sưu tập nghệ thuật cộng đồng của thành phố, và có các cuộc triển lãm đương thời về nghệ thuật và văn hóa. Điện Como xây dựng từ thế kỷ 15 là nơi đặt Bảo tàng Filangieri về chủ nghĩa chiết trung, gồm bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật, tiền xu và sách, thành lập vào năm 1883 bởi Gaetano Filangieri. Bên cạnh đó các “Nhà ga Nghệ thuật” với các ga tàu điện ngầm trong không được xem là nơi trung chuyển đơn giản mà là một không gian triển lãm thực sự với các tác phẩm của các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới (như Joseph Kosuth, Mimmo Rotella, Mario Merz) hoặc các nghệ sĩ mới nổi.

Trong số các bảo tàng khoa học, bên cạnh Trạm động vật học Anton Dohrn, còn có những bảo tàng thuộc Trung tâm Bảo tàng Khoa học Tự nhiên cũng đáng được quan tâm đặc biệt. Ngoài ra còn có bảo tàng thuộc Đài quan sát thiên văn Capodimonte, và tại Đại học Campania sở hữu bảo tàng giải phẫu học người.

Bút tháp và cột tưởng niệm[sửa | sửa mã nguồn]

200px Obelisco di san Domenico %28Napoli%292

Bút tháp Thánh Đa Minh

200px Monument San Domenico

Bút tháp Đức Mẹ Vô Nhiễm

Tại khu vực trung tâm lịch sử của thành phố có thể nhìn thấy những bút tháp (obelischi) hoặc những cột đài tưởng niệm (colonne) đáng chú ý, gọi chung là những ngọn tháp Napoli (tiếng Ý: Le guglie di Napoli) với số lượng vào khoảng tầm 30.[199][200]

Những cột tưởng niệm dịch bệnh này được xây dựng để kỷ niệm sự kết thúc hoặc được giải thoát khỏi bệnh dịch. Các cột đài này cũng có thể được gọi là cột hiến dâng tới Đức Mẹ và Chúa Ba Ngôi, và cũng có thể liên quan đến những sự kiện gắn liền với các tai họa khác không phải bệnh dịch như là động đất hoặc phun trào núi lửa, hay chỉ đơn giản là biểu hiện đức tin, lòng thành kính, sự chuộc lỗi hoặc đền tội. Các cột đài này thường được đặt tên cho đối tượng cung hiến tôn giáo ở trên đỉnh cột. Hầu hết các cột còn sót lại ngày nay nhìn chung được xây dựng ở các quốc gia Công giáo trên khắp châu Âu vào thế kỷ 17 và 18. Sự trang trí mang đậm tính chất trang hoàng lộng lẫy của chúng là đặc trưng của kiến trúc Baroque.[201]

Trong số các bút tháp và cột đài tại Napoli, nổi tiếng nhất có lẽ là bút tháp Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, bút tháp Thánh Đa Minh và bút tháp Thánh Gianuariô có từ giai đoạn giữa thời Trung Cổ và thời kỳ Baroque, bắt nguồn từ việc thực hành tôn giáo khi ấn định một công trình thờ tự quan trọng trở thành một yếu tố dễ nhận biết đối với những người đến hành hương, và cả nguồn gốc các lễ hội cộng đồng với phong tục xây tháp gỗ vác trên vai và được trang trí hoa mỹ bằng papier-mâché (mà ngày nay vẫn còn hiện hữu qua Lễ hội Gigli tại Nola).[199]

  • Bút tháp Thánh Gianuariô (Obelisco di San Gennaro, khởi công năm 1636 và hoàn thành năm 1650) ở quảng trường mang tên Hồng y Sisto Riario Sforza. Đây là tác phẩm của Cosimo Fanzago, có lẽ là kiến ​​trúc sư vĩ đại nhất của thời kỳ Baroque Napoli. Ngọn tháp được dựng lên để kỷ niệm việc thành phố tai qua nạn khỏi từ trận động đất lớn năm 1631. Đây là bút tháp cổ nhất trong bộ ba bút tháp nổi tiếng của thành phố.[176]
  • Bút tháp Thánh Đa Minh (Obelisco di San Domenico, bắt đầu từ năm 1656 và hoàn thành năm 1737) nằm ở quảng trường Thánh Đa Minh Cả, tên của người sáng lập ra Dòng Đa Minh. Ngọn tháp được khởi công sau trận dịch hạch năm 1656; người thiết kế ý tưởng lại là Fanzago. Công trình được thực hiện bởi kiến ​​trúc sư hoàng gia, Francesco Antonio Picchiati – người có mối quan tâm đến việc ghi chép và bảo tồn những tàn tích của thành phố La Mã cổ đại Neapolis bên dưới địa điểm đã khiến việc xây dựng bị đình chỉ vào năm 1680. Khi đó, ngọn tháp chỉ mới được khoảng một nửa chiều cao hiện tại bây giờ. Vào năm 1737, bút tháp được hoàn thành bởi kiến ​​trúc sư Domenico Antonio Vaccaro, dưới sự bảo trợ của vua Carlos III, vị vua nhà Bourbon đầu tiên của Napoli. Theo định nghĩa, bút tháp này là “cột tưởng niệm bệnh dịch” thực sự duy nhất trong bộ ba.[202]
  • Bút tháp Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (Obelisco dell’Immacolata, khởi xây từ năm 1747 và hoàn thành vào năm 1750) nằm ở trung tâm của Quảng trường Tân Giê-su. Nó được dựng lên dưới thời Carlos III. Ông đã nhận xét rằng mọi người nên có những phương tiện cách thức để chiêm ngưỡng bức tượng Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm mà không cần phải đi vào bên trong nhà thờ Tân Giê-su, nơi có bức tượng tọa lạc. Tu sĩ Dòng Tên Francesco Pepe từ chối sự bảo trợ của hoàng gia và tài trợ cho việc xây dựng ngọn tháp thông qua sự quyên góp của công chúng. Tượng đài được thiết kế bởi Giuseppe Genoino và các nhà điêu khắc chính là Matteo Bottiglieri và Francesco Pagano. Sự trang trí phong phú của cột tháp thể hiện sự cô đọng trường phái điêu khắc nghệ thuật Baroque của Napoli. Việc xây dựng được tạo điều kiện thuận lợi bởi sự tồn tại của một đài tưởng niệm đã có từ trước trong khu vực, một bức tượng cưỡi ngựa của Felipe V vua Tây Ban Nha, đã bị phá hủy một phần vào năm 1707 khi sự cai trị của chế độ phó vương Tây Ban Nha chấm dứt.[203]

Di tích khảo cổ, hệ thống cổ mộ và thành phố ngầm dưới lòng đất[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli sotterranea %281%29

Lối vào thành phố Napoli dưới lòng đất ở khu Via dei Tribunali.

250px Galleria borbonica War refuge %28Naples%29

Đường hầm Bourbon trong Thành phố ngầm dưới lòng đất của Napoli.

Hình dạng hiện tại của khu trung tâm cổ kính vẫn phản ánh bố cục những con đường cổ đại, tạo thành địa điểm di tích khảo cổ Hy Lạp quan trọng nhất ở Napoli và vẫn được sử dụng trong khoảng 2600 năm. Napoli thời Hy Lạp, ngoài những kết cấu đô thị quý giá, đã để lại cho đời sau những di tích khác của quá khứ như tường thành, tháp canh phòng thủ, đền thờ (bao gồm cả chiếc cốc từ đá tràng thạch porphyry đến từ đền thờ Poseidonia gần thành phố), đường hầm và nhiều môi trường không gian khác nhau dưới lòng đất. Nhiều hơn nữa là những gì còn sót lại của thời kỳ La Mã mà ngày nay vẫn còn hiện hữu: di tích của các khu chợ trong nhà La Mã (tiếng Latinh: macellum) như tại Thánh Lôrensô Cả, khu phức hợp bồn tắm nhiệt lớn nhất của thành phố tại Thánh Chiara, các hầm mộ, tường thành, đường dẫn nước và Piscina Mirabilis – bể chứa chính phục vụ Vịnh Napoli, lối đi ngầm (do người Hy Lạp bắt đầu nhưng được mở rộng và hoàn thiện bởi người La Mã) và nhiều loại di tích khác nhau có thể nhìn thấy.[204]

Napoli dưới lòng đất chiếm một phần mở rộng rất lớn so với thành phố trên bề mặt (khoảng 60%), là dãy các hang động và cấu trúc được tạo ra suốt hàng thế kỷ khai thác mỏ, và thành phố nằm trên đỉnh một vùng địa nhiệt lớn. Trong thời cổ đại, đây là một thành phố ngầm thực sự, nhiều đường phố có các đường hầm song song của chúng dưới lòng đất. Ngoài ra còn có một số hồ chứa nước Hy Lạp-La Mã cổ đại được đào từ đá tro núi lửa mềm, từ vật liệu này mà phần lớn thành phố được xây dựng. Trong số các không gian tương tự của thành phố lòng đất này, người ta cũng có thể nhìn thấy phần còn lại của nhà hát La Mã Neapolis nơi mà hoàng đế Nero đã biểu diễn. Bên cạnh đó, các mảnh vỡ khác của cùng một rạp hát, có thể được nhìn thấy từ bên ngoài dọc theo các tuyến đại lộ decumani. Khoảng một cây số trong hệ thống đường hầm trải dài nhiều kilomet bên dưới thành phố này có thể được viếng thăm từ Thành phố ngầm Napoli, tọa lạc trong khu trung tâm lịch sử trên con phố Via dei Tribunali. Hệ thống đường hầm và bể chứa nằm dưới phần lớn thành phố và nằm dưới mặt đất khoảng 30 mét. Bằng chứng về Neapolis thời cổ đại cũng có các khu chôn cất dưới lòng đất: nổi tiếng nhất là các cổ mộ của Kitô giáo, nhưng cũng có những ví dụ liên quan đến thời kỳ Hy Lạp và tiền Hy Lạp.[204][205]

Một trong số những hệ thống ngầm nổi tiếng khác là nghĩa trang Fontannelle – mồ chôn tập thể nổi tiếng và chứa đựng hài cốt, đầu lâu của khoảng 40.000 nạn nhân của đại dịch năm 1656 và dịch tả 1836,[206] có diện tích khoảng 3.000 m² và sức chứa không gian ước tính khoảng 30.000 m³, nguyên thủy là đường hầm hang động lối dẫn nguồn nước cho thành phố Neapolis thời cổ đại.[207] Nhà mồ Fontannelle còn được biết đến bởi vì một nghi thức cụ thể đã diễn ra ở đó, được gọi là nghi thức của những “linh hồn mồ côi”, những người sùng đạo đến thăm các hộp sọ, làm sạch chúng – “nhận nuôi” chúng, thậm chí đặt tên người cho đầu lâu được linh hồn tiết lộ thông qua việc báo mộng. Cả một giáo phái mọc lên dành chỉ để chăm sóc những chiếc đầu lâu (capuzzella) và mang hoa đến tặng cho các hộp sộ, trò chuyện và đổi lấy những sự cầu xin các linh hồn mồ côi (pezzentella) giúp đỡ một ân huệ nào đó. Sự sùng bái tôn sùng những chiếc đầu lâu ở nghĩa trang này kéo dài đến giữa thế kỷ 20 khi Giáo hội Napoli quyết định rằng sự sùng kính như vậy đã trở thành mê tín dị đoan và ra lệnh đóng cửa nghĩa trang. Hiện tại, nghĩa trang được sử dụng với chức năng viện bảo tàng và mở cửa cho du khách từ 2006.[208] Đường hầm Bourbon là một lối ngầm được xây dựng cũng như tái tạo từ hệ thống ngầm cũ với chứng năng quân sự kết nối Cung điện Hoàng gia Napoli với các doanh trại quân đội của thành phố theo ủy nhiệm của vua Ferdinando II, vì lo sợ nổ ra một cuộc cách mạng quần chúng tại Napoli.[209] Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, những đường hầm và hệ thống các cổ mộ này được sử dụng làm nơi trú ẩn của các cuộc không kích, và có những dòng chữ khắc trên tường mô tả những đau khổ mà những người tị nạn thời đó phải chịu đựng. Hiện nay, nhiều lối đi và đường hầm đã bị phong tỏa nhưng thành phố ngầm và hệ thống cổ mộ này vẫn được sử dụng cho mục đích du lịch. Các tour du lịch được tổ chức trong đó khách du lịch được dịp học hỏi về lịch sử của Napoli dưới lòng đất. Du khách có thể tham quan từ lối vào tại Quảng trường Thánh Gaetano ở khu vực Via dei Tribunali hoặc từ phố Via Sant’Anna di Palazzo ở khu Toledo.[205] Ngoài ra ngay bên ngoài thành phố có khu khảo cổ học Herculaneum cổ đại, được các học giả coi là vùng ngoại ô của thành cổ Neapolis.

Không gian xanh, biệt thự, đài phun nước và bậc thang thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

250px FantanaSantaLucia2

Biệt thự Comunale.

Trong số nhiều công viên công cộng ở Napoli, nổi bật nhất là Biệt thự Comunale, nguyên là biệt thự hoàng gia được xây dựng bởi vua nhà Bourbon Ferdinando IV vào những năm 1780;[210] công viên ban đầu là “Khuôn viên Hoàng gia”, dành riêng cho các thành viên của gia đình hoàng tộc, nhưng mở cửa cho công chúng vào những ngày lễ đặc biệt. Bosco di Capodimonte, lá phổ xanh lớn nhất của thành phố từng là khu bảo tồn săn bắn của hoàng gia, trong Công viên còn có thêm 16 tòa nhà lịch sử bao gồm nhà ở, nhà nghỉ, nhà thờ cũng như đài phun nước, tượng, vườn cây ăn quả và rừng.[211] Công viên Vergiliano tại khu Piedigrotta là một khoảng không gian xanh ngỏ được đặt theo tên của Vergilius – nhà thơ La Mã cổ đại và nhà văn tiếng Latinh, tương truyền rằng lăng mộ ông được chôn cất tọa lạc tại đây. Đặc biệt Vườn bách thảo Napoli thuộc sỡ hữu của Đại học Napoli là địa điểm xanh nổi bật đáng chú ý được khai trương vào năm 1807 bởi Joseph Bonaparte, sử dụng các kế hoạch được lập ra dưới thời vua nhà Bourbon Ferdinando IV. Khu vườn rộng 15 ha có khoảng 25.000 mẫu thảm thực vật, đại diện cho hơn 10.000 loài thực vật.[212]

Bờ biển Napoli là bờ biển duy nhất ở khu vực Địa Trung Hải có công viên khảo cổ chìm dưới mặt nước, đó là đảo Gaiola: nhiều tàn tích từ thời La Mã đã bị nhấn chìm do xói mòn biển, nhấn chìm cả quần thể bên dưới mặt biển 7 mét. Công viên tiếp giáp với một địa điểm khảo cổ khác, là công viên khảo cổ Posillipo, nơi có một biệt thự La Mã từ thế kỷ 1 trước Công nguyên, một nhà hát với sức chứa 2000 khán giả, một rạp chiếu phim nhỏ, một đền nữ thần nymphaeum và một khu phức hợp nhiệt. Một công viên quan trọng khác gần đó trong cùng khu vực là công viên Virgiliano, có cảnh quan nhìn về phía đảo núi lửa nhỏ Nisida; và ngoài Nisida còn có Procida và Ischia, cũng như toàn cảnh vịnh Napoli.[213] Napoli nổi tiếng với nhiều biệt thự, đài phun nước và cầu thang trang nghiêm, chẳng hạn như Biệt thự Floridiana với kiến trúc Tân cổ điển, Đài phun nước Nettuno và các bậc thang nổi tiếng như Pedamentina và Petraio.

Quận trung tâm tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

250px Centro Direzionale Napoli

Đại lộ Viale della Costituzione trung tâm quận tài chính Napoli.

Trung tâm tài chính Napoli (Centro Direzionale di Napoli) là cụm tòa nhà chọc trời được xây dựng tại phường Poggioreale gần nhà ga trung tâm thành phố (Napoli Centrale), đóng vai trò là quận tài chính – thương mại của Napoli. Đây là một trong những công trình quan trọng và quy mô nhất của thành phố được xây dựng trong những thập kỷ gần đây. Lấy cảm hứng từ những ý tưởng kiến trúc hiện đại của Le Corbusier,[214] đại diện cho ví dụ tích cực đầu tiên về sự tách biệt rõ ràng giữa lưu lượng xe ô tô dưới lòng đất và khu vực dành cho người đi bộ trên bề mặt.[215] Toàn bộ quần thể các công trình hiện đại ở đây tạo nên cả một thành phố thông minh. Được thiết kế bởi kiến trúc sư người Nhật Tange Kenzo, toàn bộ khu phức hợp được hoàn thành vào năm 1995. Đây là cụm tòa nhà chọc trời đầu tiên được xây dựng ở Ý và khu vực Nam Âu.[98]

Quy hoạch bắt đầu vào giữa những năm 1960 với mục tiêu kép là làm thông thoáng khu vực trung tâm lịch sử đồng thời cung cấp các văn phòng mới cho cơ quan hành chính công. Việc xây dựng nó bắt đầu vào năm 1985 và được thiết kế bởi những kiến trúc sư uy tín như Renzo Piano. Tòa nhà cao nhất là Tháp Telecom Italia đạt 129 mét (tòa nhà cao nhất ở Ý trong suốt 15 năm cho đến năm 2010 sau khi bị Tháp Pirelli vượt mặt chỉ 2 mét), tiếp theo là đôi Tháp Đôi Napoli của Enel cao 122 mét. Chính quyền Campania sở hữu tòa nhà Hội đồng Vùng Campiana cao 115 m. Toàn bộ khu phức hợp mang đến khái niệm về sự đổi mới và hiện đại cho thành phố, làm sống lại đường chân trời và cho đến nay là đại diện tiêu biểu nhất cho một trong những phức hợp hợp đô thị tầm cỡ và ấn tượng nhất của các tòa nhà chọc trời ở Nam Âu.[216] Nơi đây đã trở thành khu vực hạt nhân hấp dẫn đối với các công ty có thể giao tiếp hiệu quả với nhau trong một cấu trúc phức hợp duy nhất dành riêng cho họ.

Trung tâm tài chính Napoli có xu hướng gây ngạc nhiên cho khách du lịch, do định kiến phổ biến về Napoli là một thành phố tồi tàn và kém công nghiệp hóa, một hình mẫu rập khuôn về Napoli cũng như với toàn bộ miền nam nước Ý.

Quy hoạch đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

250px Spaccanapoli da s Elmo 1050131

Spaccanapoli – đường phân tách Napoli chia thành phố ra làm 2 bên, nối đồi Vomero (tây) đến quận trung tâm tài chính (đông).

Trong số các đại lộ quan trọng và quảng trường chính của Napoli, chắc chắn có những con đường đặc trưng nhất định hình nên danh tính của thành phố được gọi là decumanus trong tiếng Latinh (số nhiều decumani) – những con đường theo hướng đông-tây trong một thành phố được quy hoạch đô thị bởi người La Mã. 3 đại lộ decumanus của Neapolis bao gồm:

  • Decumanus Superior (tiếng Ý: Decumano Superiore, nghĩa là Đại lộ Đông-Tây Thượng) ngày nay là các con phố Via Sapienza, Via PisanelliVia Anticaglia
  • Decumanus Maior (Decumano Maggiore – Đại lộ Đông-Tây Lớn): Via dei Tribunali, đây chính là “Decumanus Maximus” – đại lộ đông tây lớn nhất của thành phố cổ Neapolis.
  • Decumanus Inferior (Decumano Inferiore – Đại lộ Đông-Tây Hạ) hay còn gọi là Via Spaccanapoli (đường phân tách Napoli), bao gồm Via Benedetto CroceVia San Biagio dei Librai.

Những con đường cốt yếu này xuyên suốt phố cổ trung tâm lịch sử và đi qua một loạt các địa danh và quảng trường quan trọng của Napoli, như Thánh Gregorio Armeno, Quảng trường Tân Giê-su, Quảng trường Bellini, Quảng trường Thánh Đa Minh Cả, công trường Corpo di Napoli, quảng trường Thánh Gaetano và một loạt các di tích khác.[217][218][219]

225px

Khu phố Tây Ban Nha, Napoli

Suốt nhiều thế kỷ ở Napoli có lệnh cấm tuyệt đối xây dựng các công trình kiến ​​trúc mới bên ngoài các bức tường thành cổ xưa – di tích mà ngày nay gần như là ranh giới phân định khu trung tâm lịch sử với phần còn lại của thành phố, cho đến khi phó vương Pedro Álvarez de Toledo y Zúñiga đến thành phố vào thế kỷ 16 – đánh dấu bước ngoặt thay đổi lớn cho bộ mặt của Napoli và tiến hành tái cấu trúc thành phố, từ đó đặt nền tảng quan trọng trong việc mở đường tăng gấp đôi diện tích bề mặt đô thị và kết nối cả 3 tòa lâu đài lại với nhau (Lâu đài Mới, Lâu đài Trứng, và Lâu đài Thánh Elmo). Ông đã cho thông qua việc xây dựng các khu dân cư mới và thanh lịch như Santa Chiara, bắt đầu cho lát đá các đường phố và nhường chỗ cho việc mở rộng phạm vi vượt ra ngoài biên giới của thành Napoli thời Trung Cổ. Via Toledo khởi thủy là con đường men dọc theo rìa bên ngoài tường thành, đã được xây nên hoàn toàn mới vào năm 1536 và nhờ con phố này ngay lập tức nảy sinh ra cảm giác tích trữ những không gian mới cho thành phố. Thông qua việc đi bộ hóa, phố Toledo ngày nay là một trong những trung tâm mua sắm và du lịch nổi tiếng nhất của thành phố. Con phố ấy tận cùng dẫn đến quảng trường Trieste e Trento và nổi bật hơn cả là quảng trường Plebiscito – một trong những quảng trường công cộng quan trọng nhất ở Ý, cũng như là biểu tượng nổi tiếng khác của Napoli. Hai công trình quan trọng tại đây bao gồm Cung điện Hoàng gia Napoli và nhà thờ Thánh Phanxicô thành Paola. Khu phố Tây Ban Nha (Quartieri Spagnoli hay Spanish Quarters) được xây dựng trên khoảng không gian mới phía ngoài tường thành – là một khu phố có cấu trúc hệ thống mạng lưới đặc trưng, trải theo sườn đồi Vomero từ trên cao (Lâu đài Sant’Elmo) xuống bên dưới (phố Toledo) bao gồm 18 con đường đổ dốc giao với 12 con phố cắt ngang. Tầm nhìn ban đầu của khu phố là nơi đồn trú quân Tây Ban Nha với nhiệm vụ bảo vệ vị phó vương và trấn áp bất kỳ cuộc nổi dậy nào của người dân thành phố, hoặc là nơi dừng nghỉ chân của quân lính ngang qua Napoli trước khi đi đến các nơi xảy ra giao tranh khác, ngoài ra nó còn đóng vai trò là một khu nhà ở công cộng thích hợp để chứa nhiều cư dân từ vùng nông thôn xung quanh đã đến định cư phía ngoài tường thành kinh đô của vương quốc.[220][221] Hiện nay khu phố Tây Ban Nha là một phần nằm trong quần thể di sản UNESCO của Napoli. Đặc biệt các bậc thang thắng cảnh lịch sử đã đề cập ở phần trên, ví dụ như bậc thang Petraio liên quan đến đồi Vomero, cũng đóng vai trò hình thành nên yếu tố đặc trưng điển hình trong quy hoạch đô thị của thành phố Napoli.

250px Via Caracciolo da Castel dell%27Ovo

Cảnh quan phố đi bộ dọc bờ biển Via Caracciolo nhìn từ Lâu đài Trứng.

Trong các thế kỷ tiếp theo, thành phố tiếp tục mở rộng địa giới của mình về phía đồi Capodimonte (các phường bình dân) hướng đông bắc và khu bờ biển Riviera di Chiaia (các phường giàu có) hướng tây nam. Một số phần của các bức tường thành đã bị phá bỏ để giảm tắc nghẽn đô thị.[222]. Đường dọc bờ biển tại khu Chiaia lấy tên là Via Caracciolo, để tưởng nhớ Đô đốc Francesco Caracciolo, người bị đô đốc Horatio Nelson treo cổ trên con tàu Minerva do ông trong vùng vịnh của thành phố vì đã gia nhập Cộng hòa Napoli. Trên thực tế, con đường xuất hiện tương đối gần đây và có từ cuối thế kỷ 19 khi nó thay thế khu vực bãi biển ngăn cách giữa mà Biệt thự Hoàng gia (ngày nay là Villa Communale) với bờ biển Chiaia (Riviera di Chiaia). Kể từ năm 2012, nơi đây trở thành một khu vực hoàn toàn dành cho người đi bộ. Việc xây dựng đại lộ Corso Napoleone, con đường lớn nối Cung điện Capodimonte tới Cung điện Hoàng gia đã được anh trai của Napoléon là Joseph Bonaparte thông qua, tạo sự nối dài thêm cho Via Toledo. Ngoài ra, ông còn thiết lập địa chính đô thị và cũng bắt đầu cuộc đàn áp đầu tiên của các dòng tu, điều chỉnh các căn hộ của thành phố thành nhà ở hoặc công sở. Thời Joachim Murat đánh dấu chương trình cải cách tạo ra sự sự phân cấp của thành phố trong các lĩnh vực chính trị và đô thị. Dưới triều đại Murat, các ngôi làng Bagnoli, Fuorigrotta, Poggioreale và Vomero được sáp nhập vào Napoli.[223] Khi nhà Bourbon khôi phục lại quyền lực, hành động đầu tiên là hoàn thành quảng trường Plebiscito mà người Pháp đã bỏ dở và cho xây dựng Nhà thờ Phanxicô Paola theo kiến trúc đền Pantheon của Roma để làm đẹp mỹ quan đô thị cũng như che khuất khu đồi Pizzofalcone ở phía sau.[224][225]

250px Napoli Corso Umberto I

Đại lộ Corso Umberto I

250px VGramsciNa

Viale Gramsci, một trong tuyến đường huyết mạch và xây dựng tiêu biểu của Risanamento

250px Italia Napoli panoramio

Quảng trường Thị chính (Piazza del Municipio) và Nhà ga Hàng hải Napoli.

Sau khi thống nhất nước Ý, nhà Savoia tiếp tục những dự án của nhà Bourbon, như con đường Nhà thờ chính tòa Via Duomo, đại lộ Corso Vittorio Emanuele vòng ngọn đồi Vomero – con đường vành đai đầu tiên ở châu Âu và xây dựng các phường mới ở phía đông và phía tây.[226] Các khu phố mới này được sinh ra trên các tuyến đường khác nhau hiện nay liên quan đến các khu vực xã hội riêng biệt: về phía Tây có mật độ dân số thấp hơn, nằm ở những nơi lành mạnh và có tầm nhìn đẹp toàn cảnh thành phố, dành cho giai cấp tư sản giàu có; trong khi ở phía bắc và phía đông, gần các đầm lầy của sông Sebeto, có những khu dân cư khét tiếng dành cho các giai cấp công nhân và vô sản quần chúng. Những hạt giống hình thành nền khu công nghiệp cũng được gieo mầm trong thành phố, phát triển về phía đồng bằng Bagnoli, ngày nay là một khu khảo cổ học công nghiệp. Trong hai thập kỷ, việc xây dựng các khu dân cư tư sản về phía Chiaia vẫn tiếp tục như phường Amedeo, khai hoang khu vực xung quanh Quảng trường Dante và Bảo tàng quốc gia với việc xây dựng một khu phố được xây dựng theo hệ thống quy hoạch hiện đại theo kiểu ô bàn cờ, và với việc xây dựng Galleria Principe di Napoli là công trình nhà triễn lãm đầu tiên trong thành phố. Dự án đầy tham vọng nhất là Risanamento cải tạo khu phố hạ lưu nằm gần phía biển với điều kiện vệ sinh môi trường rất kém,[227] bao gồm việc xây dựng Corso Umberto I (có lẽ là công trình nổi bật nhất trong dự án), mở rộng Via Duomo, xây dựng khu vực Santa Brigida với việc xây dựng Galleria Umberto I, hoàn thành quận Chiaia và Vomero; khu dân cư mới được tạo ra xung quanh Quảng trường Garibaldi và việc xây dựng phường Arenaccia mở rộng thành phố về phía Poggioreale và Secondigliano.[228] Ngoài ra, sự can thiệp đô thị cũng thúc đẩy ý tưởng tạo ra hai tuyến tàu đường sắt leo núi lâu đời nhất: là tuyến Chiaia và tuyến Montesanto, kết nối phường Vomero non trẻ với trung tâm lịch sử. Mặc dù việc cải tạo nhằm giải quyết các vấn đề quy hoạch đô thị, nó thực sự làm xấu đi các vấn đề xã hội cũng như hy sinh các di tích có giá trị lịch sử to lớn như việc phá hủy tu viện Thánh Pietro ad Aram, tu viện Thánh Agostino Zecca và các tòa nhà khác.

Trong 20 năm thời Phát xít diễn ra sự lột xác và công nghiệp hóa mạnh mẽ, nâng cấp kiến trúc và tái tổ chức phân chia hành chính, Napoli đã mở rộng diện tích hơn gấp đôi và dân số tăng 2/3, nhưng không đạt được con số triệu dân như Mussolini mong đợi. Sự biến đổi diễn ra trong thời kỳ này chủ yếu là sự can thiệp được thực hiện ở các khu vực trung tâm và trung gian như Rione Duca D’Aosta, Rione Miraglia, Rione Sannazzaro, Rione San Pasquale a Chiaia, hoàn thành làm mới bộ mặt khu Santa Lucia, rút ​​ruột phường San Giuseppe e Carità để xây dựng khu công cộng cho thành phố, củng cố khu vực cảng với việc xây dựng Nhà ga Hàng hải và Chợ Cá, xây dựng các khu phố mới cho giai cấp tiểu tư sản và khu triển lãm Mostra d’Oltremare khổng lồ.[229] Những gì chính quyền Phát xít cố gắng đạt được trong “20 năm” là nâng tầm kinh tế địa phương lên thành “Đế chế cảng”, biến Napoli thành một vị trí đắc địa trong tuyến giao thông hàng hải quốc tế cũng như bệ phóng xâm lược thuộc địa.[230][228] Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, công cuộc tái thiết đã diễn ra rất lâu. Việc xây dựng dày đặc đến mức bảo hòa tại các ngọn đồi đã đảo lộn cảnh quan thành phố và làm giảm các không gian dành riêng cho cây xanh, không chừa chỗ cho các công trình xã hội hóa và tạo ra một mạng lưới đường xá không đáp ứng đầy đủ. Khi hiện tượng dân cư đồ dồn về sống tại khu trung tâm thành phố được giảm bớt, ý tưởng kết nối các vùng ngoại ô với giao thông công cộng, bao gồm cả dự án sơ bộ về tàu điện ngầm diễn ra vào những năm 70 cũng như xây dựng các tòa nhà mới ở các khu ngoại ô phía bắc như Scampia và Secondigliano.[231] Bắt đầu từ năm 1996 đến những năm 2010, cách bố trí và tính hiệu dụng của thành phố đã thay đổi hoàn toàn nhờ vào việc xây dựng những Nhà ga Nghệ thuật. Đây là những khu phức hợp giao thông công cộng và công trình biểu tượng, trong đó có công trình nhà ga metro kết hợp sử dụng nhiều tác phẩm nghệ thuật hiện đại được lắp đặt khá hoành tráng. Một số nhà ga thuộc mạng lưới này chẳng hạn như Toledo được xem là đẹp nhất ở châu Âu, đã gây tạo được tiếng vang quốc tế, nhanh chóng trở thành một trong những điểm thu hút du khách của thành phố. Hơn nữa, trong quá trình đào hầm cần thiết cho việc xây dựng hệ thống tàu điện ngầm, nhiều phát hiện khảo cổ và lịch sử đã được phát hiện và khai quật.[232]

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ dân số thành phố Napoli từ năm 800 đến hiện tại[3][233][234][235]
(đơn vị: người)
Năm Số dân ±% năm
800 50.000 —    
1000 30.000 −0.26%
1300 60.000 +0.23%
1500 150.000 +0.46%
1600 275.000 +0.61%
1700 207.000 −0.28%
1861 484.026 +0.53%
1871 489.008 +0.10%
1881 535.206 +0.91%
1901 621.213 +0.75%
1911 751.290 +1.92%
Năm Số dân ±% năm
1921 859.629 +1.36%
1931 831.781 −0.33%
1936 865.913 +0.81%
1951 1.010.550 +1.04%
1961 1.182.815 +1.59%
1971 1.226.594 +0.36%
1981 1.212.387 −0.12%
1991 1.067.365 −1.27%
2001 1.004.500 −0.61%
2011 957.811 −0.47%
2021 940.398 −0.18%

Kết cấu đô thị và dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli từ thời Trung Cổ trở đi và đặc biệt là kể từ thế kỷ 16 đã từng là một trong những thành phố lớn nhất ở châu Âu về dân số.[236] Trong nửa sau của thế kỷ 16, Napoli có lẽ là thành phố đông dân nhất trong thế giới Kitô giáo phương Tây và đông thứ hai ở Địa Trung Hải chỉ sau Istanbul.[237] Sau khi nước Ý thống nhất, một mặt Napoli đã không còn dân cư nhiều như các thành phố như Paris hay Luân Đôn, thì mặt khác, nó đã cố gắng giữ được các đặc điểm nhân khẩu học đặc trưng của một đô thị châu Âu không bị thay đổi. Trong cuộc điều tra dân số đầu tiên của nhà nước thống nhất (1861), Napoli từng là đô thị đông dân nhất ở Ý, tuy nhiên vào đầu những năm 1930, nó nhường lại ngôi quán quân của mình cho Milano và sau đó là Roma. Bao gồm cả những người đi làm (khoảng 200.000 người, tương đương 20% so với dân số thường trú), quân đội, v.v. đổ vào thành phố mỗi ngày, số lượng cư dân trong thành phố có sự biến thiên đáng kể.[238]

300px Area Napoli Campania

Ảnh chụp vùng đại đô thị Napoli vào buổi đêm từ vệ tinh của NASA.

Tính riêng thành phố Napoli với hơn 960.000 người là đô thị đông dân thứ ba ở Ý và là thành phố có mật độ dân số cao nhất trong số các đô thị lớn của Ý cũng như là một trong những đô thị đứng đầu ở châu Âu xét theo cùng tiêu chí này, với khoảng 8.182 người/km²;[3] tuy vậy thành phố đã chứng kiến ​​sự sụt giảm đáng kể về mật độ dân số kể từ năm 2003 khi mà con số lúc bấy giờ là hơn 9.000 người trên một km vuông.[239] Cần lưu ý rằng thành phố đã phát triển theo thời gian vượt ra ngoài ranh giới của thành phố và do đó để nói về thành phố theo một nghĩa hoàn chỉnh, điều đó có nghĩa là xem xét dữ liệu nhân khẩu học của toàn bộ thành phố đô thị với dân số hơn 3 triệu người, ngày nay được đặc trưng bởi một hiện tượng đô thị hóa đã dẫn đến một trong những khu đô thị lớn nhất ở Ý. Trên thực tế, sự di chuyển dân cư từ tỉnh lỵ ra khu vực ngoại thành và các khu dân cư khác của tỉnh Napoli cũ là rất đáng kể, nơi có mật độ dân số 2.672 người/km², cao nhất trong số các thành phố đô thị của Ý và thuộc hàng các thành phố lớn nhất của lục địa già.[240] Ngoài ra, vùng đại đô thị Napoli còn rộng lớn hơn vượt ra ngoài giới hạn của thành phố đô thị Napoli, khi bao gồm cả các khu vực quan trọng của các tỉnh lân cận, chủ yếu là tỉnh Caserta và các nhà quy hoạch gọi toàn bộ lãnh thổ vùng đô thị hóa này là “Đại Napoli” (Grande Napoli hay Greater Naples)[241] với ước tính dân số khoảng 4,4 triệu người.[242] Theo các nguồn khác nhau, vùng đại đô thị của Napoli hoặc là khu vực đô thị đông dân thứ hai ở Ý sau vùng đại đô thị Milano (với 4.434.136 dân theo Svimez Data)[243] hoặc thứ ba (với 3,1 triệu dân theo OECD).[244] Ngoài ra còn có các mối quan hệ lịch sử văn hóa, xã hội, tự nhiên môi trường và kinh tế trong nhiều thế kỷ đã tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ với nhau, ngay cả khi các vùng được ghép mảnh lại với nhau. Dưới những tiêu chí thực tế này, cương vực ranh giới của thành phố sẽ có thể được định nghĩa theo cách mở rộng hơn nữa đáng kể. Trong mọi trường hợp, các nghiên cứu tương tự cũng đặt Napoli ở vị trí cao nhất trong bảng xếp hạng châu Âu.

Napoli là thành phố có dân số trẻ nhất của cả nước,[245] trong đó tỷ lệ thanh thiếu niên chiếm 8,3% trên toàn dân, người dưới 14 tuổi chiếm 19%, trong khi người trên 65 tuổi chiếm 13%, so với mức trung bình của cả nước tương ứng lần lượt là 14% và 19%.[242] Napoli có tỷ lệ nữ (52,5%) cao hơn nam (47,5%).[3] Napoli hiện có tỷ lệ sinh cao hơn các vùng khác của Ý, với 10,46 ca sinh trên 1.000 dân, so với mức trung bình của Ý là 9,45 ca sinh.[246]

Các phường đông dân nhất là những phường tương ứng với lãnh thổ của các khu phố được tập hợp trong thời Joachim Murat (Vomero, Arenella, Fuorigrotta, Bagnoli) và Phục Hưng (Piscinola) và trong thời kỳ Phát xít (Barra, Chiaiano, Marianella, Pianura, Soccavo, Ponticelli, Posillipo, San Giovanni a Teduccio, San Pietro a Patierno, Miano, Secondigliano và Scampìa).

Nhóm thiểu số và dân nhập cư[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli densit%C3%A0urbana

Mật độ đô thị dày đặc tại trung tâm Napoli.

Trái ngược với Roma hay nhiều thành phố phía bắc nước Ý, số lượng người nhập cư nước ngoài ở Napoli tương đối thấp;[247] 94,3% cư dân của thành phố là công dân Ý. Trong năm 2017, có tổng cộng 58.203 người nước ngoài ở Napoli; phần lớn trong số này chủ yếu đến từ Sri Lanka, Trung Quốc, Ukraine, Pakistan và Romania.[248] Thống kê cho thấy, trước đây, đại đa số người nhập cư đến Napoli là nữ; điều này xảy ra bởi vì những người nhập cư nam đến Ý có xu hướng hướng về phía bắc giàu có hơn.[242][249] Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, có 61.593 người nước ngoài sống trên lãnh thổ thành phố, với đa số là người Sri Lanka.[250]

Nhóm người nước ngoài cư trú đông nhất tại Napoli năm 2019 (đơn vị: người)[248]
1. Sri Lanka Sri Lanka 16.283 6. Philippines Philippines 2.007
2. Ukraina Ukraina 8.755 7. Bangladesh Bangladesh 1.815
3. Trung Quốc Trung Quốc 5.420 8. Nigeria Nigeria 1.435
4. Pakistan Pakistan 3.038 9. Ba Lan Ba Lan 1.354
5. România Romania 2.744 10. Cộng hòa Dominica Cộng hòa Dominica 1.177

Văn hóa và nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ và phương ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Giống với phần còn lại của nước Ý, ở vùng Campania đã diễn ra sự tiến hóa của tiếng Latinh thông tục hình thành nên tiếng Napoli theo một hướng khác so với tiếng Ý tiêu chuẩn – mặc dù chúng thuộc cùng một nhánh ngôn ngữ Ý – Rôman. Cần lưu ý rằng tiếng Ý có nguồn gốc từ sự tiến hóa của tiếng Latinh thông tục ở Firenze và vùng Toscana, được ưu tiên lựa chọn vì uy tín văn hóa vì nó là ngôn ngữ của Dante, Petrarca và Boccaccio, được sử dụng làm ngôn ngữ chính của văn hóa, hành chính và giảng dạy từ thế kỷ 16 tại các quốc gia thuộc lãnh thổ Ý trước thống nhất, và trở thành ngôn ngữ giao tiếp chính thức duy nhất kể từ khi nước Ý khai sinh thành một khối thống nhất. Tuy nhiên, tiếng Ý chỉ bắt đầu trở nên phổ biến trong tất cả các tầng lớp xã hội và trong mọi lĩnh vực (chính thức hoặc đời thường) trong nửa sau của thế kỷ 20.[251]

250px Napoli ANM Regolamento del trasporto in napoletano 1040964

Nội quy trên xe buýt được thể hiện bằng tiếng Napoli.

Trong khi đó, tiếng Napoli (Lingua napoletana) được xem là ngôn ngữ riêng biệt so với tiếng Ý và vẫn tiếp tục được nhiều người nói tại thành phố và các khu vực đô thị lân cận xung quanh, ở vùng Campania và lan truyền sang các khu vực khác của miền Nam nước Ý bởi những người di cư Napoli. Nó đã trải qua quá trình lịch sử của mình giống như nhiều ngôn ngữ khác, có sự ảnh hưởng và “vay mượn” từ các tộc người khác nhau đã sinh sống hoặc thống trị khu vực Trung – Nam Ý, từ những thực dân Hy Lạp cổ đại cho đến các thương nhân Byzantine trong thời kỳ Công quốc, tiếp đó lần lượt là người Ả Rập đến người Norman, và về sau là sự thống trị của các thế lực hoàng tộc Pháp và Tây Ban Nha. Một lượng lớn những người sử dụng các phương ngữ miền Nam có liên kết chặt chẽ với tiếng Napoli cùng tạo thành một nhóm ngôn ngữ mà Ethnologue gọi là tiếng Napoli-Calabria (Napoletano-Calabrese). Nhóm ngôn ngữ này lan tỏa trên hầu hết khu vực phía nam bán đảo Ý, bao gồm cả huyện Gaeta và Sora ở phía nam vùng Lazio, phần phía nam của Marche, Abruzzo, Molise, Basilicata, bắc Calabria, bắc và trung Puglia với số lượng ước tính là 5,7 triệu người bản ngữ.[252]

Phương ngữ Napoli (Dialetto napoletano) giống như hầu hết các ngôn ngữ Ý-Rôman khác được nói ở Ý thể hiện những sự khác biệt dù nhiều hay ít ngay cả giữa các thị trấn lân cận nhau, vì lý do này phương ngữ Napoli khó có thể chuẩn hóa khi xét ở cấp độ bác ngữ học đối với hầu hết các nhà ngôn ngữ. Phương ngữ Napoli được tiếp nối lưu truyền một cách hiệu quả, nhưng nên hiểu rằng nó không phải là một phương ngữ của tiếng Ý tiêu chuẩn, mà là một phương ngữ trong chính nhóm ngôn ngữ Ý-Rôman của nó (tức nhóm Napoli-Calabria hoặc nhóm Nam-Trung Ý).[253] Ở mức độ hình thái ngôn ngữ học, ngôn ngữ Napoli thể hiện phần nền móng hạ tầng từ tiếng Oscan (một ngôn ngữ tại phía nam bán đảo Ý nay đã tuyệt chủng, là chị em của tiếng Latinh và cùng thuộc ngữ hệ Ấn-Âu) với sự đóng góp rất lớn từ tiếng Hy Lạp cổ đại, và phần cấu trúc thượng tầng chịu ảnh hưởng bởi cả nhánh ngôn ngữ Ý-Rôman cũng như các nhánh Rôman xa hơn khác như Gaul-Rôman và Iberia-Rôman và không phải là Tân Latinh (nhờ vào tiếng Hy Lạp Byzantine).[254]

200px Giambattista Basile by Nicolaus Perrey

Giambattista Basile, người đặt nền móng cho văn học tiếng Napoli.

Tiếng Napoli đã thay thế tiếng Latinh trong các văn bản chính thức và trong các phiên họp tòa án tại Napoli theo sắc lệnh của Alfonso I vào năm 1442 và trong hơn một thế kỷ, nó là ngôn ngữ chính thức của Vương quốc Napoli. Vào thế kỷ 16, vua Fernando II của Aragon áp đặt tiếng Tây Ban Nha làm ngôn ngữ chính thức mới và tiếng Napoli chỉ tồn tại trong các vị trí cử tọa hoàng gia, các văn phòng ngoại giao và quan chức công quyền. Từ nửa sau thế kỷ 16 các vị trí lĩnh vực này dần được thay thế bởi phương ngữ vùng Toscana (tức tiếng Ý sau này) giống như các bang quốc khác trên Ý.[255]

Nhà thơ tiếng Napoli nổi tiếng nhất là Giulio Cesare Cortese với tác phẩm Vaiasseide, trong khi văn xuôi bản ngữ Napoli trở nên nổi tiếng nhờ Giambattista Basile sống vào nửa đầu thế kỷ 17, tác giả của tập truyện nổi tiếng Pentamerone được Benedetto Croce dịch sang tiếng Ý và mang đến cho thế giới những câu chuyện cổ tích hiện thực và giàu sức tưởng tượng.[256] Cortese và Basile là những người đặt nền móng văn học và nghệ thuật cho ngôn ngữ Napoli. Trên thực tế trong ba thế kỷ gần đây, tiếng Napoli đã được sử dụng với tần suất nhất định và mang lại hiệu quả đáng kể trong nghệ thuật. Về văn học và thơ ca có Salvatore di Giacomo, Edoardo Nicolardi, Libero Bovio; trong sân khấu với sự khai sinh thể loại trình diễn sân khấu Napoli; với opera, giữa thế kỷ 17 và 18 (trong thời kỳ huy hoàng nhất của trường phái âm nhạc Napoli) đã tạo ra toàn bộ các bản nhạc opera kinh điển; và trong âm nhạc, canzone napoletana ra đời từ thế kỷ 13 và là một trong những phương thức truyền bá quan trọng nhất của người dân Napoli, rất có tiếng tăm trong thế giới âm nhạc Ý cho đến khi Nhạc hội Sanremo làm lu mờ Lễ hội âm nhạc Napoli, khiến nó ngừng được tổ chức vào năm 1970 (và hoàn toàn kết thúc vào năm 2004). Vào ngày 14 tháng 10 năm 2008, chính phủ vùng Campania đã ban hành luật địa phương có hiệu lực rằng việc sử dụng tiếng Napoli được bảo vệ.[257]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

350px BSanFrancescoNapoli

Vương cung thánh đường Tông tòa Hoàng gia Thánh Phanxicô thành Paola

Là nơi đặt chân đầu tiên của tông đồ Phêrô trên lãnh thổ Ý, Napoli là một trong những địa điểm Kitô giáo đầu tiên ở phương Tây.[258] Những cổ mộ đầu tiên ở Napoli có niên đại từ thế kỷ 2 và 3, không được sử dụng để thờ phượng mà chỉ được sử dụng cho việc chôn cất, theo quy định của luật La Mã.[259] Việc truyền đạo tại thành phố đã phát triển trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, và việc Latinh hóa các nghi lễ diễn ra vào thế kỷ 12, đặc biệt là bởi vua người Norman Ruggiero II. Trong nhiều thế kỷ, các vương cung thánh đường quan trọng cũng đồng thời là nơi đặt các trụ sở quản lý hành chính của thành phố và cùng với những cơ quan thực thể khác đã phản đối việc thành lập tòa án dị giáo tại địa phương vào năm 1547. Ngoại trừ các phường phía tây liên quan đến giáo phận Pozzuoli, hầu hết Napoli thuộc về Tổng giáo phận Napoli, do Tổng giám mục Hồng y Domenico Battaglia cai quản. Công giáo tại Napoli được tổ chức trên cơ sở 13 giáo phận, với 500 chỗ thờ tự, trong số đó có 288 là nhà thờ giáo xứ.[260]

Trong bối cảnh Hồi giáo, sự hiện diện của người đạo Hồi trong thành phố bắt đầu từ thế kỷ 9, do về cơ bản họ đã thiết lập quan hệ thương mại với người dân Napoli. Mặt khác sự lan rộng của Hồi giáo với tư cách là một tôn giáo có tổ chức cùng thời điểm với những dòng người di cư vào những năm 1980 khi hai thánh đường đạo Hồi đầu tiên được xây dựng lần lượt ở Quảng trường Garibaldi và Quảng trường Thị chính (Piazza Municipio). Sau đó, một thánh đường Hồi giáo khác đã được mở tại Quảng trường Chợ (Piazza Mercato) và trong dư âm sự kiện các cuộc tấn công khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, thánh đường này và Giáo phận Napoli đã soạn thảo một tuyên bố chung mang tên Salam alaikum – Pax vobiscum trong đó nhấn mạnh và khẳng định các nguyên tắc hòa bình, tôn trọng lẫn nhau và cùng chung sống hòa hợp giữa 2 tôn giáo Hồi và Kitô.[261] Đến nay, sự hiện diện của người theo đạo Hồi trong thành phố đã ghi nhận một sự tăng trưởng khởi đầu đáng kể,[262] bằng chứng là bộ phim tài liệu Napolislam dành chiến thắng của Liên hoan Biografilm 2015.

Ngoài ra, Napoli còn có một nhà thờ Tin Lành và một thánh đường Anh giáo. Một cộng đồng người Do Thái cùng với hội đường Do Thái giáo cũng hiện diện trong thành phố.

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

250px Eq it na pizza margherita sep2005 sml

Pizza là món ăn được phát minh tại Napoli, trong đó pizza Margherita là đĩa pizza đặc trưng truyền thống và nổi tiếng nhất đại diện cho pizza phong cách Napoli.

Napoli nổi tiếng trên trường quốc tế về ẩm thực và rượu vang; nó thu hút ảnh hưởng ẩm thực từ nhiều nền văn hóa đã sinh sống trong suốt lịch sử của mình, bao gồm cả người Hy Lạp, Tây Ban Nha và Pháp. Nền ẩm thực của thành phố đã vươn lên như một hình thức riêng biệt vào thế kỷ 18. Các thành phần thường có hương vị phong phú, trong khi giá cả phải chăng cho người dân nói chung.[263] Trên thực tế, ẩm thực Napoli là mội trong những đại diện tiên phong và tiêu biểu nhất của thương hiệu “Made in Italy” ở nước ngoài, nhờ vào những cuộc di cư quy mô lớn trong lịch sử của người dân Napoli mang theo văn hóa, ẩm thực và pizza của mình đến nhiều nơi khác nhau trên thế giới.[264]

Napoli theo truyền thống được xem là mái nhà quê hương của pizza.[19] Món ăn này có nguồn gốc là bữa ăn của những người nghèo và tầng lớp thấp trong xã hội, nhưng dưới thời Ferdinando IV, nó trở nên phổ biến trong giới thượng lưu: nổi tiếng nhất, pizza Margherita được đặt theo tên của Nữ vương Margherita xứ Savoia sau chuyến thăm của bà đến thành phố.[19] Được nấu theo cách truyền thống trong lò đốt củi, các thành phần của bánh pizza theo phong cách Napoli đã được luật pháp quy định chặt chẽ kể từ năm 2004, và phải bao gồm bột mì loại “00” với việc bổ sung men loại bột mì số “0”, nước khoáng tự nhiên, cà chua gọt vỏ hoặc cà chua bi tươi, phô mai mozzarella, muối biển và dầu ô liu siêu nguyên chất.[265] Năm 2009, pizza kiểu Napoli được đăng ký bảo hộ món ăn Đặc sản Truyền thống, và vào năm 2017, nghệ thuật làm pizza phong cách Napoli đã được UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.[20]

Spaghetti cũng gắn liền với thành phố và thường được ăn với nước sốt ragu kiểu Napoli: một biểu tượng văn hóa dân gian phổ biến của người dân Napoli là nhân vật truyện tranh Pulcinella đang ăn một đĩa mì spaghetti.[266] Các món ăn khác phổ biến ở thành phố bao gồm Parmigiana di melanzane (cà tím nướng phủ pho mát Parmesan), spaghetti alle vongole (mì Ý và nghêu) và bánh casatiello.[267] Là một thành phố ven biển, Napoli còn được biết đến với nhiều món hải sản, bao gồm impepata di cozze (vẹm xếp lớp), purpetiello affogato (bạch tuộc luộc nước lèo), alici marinate (cá cơm ướp), baccalà alla napoletana (cá tuyết muối) và baccalà fritto (cá tuyết chiên), một món ăn thường được ăn trong dịp lễ Giáng sinh.

Napoli nổi tiếng với các món ngọt, bao gồm kem gelato đầy sắc màu, và có nhiều trái cây hơn. Các món bánh ngọt phổ biến của thành phố bao gồm zeppole (thường được gọi là “‘a Pasta Cresciuta” và “‘e fFritt’ ‘e Viento”), bánh babà, sfogliatellepastiera, món được chế biến đặc biệt cho lễ Phục sinh.[268] Một loại món ngọt khác theo mùa là struffoli, một loại bánh bột làm từ mật ong có vị ngọt được trang trí và ăn vào dịp Giáng sinh.[269] Cà phê Napoli cũng được hoan nghênh rộng rãi. Bình pha cà phê nắp gập truyền thống của người Napoli được gọi là cuccuma hoặc cuccumella, là tiền đề cho việc phát minh ra máy pha cà phê espresso, và cũng là nguồn cảm hứng cho ấm pha Moka.

Các nhà máy rượu ở khu vực Vesuvius sản xuất các loại rượu như Lacryma Christi (“nước mắt của Chúa”) và Terzigno. Napoli cũng là quê hương của limoncello, một loại rượu mùi chanh phổ biến.[270][271] Giá trị dinh dưỡng của ẩm thực Napoli được phát hiện bởi nhà dịch tễ học người Mỹ Ancel Keys vào năm 1950, sau đó thường được các nhà sức khỏe đề cập đến như một trong những ví dụ tuyệt vời điển hình nhất về chế độ ăn Địa Trung Hải.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

215px SanLorenzoNapoli5

Vương cung thánh đường Thánh Lôrensô Cả, vòm giáo đường theo nguyên mẫu Gothic Pháp.

215px Palazzo dello Spagnolo Naples

Cầu thang “đôi cánh chim ưng” hoành tráng tại Cung điện Tây Ban Nha, kiến ​​trúc tiêu biểu của phong cách Baroque Napoli.

Napoli từ lâu đã là một trung tâm của nghệ thuật và kiến ​​trúc, điểm xuyết với các nhà thờ, lâu đài và cung điện thời Trung Cổ, Baroque và Phục Hưng. Lịch sử kiến ​​trúc Napoli về cơ bản khai sinh dưới thời Angevin, từ đó những nhà thờ đầu tiên của thành phố theo phong cách Gothic thời Trung Cổ ra đời, chủ yếu có nguồn gốc từ Ý, mặc dù trong một số trường hợp như đối với Vương cung thánh đường Thánh Lôrensô Cả (San Lorenzo Maggiore) là nhà thờ duy nhất ở Ý theo nguyên mẫu khuôn kiểu Pháp.

Tiếp nối thời kỳ Phục Hưng, nghệ thuật kiến trúc bước vào thời đại Baroque phong cách Napoli xa hoa, một thời kỳ mà kiến ​​trúc thành phố được nâng tầm nhận thức cao hơn và cho thấy những điểm tuyệt vời nhất về chiều sâu chất lượng, nhờ vào việc cải tạo mặt tiền của những tòa nhà có sẵn đã tồn tại hoặc xây nên gian tòa mới phía bên trong có thể được nhìn thấy ở cổng vào và thêm vào đó cầu thang hoành tráng là những điểm đặc trưng lớn nhất của phong cách kiến ​​trúc Napoli. Một trong những yếu tố đặc biệt của các cung điện Napoli là khi xét trên thực tế, với cấu trúc đô thị đặc biệt của thành phố đặc trưng bởi các đường phố chật hẹp không cho phép xây dựng mặt tiền với tầm nhìn rộng, dẫn đến thị hiếu kiến trúc nghệ thuật tại địa phương sẽ tập trung vào các chi tiết của tòa nhà, chẳng hạn như cổng vào hoặc cầu thang biểu tượng, là các yếu tố đặc trưng của các kiểu kiến ​​trúc Phục Hưng và Baroque phong cách Napoli.[272]

Tuy nhiên nếu phong cách Phục Hưng và Baroque tại đây là những phiên bản “chạy theo trào lưu” của Napoli nhằm tái hiện lại các phong trào có tầm vóc lớn đã phổ biến ở nhiều nơi, mặc dù đã đạt được thành công và phát triển đến mức độ rất cao, thì trong thế kỷ 18, thành phố đã chứng tỏ vai trò dẫn đầu xu thế trong lĩnh vực kiến trúc vì nó góp phần tạo nên mô hình tân cổ điển, ra đời nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học ở những tàn tích La Mã tại Herculaneum và Pompeii tình cờ được phát hiện ra và vẫn còn nguyên vẹn, cùng những khám phá liên quan.[273]

Các phong cách kiến trúc công nghiệp mới đã dẫn đến những công trình xây dựng theo phong cách chiết trung, dẫn đến những phương pháp xử lý hoa mỹ và những đổi mới hiện đại mang bản sắc địa phương, cụ thể là những đặc trưng của các biệt thự mới tại khu vực Vomero. Nhiều tòa nhà lấy cảm hứng từ phong cách kiến trúc Tân Gothic vẫn còn tồn tại ở Napoli, do ảnh hưởng của phong trào này đối với kiến trúc sư người Scotland gốc Ấn Lamont Young, một trong những kiến trúc sư Napoli tích cực nhất vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Young đã để lại dấu ấn đáng kể trong cảnh quan thành phố và thiết kế nhiều dự án đô thị, chẳng hạn như tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố.[274][275]

Sau giai đoạn này, trong những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, một phiên bản địa phương của hiện tượng Art Nouveau được gọi là “Liberty Napoletano” đã phát triển trong thành phố, tạo ra nhiều tòa nhà vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.[276] Trong thời đại Benito Mussolini ở những năm ba mươi là thời kỳ của chủ nghĩa duy lý-chức năng, các cấu trúc đầu tiên của “trung tâm dịch vụ” của thành phố đã được xây dựng bao gồm các tòa nhà như Cung Bưu Điện và Pretura. Năm 1935, kiến trúc sư Luigi Cosenza theo chủ nghĩa duy lý đã tạo ra một chợ cá mới cho thành phố. Tuy nhiên, một trong những thành tựu kiến ​​trúc vĩ đại cuối cùng của kiến trúc Phát xít là khu triễn lãm Mostra d’Oltremare, một khu phức hợp rộng 720.000 m²; nó được khánh thành vào năm 1940 và được trùng tu vào những năm 1950 bởi cùng một nhà thiết kế.[229]

Các kiến ​​trúc sư quan trọng nhất đã hoạt động tại thành phố là: Luigi Vanvitelli, Ferdinando Fuga, Domenico Fontana, Cosimo Fanzago, Ferdinando Sanfelice, Domenico Antonio Vaccaro, Antonio Niccolini và Buono di Napoli.

Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

147px Luca Giordano Fapresto
144px Francesco Solimena 001
138px Domenico Morelli Portrait
Luca Giordano, Francesco Solimena và Domenico Morelli, nằm trong số những họa sĩ nổi bật nhất các thế kỷ 17, 18 và 19 tương ứng.

Nghệ thuật vẽ tranh ở Napoli có từ thời khi thành phố mới thành lập, tuy vậy không có dấu vết đáng giá nào còn lưu lại của các thời kỳ Hy Lạp, La Mã, Norman, Swabian và Byzantine. Trong số các thành phố nghệ thuật chính của châu Âu, Napoli có thể tự hào về truyền thống nghệ thuật lâu đời mặc dù không thể tìm thấy một trường phái tranh ảnh thực sự và chính chuyên nào đã tiếp nối qua nhiều thế kỷ và được biết đến ở cấp độ châu Âu. Sự thống trị liên tục của thế lực ngoại bang trong những thế kỷ sau đó đã không cho phép hình thành một trường phái tranh họa địa phương thực sự. Tuy nhiên, nhiều trào lưu nghệ thuật quan trọng và đã được hình thành qua nhiều thế kỷ tại Napoli nhờ tính chất quốc tế của nó lúc bấy giờ và việc các nghệ sĩ bên ngoài đến thành phố thường xuyên, chủ yếu từ Toscana, như Pietro Cavallini, Giotto, Simone Martini, Giorgio Vasari đã tạo đường cho sự xuất hiện của một loạt các họa sĩ ngay bản xứ trong các thế kỷ giữa thế kỷ 14 và 17.[277][278] Trong số tất cả có thể kể đến Colantonio, Fabrizio Santafede và Giovanni Antonio Amato.

225px Caravaggio Sette opere di Misericordia

7 đức hạnh thương xót (1606-1607), tác phẩm của Caravaggio

Trong thế kỷ 17, việc Caravaggio đến thành phố và lưu lại đây một vài dịp trong khoảng từ những năm 1607 đến 1610 đánh dấu bước ngoặt quyết định cho sự ra đời của một trường phái hội họa Napoli thực sự hiểu theo định nghĩa một cách chặt chẽ. Trong bối cảnh ấy một nhóm nổi bật gồm các họa sĩ địa phương cẩn trọng và kỹ lưỡng sau những buổi giảng của Caravaggio đã trở thành những truyền nhân kế thừa phong cách của ông, đóng góp đáng kể trong sự khai sinh của chủ nghĩa Caravaggio – cơ bản trùng hợp với sự xuất hiện của các bậc thầy hội họa theo chủ nghĩa Phục Hưng như Domenichino, Guido Reni và Giovanni Lanfranco cũng đến thành phố trong thời kỳ này. Tất cả những yếu tố tiên đề trên không thể thiếu cho sự hình thành và sau đó phát triển mạnh mẽ của trường phái hội họa Napoli. Nghệ thuật vẽ tranh tại Napoli giờ đây chính thức có được chỗ đứng và nền tảng vững chắc, các xưởng vẽ đầu tiên nở hoa khắp thành phố nơi mà các nghệ sĩ như Jusepe de Ribera, Artemisia Gentileschi và nhiều nghệ sĩ khác hoạt động rất năng suất, Napoli do đó đã trở nên rất cởi mở trong việc tiếp thu hội họa.[279][280][281] Thế kỷ 18 của Napoli chứng kiến ​​sự tiếp nối của thời kỳ Baroque muộn và có mối quan tâm lớn hơn trong khâu trang trí. Đáng chú ý có các tác phẩm của Francesco Solimena và Francesco De Mura, trong khi Fedele Fischetti được mời gọi để vẽ tranh tường tại nhiều cung điện quý tộc. Các bức tranh tôn giáo lớn được thay thế bằng một loạt các bức bích họa nối tiếp nhau về chủ đề tổng hợp tôn giáo – thần thoại. Sự hưng thịnh ở Napoli ngay tại các cung điện quý tộc và hoàng gia quan trọng cũng mang ý nghĩa rằng: sự chú ý giờ đây bắt đầu được chuyển hướng tới những nơi thế tục khác tại Napoli thay vì chỉ tập trung ở các tòa nhà tôn giáo.[282][283]

Vào thế kỷ 19, hội họa Napoli từ bỏ những phong trào trong quá khứ và đằng sau những dư âm của làn gió đổi mới có sự góp mặt của những nghệ sĩ như John Constable và William Turner, mà từ đó trở thành trường phái của một phong trào nghệ thuật lớn hơn, chủ yếu tranh phong cảnh và kèm theo một phần chủ nghĩa lãng mạn, đem đến những ý nghĩa riêng của nó. Chính vì vậy, trường phái Posillipo ra đời từ năm 1820 đến 1850, với các họa sĩ ấn tượng nhất là Anton Sminck van Pitloo và Giacinto Gigante. Học viện Mỹ thuật Napoli trở thành động lực hoạt động của trường phái này và là cơ sở cho sự ra đời của một dòng nghệ sĩ khác như Francesco Saverio Altamura, Gioacchino Toma, Domenico Morelli và Vincenzo Petrocelli.[284][285] Thập niên 80 của thế kỷ 20 cuối cùng cũng chứng kiến ​​sự ra đời của Transavantgarde – phiên bản Ý của chủ nghĩa Tân biểu hiện, một phong trào nghệ thuật đã càn quét khắp Ý và phần còn lại của Tây Âu vào cuối thập niên 70 và đầu những năm 1980.[286][287][288]

Điêu khắc[sửa | sửa mã nguồn]

225px Arco trionfale Napoli 2012

Cổng khải hoàn môn dẫn vào Lâu đài Mới, biểu tượng của nghệ thuật điêu khắc Phục Hưng của Napoli.

225px Cristo Velato Volto

Chúa Kitô phủ khăn liệm – tác phẩm bằng đá hoa cương kiệt xuất trong làng điêu khắc thế giới của Sanmartino, Nhà nguyện Thánh Severo.

Thế kỷ 15 và 16 chứng kiến thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật điêu khắc Napoli. Việc xây dựng khải hoàn môn tại Lâu đài Mới bởi Francesco Laurana từ năm 1452 đến năm 1471 đã chứng kiến ​​sự nở rộ của một xưởng đào tạo thực sự dành cho các nghệ sĩ Phục Hưng, những người sau này đem theo những đổi mới nghệ thuật ấy trải khắp vương quốc. Tên gọi “các nghệ sĩ khải hoàn môn” dùng để chỉ sự lan tỏa đầu tiên này của các phương thức nghệ thuật mới.[289][290][291]

Một số ví dụ về tác phẩm điêu khắc Napoli thế kỷ 16 có thể nhìn thấy trong nhà thờ Đức Bà Đại Ân Caponapoli, được xác định là bảo tàng của tác phẩm điêu khắc Napoli của thế kỷ này.[191] Trong số các nhà điêu khắc chủ đạo của thời kỳ này gồm có Giovanni da Nola, Giovanni Domenico, Girolamo D’Auria và Gian Lorenzo Bernini (tuy nhiên Bernini tích cực hoạt động chủ yếu hơn hết tại Roma). Các công trình liên quan đến đài phun nước ở Napoli dưới bàn tay của Pietro Bernini (Bernini cha) cũng đáng được chú ý.[292]

Vào thế kỷ 17, tác phẩm điêu khắc được thể hiện qua việc hiện thực hóa các bút tháp ví dụ như của Thánh Đa Minh và Thánh Gianuariô và trong các bức tượng của Francesco Antonio Picchiatti, Cosimo Fanzago và Dionisio Lazzari – người sau này đã thực hiện một số công trình bệ thờ hoành tráng cho các nhà thờ Napoli.[293][294][295]

Tiếp đến, nổi bật trong số các nhà điêu khắc của thế kỷ 18 bao gồm Domenico Antonio Vaccaro và đặc biệt hơn cả là Giuseppe Sanmartino – có lẽ là nhà điêu khắc vĩ đại nhất của người Napoli, rất điêu luyện trong việc tạo hình các hình tượng đất nung và là người đã gầy dựng nên một trường phái nghệ thuật Dựng cảnh Chúa giáng sinh (tiếng Ý: Natività, tiếng Anh: Nativity). Sanmartino cũng là tác giả của thứ được xem là một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của nghệ thuật điêu khắc thế giới, Cristo Velato hay Veiled Christ (“Chúa Kitô phủ khăn liệm” – năm 1753) – một tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch đặt tại nhà nguyện Thánh Severo.[296][297] Nhà nguyện này cũng lưu giữ các tác phẩm bằng đá cẩm thạch có giá trị khác như của Antonio Corradini (La Pudicizia Velata) và Francesco Queirolo (Il Disinganno).

Trong suốt thế kỷ 19, các tác phẩm tượng đồng và tượng bán thân của Vincenzo Gemito và Tito Angelini thống trị nền điêu khắc Napoli. Nổi tiếng ở nước ngoài là xưởng đúc nghệ thuật Chiurazzi với các tác phẩm điêu khắc bằng đồng, sau này bổ sung thêm các tác phẩm bằng đá cẩm thạch và gốm sứ.[298] Tuy nhiên, ngày nay người ta cũng nhớ đến sự hiện diện của nhà điêu khắc Jago tại thành phố, người đã chọn phường Sanità làm nơi đặt phòng xưởng của mình.[299]

Thủ công mỹ nghệ, gốm sứ[sửa | sửa mã nguồn]

225px Napoli Via San Gregorio Armeno

Con phố Via San Gregorio Armeno trong khu phố cổ Napoli, rất nổi tiếng với những cửa hàng đồ lưu niệm, thủ công mỹ nghệ về chủ đề dựng cảnh Chúa giáng sinh.

Trong số rất nhiều các loại hình nghệ thuật được thực hành ở Napoli, đồ sứ Capodimonte và dựng cảnh Chúa giáng sinh của người dân Napoli nổi lên bằng truyền thống lịch sử và sự nổi tiếng quốc tế.

Nguồn gốc đồ sứ có thể bắt nguồn từ năm 1743, khi Carlos III của nhà Bourbon thành lập Xưởng sứ hoàng gia Capodimonte, với mục đích giải phóng bản thân khỏi các tác phẩm nước ngoài, với nhiều tác phẩm nghệ thuật hiện vẫn đang được trưng bày trong Bảo tàng Capodimonte. Các nhà tạo hình gốm sứ Napoli sớm đạt đến mức xuất sắc tuyệt đối. Truyền thống nghề gốm sứ này vẫn còn hoạt động và tồn tại cho đến ngày nay.[300]

Nguồn gốc nghệ thuật dựng cảnh Chúa giáng sinh thậm chí còn lâu đời hơn vì hang cũi ở Napoli đã được đề cập trong một tài liệu năm 1025, hiện được bảo quản tại nhà thờ Đức Bà Presepe; do đó, sớm hơn nhiều so với truyền thuyết cho rằng dựng cảnh Chúa giáng sinh đầu tiên được thực hiện bởi thánh Phanxicô thành Assisi vào năm 1223. Qua nhiều thế kỷ, nghệ thuật về cảnh Chúa giáng sinh đã gắn bó chặt chẽ với cả kinh nghiệm và trí tưởng tượng của người dân thành phố, ở cả tính văn hóa và phổ thông thường thức.[301] Thời kỳ hoàng kim của loại hình này có thể bắt nguồn từ vương triều Bourbon, khi nó đạt đến đỉnh cao nhất về nghệ thuật.[302] Nơi tâm điểm truyền thống về chủ đề cũi giáng sinh là con phố Via San Gregorio Armeno, nơi chợ buôn bán đồ lưu niệm và hoạt cảnh giáng sinh vẫn được tổ chức đến tận ngày nay, mỗi năm bắt đầu từ ngày 8 tháng 12. Nghệ sĩ nổi bật nhất trong cả hai lĩnh vực vẽ tranh và dựng hình có thể kể đến là Francesco Celebrano.

Nghệ thuật cổ xưa được truyền lại bởi các nghệ nhân lành nghề là nghệ thuật gấp giấy papier-mâché. Những con búp bê rối burattini của Napoli cũng được đánh giá cao và được săn lùng bởi các nhà sưu tập từ khắp nơi trên thế giới.

Một nghệ thuật khác, do các bậc thầy người Napoli phát minh và truyền dạy cho người nước ngoài, là biến mai rùa thành những vật liệu quý vì nó được trang trí bằng vàng, bạc, ngà voi, xà cừ, sơn mài và men. Nghệ sĩ được ca tụng và ngưỡng mộ nhất là Giuseppe Serao, làm việc cho hoàng gia nhà Bourbon.[303] Các tác phẩm nghệ thuật của người dân Napoli trong bộ giáp được trưng bày trong nhiều viện bảo tàng và bộ sưu tập quan trọng nhất được lưu giữ trong Phòng trưng bày Kugel ở thủ đô Paris của Pháp.[304]

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời Đế quốc La Mã, những gương mặt quan trọng như Horace và Vergilius học tập và tiếp nhận giáo dục tại Neapolis. Vergilius đã sáng tác ra những tác phẩm văn học tiếng Latinh quan trọng nhất của mình là Eclogae, Georgica và Aeneis.[305]

179px TITIAN%3B Portrait of Jacopo Sannazaro %281514 18%29
Jacopo Sannazaro, nhà nhân văn chủ nghĩa lừng danh người Napoli
155px Salvatore Di Giacomo
Salvatore Di Giacomo, nhà thơ tiếng Napoli và tác giả truyện ngắn đen

Napoli là một trong những trung tâm quan trọng của nền văn học Ý. Thế kỷ 14 là thời kỳ của chủ nghĩa nhân văn; trào lưu này bắt đầu từ Ý và một trong những trung tâm lớn của nó có trụ xứ tại thành phố này, sau đó lan ra khắp lục địa.[306] Francesco Petrarca và Giovanni Boccaccio cư trú tại Napoli và đạt được những thành quả thành công. Boccaccio đã sống nhiều năm tại triều đình của vua Roberto Thông Thái và sử dụng Napoli làm bối cảnh cho tác phẩm Mười ngày và một số tiểu thuyết sau này của ông.[307] Tác phẩm của ông chứa một số từ được lấy từ tiếng Napoli thay vì tiếng Ý tương ứng, ví dụ như “testo” ở Napoli chỉ một cái lọ lớn bằng đất nung dùng để trồng cây bụi và cây nhỏ. Giovanni Pontano được công nhận là một trong những nhân cách quan trọng nhất của chủ nghĩa nhân văn Napoli[308] – một danh hiệu được gán cho ông bởi một nhà nhân văn người Napoli lừng danh khác là Jacopo Sannazaro. Sannazaro trong suốt thế kỷ 15 và đến những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 16, là một trong những tượng đài tiên phong của nền văn học Ý và châu Âu với những tác phẩm quan trọng, nổi bật hơn hết là bài thơ Arcadia, mà từ đó sau này đã xuất hiện học viện cùng tên tại thành Roma – Học viện Arcadia thuộc Giáo hoàng. Năm 1458, Accademia Pontaniana, một trong những học viện đầu tiên ở Ý, được thành lập tại Napoli theo ý tưởng sáng kiến ​​tự do của những người từ chương, khoa học và thơ văn.[309][310]

Kỷ nguyên Baroque vào đầu thế kỷ 16 và 17 là thời kỳ của Giambattista Basile và Giulio Cesare Cortese – những nhân vật đặt nền móng cho ngôn ngữ Napoli chính thức công nhận. Vào nửa đầu thế kỷ 17, Học viện Oziosi cũng được thành lập, là nơi gặp gỡ của các trí thức Tây Ban Nha và Napoli, bao gồm Francisco de Quevedo và Tommaso Campanella.[311] Thế kỷ 19 mang đậm dấu ấn lẫy lừng bởi sự viếng thăm của Giacomo Leopardi – một trong những nhà thơ và nhà tư tưởng Ý vĩ đại nhất, đã sáng tác một số bài thơ quan trọng nhất của mình ở đây ngay trước khi ông qua đời như La ginestra, Il tramonto della Luna hay Paralipomeni della Batracomiomachia.[312][313] Các tác phẩm của Leopardo đã ảnh hưởng rất lớn đến Francesco de Sanctis, người đã theo học tại Napoli và sau đó trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục đầu tiên của vương quốc Ý – là một trong những nhà phê bình văn học đầu tiên khám phá, nghiên cứu và phổ biến các bài thơ và tác phẩm văn học của nhà thơ vĩ đại đến từ Recanati.

Trong khi đó giữa thế kỷ 19 và 20, khai sinh những bài thơ đầu tiên bằng tiếng Napoli và thường được dùng làm lời bài hát, làm nảy sinh ra những bài hát kinh điển của người dân Napoli. Trên thực tế, đó là những năm của E.A. Mario, Salvatore Di Giacomo, Libero Bovio, Ernesto Murolo. Nhà văn kiêm nhà báo Matilde Serao đồng sáng lập tờ nhật báo của thành phố là Il Mattino cùng với chồng mình là Edoardo Scarfoglio vào năm 1892. Serao là một tiểu thuyết gia và nhà văn nổi tiếng trong thời của bà, từng được 6 lần đề cử Giải Nobel Văn học.[314] Salvatore Di Giacomo là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất bằng phương ngữ Napoli, và nhiều bài thơ của ông đã được chuyển thể thành nhạc và trở thành những bài hát nổi tiếng.[315][316] Các văn thi sĩ và nhà báo Napoli được chú ý khác lúc bấy giờ bao gồm Eduardo De Filippo, Antonio De Curtis tức Totò, Curzio Malaparte, Giancarlo Siani.

Ở thời kỳ đương đại, trong số các nhà văn Napoli quan trọng nhất có thể kể tên là Luciano De Crescenzo, Erri De Luca, Roberto Saviano và đặc biệt nữ văn hào Elena Ferrante được tạp chí Time năm 2016 bình chọn là một trong 100 người có ảnh hưởng nhất trên thế giới.[317][318]

Triết học[sửa | sửa mã nguồn]

200px Giordano Bruno2

Giordano Bruno

Giữa những năm 80 và 40 trước Công nguyên, Neapolis là một trung tâm văn hóa quan trọng của La Mã cổ đại. Chủ nghĩa Epicurus đã tìm thấy chỗ đứng thích hợp nhất của mình đặc biệt là ở các thành phố, bên ngoài cuộc sống bận rộn của kinh thành Roma. Philodemus xứ Gadara vùng Jordan và Siro (là thầy của Vergilius và Horace) đã sống và dạy học tại Neapolis.[319]

Nhà tư tưởng thời Trung Cổ quan trọng nhất hoạt động tại Napoli là nhà thần học Thánh Tôma Aquinô, cư trú tại tu viện Thánh Đa Minh. Cụ thể, Thánh Tôma là nhân vật đi đầu trong triết học kinh viện và là người xây dựng nên nền tảng trường phái Thomism.[320]

Tâm điểm của triết học Napoli thế kỷ 16 chính là Giordano Bruno. Ông đã xây dựng hệ thống thần học trong đó cho rằng “Thượng đế” chính là trí tuệ trừu tượng và hình thành nên trật tự những gì sẵn có trong tự nhiên, nhưng đồng thời bản thân tự nhiên cũng được trừu tượng thần thánh hóa, trong một thể thống nhất mang tính phiếm thần không thể tách rời giữa vật chất và ý thức. Bruno cũng mở rộng hơn nữa thuyết nhật tâm của Copernicus, đưa ra đề xuất về sự tồn tại của vô số các hệ hành tinh tương tự ngoài Hệ Mặt Trời, và hơn nữa có khả năng rằng tại các hành tinh này thậm chí còn có thể hình thành sự sống, đồng thời khẳng định sự vô hạn của toàn bộ vũ trụ và do vậy không có thiên thể nào ở “trung tâm”.[321][322]

200px GiambattistaVico

Giambattista Vico

Trong môi trường văn hóa sôi động của thế kỷ 18, cùng với Milano, Napoli đã trở thành một trong những địa điểm quan trọng nhất mà từ đó Kỷ nguyên Ánh Sáng thâm nhập vào Ý. Trong thời kỳ này nổi bật hơn cả là nhân cách của Giambattista Vico – gương mặt hàng đầu của Học viện Investiganti, triết gia của chủ nghĩa duy tâm và là tiền bối của Immanuel Kant. Ông đã vạch ra những nét đặc trưng của nhân sinh văn hóa mới không chỉ dựa trên lý trí, mà còn dựa trên cảm hứng, tình cảm và tài khéo léo, hoàn toàn trái ngược với tư tưởng Descartes. Người bạn đồng hành của ông, Antonio Genovesi, sau đó đã trở thành người nắm giữ chiếc ghế trưởng khoa kinh tế chính trị đầu tiên trên thế giới tại Đại học Napoli danh giá. Các nghiên cứu luật khoa đã được nâng cao ở Napoli nhờ vào những nhân cách lỗi lạc của các luật gia như Bernardo Tanucci, Gaetano Filangieri và Genovesi. Luật gia Francesco Mario Pagano người xứ Lucania – nhân vật xuất sắc của kỷ nguyên Khai sáng tại Ý là người khởi xướng “trường phái luật lịch sử Napoli”, cũng như là tiền thân của chủ nghĩa thực chứng.[323][324] Tư tưởng tiêu biểu nhất ở Napoli trong giai đoạn giữa thế kỷ 19 và 20 là Benedetto Croce, người gốc Abruzzo nhưng sinh trưởng tại Napoli, tượng đài của chủ nghĩa tự do Ý thế kỷ 20 và là nhân vật tiên phong của chủ nghĩa lịch sử.[325][326] Nhờ các nhà tư tưởng và triết gia như Vico, Pagano hay Croce, Napoli đã trở thành một trong những trung tâm lớn của Ý về nghiên cứu lịch sử và triết học lịch sử. Những nhân vật như luật gia và luật sư Enrico De Nicola theo đuổi các nghiên cứu về luật và hiến pháp. De Nicola sau đó đã giúp soạn thảo Hiến pháp hiện đại của nước Cộng hòa Ý, và cuối cùng được bầu vào chức vụ Tổng thống đầu tiên của nền Cộng hòa Ý.[327]

Ví dụ hiện đại điển hình nhất của việc nghiên cứu triết học ở Napoli là Viện Nghiên cứu Triết học Ý có trụ sở đặt tại thành phố, là nơi thu thập khoảng 300.000 đầu sách triết học, trong đó bao gồm rất nhiều bản gốc, và đã được UNESCO đánh giá là “vô song trên toàn thế giới”.[328][329]

Khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

139px Melloni
137px Caccioppoli
154px Domenico Cotugno 1736 1822
Macedonio Melloni – cha đẻ của ngành núi lửa học hiện đại, Renato Caccioppoli – một trong những nhà toán học ảnh hưởng nhất của Ý và Domenico Cotugno – bác sĩ tiêu biểu nhất của trường phái y khoa Napoli

Ngành khoa hiện đại nghiên cứu về núi lửa và các hiện tượng địa chất, vật lý liên quan đến nó bắt nguồn từ Napoli, nhờ sự gần nhau của các thực thể núi lửa xung quanh thành phố. Sau những quan sát đầu tiên của William Hamilton người Anh và nhờ công của nhà vật lý Macedonio Melloni, Đài quan sát Vesuvius được xây dựng vào năm 1841, viện khoa học đầu tiên thuộc ngành núi lửa học trên thế giới.[135]

Có tầm quan trọng đáng kể là trường phái toán học Napoli, vào thế kỷ thứ 18 bao gồm những nhân vật như Nicola Fergola và các học trò của ông là Felice Giannattasio, Carlo Forti, Pietro Schioppa, Francesco Bruno, Luigi Telesio, Vincenzo Flauti, Giuseppe Scorza và hơn hết là người nổi bật trong tất cả, Annibale Giordano, khi còn rất trẻ vào năm 1787 đã xuất bản một bản khái quát về “vấn đề của Pappus” (hay của Castiglione).[330][331] Trong thế kỷ 20, trường chủ yếu xoay quanh nhân cách của Renato Caccioppoli, có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của ngành giải tích toán học ở Ý.[332] Các học giả quan trọng khác của trường phái này là những người học trò của ông như Carlo Miranda, Mario Curzio, Renato Vinciguerra, Donato Greco, Savino Coronato.

250px Osservatorio di Capodimonte 1

Mặt tiền Đài quan sát thiên văn Capodimonte

Thiên văn học Napoli đã đạt được kết quả xuất sắc hơn bao giờ hết là nhờ vào Đài quan sát thiên văn Capodimonte do Federico Zuccari thành lập.[333] Những đóng góp cơ bản cho bộ môn khoa học này đến từ Giovanni Battista Della Porta, có công mô tả các nguyên tắc của kính thiên văn khoảng hai mươi năm trước khi Galileo Galilei chế tạo ra nó.[334] Bản thân Della Porta là một trong những nhân vật khoa học quan trọng nhất của thế kỷ 16, cũng được biết đến với những nghiên cứu về mật mã học và khoa học tự nhiên. Francesco Fontana – người chế tạo các loại kính viễn vọng Kepler, là người đầu tiên vẽ các bản vẽ của Mặt Trăng, sao Hỏa (mà ông đã khám phá và mô tả sự quay của nó) và các hành tinh quan trọng khác.[334]

Một điểm nhấn khác là trường phái thực vật học được đại diện bởi Michele Tenore với bộ sách Flora Napolitana của ông,[335] và những gương mặt nổi trội khác như Domenico Cirillo, Vincenzo Petagna và Guglielmo Gasparrini. Bên cạnh đó, trường phái động vật học được đại diện bởi Oronzo Gabriele Costa, đã khám phá trong vùng vịnh Napoli và phân loại chính xác trong số các loài động vật có dây sống lưỡng tiêm (tiếng Latinh: Branchiostoma lanceolatum) thuộc bộ Lancelet, giúp xác định được trong loại động vật này mối liên hệ giữa động vật không xương sống và động vật có xương sống, có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành và xây dựng thuyết tiến hóa của Darwin.[336]

Sau cùng, ngành y khoa cũng đáng được chú ý đến với Domenico Cotugno là đại diện tiêu biểu nhất. Với tư cách là Hiệu trưởng Đại học Napoli, ông là nhân vật chính trên tất cả các khám phá quan trọng về thần kinh, đạt được thông qua phương pháp phẫu tích.[337] Bộ môn khoa học giải phẫu so sánh ra đời ở Napoli nhờ bác sĩ Marco Aurelio Severino, tác giả cuốn Zootomia Democritea, chuyên luận tổng quát đầu tiên trên thế giới về chủ đề này.[338]

Thời trang may mặc[sửa | sửa mã nguồn]

250px Carlo brancaccio%2C napoli via toledo%2C impressione di pioggia%2C 1888 89 ca. 02

Via Toledo là con phố mua sắm nổi tiếng nhất trung tâm thành phố.

Mối quan hệ của Napoli với thời trang và nhãn hiệu “Made in Italy” có nguồn gốc từ lịch sử sớm nhất là từ thời Angevin vào thế kỷ 14. Phong cách và sự thể hiện là một bộ phận cấu thành tâm hồn người dân thành phố, ngay cả những người bị bó buộc bởi kinh tế khó khăn và chỉ mua sắm ở chợ địa phương cũng không bỏ qua mặt hàng quần áo và may mặc. “Confraternita dei Sartori” được thành lập bởi các thợ may và chuyên gia vải hàng đầu vào năm 1351, cho đến tận ngày những người thợ dệt vẫn tiếp tục bám trụ, tự hào mang trong mình truyền thống hàng thế kỷ. Trong thời kỳ thống trị của vương triều Aragon, thời trang Napoli chạm đến thời kỳ vàng son thực sự, rất nhiều thợ may và thợ dệt đã được tuyển dụng tại triều đình để mặc trang phục cho các vị vua và những người nổi tiếng, mang lại sức sống cho phong cách được đánh giá cao. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, thời trang trở nên phát triển mạnh mẽ bên cạnh nghệ thuật, âm nhạc và triết học. Napoli cùng với thành bang hùng mạnh khác như Venezia, Milano, Firenze và Roma đã sản xuất hàng dệt như nhung, lụa, len và các loại vải phong phú kèm hàng với xa xỉ, mũ, giày dép, mỹ phẩm, đồ trang sức, áo choàng, váy công phu.[339] Thời trang Ý nhìn chung ngày càng trở nên phổ biến và tạo ảnh hưởng trên khắp nơi, và được ưa chuộng bởi những gia đình quyền lực và quý tộc, nhanh chóng dẫn đầu xu hướng chính của châu Âu nhờ vào sức mạnh văn hóa mà chúng đã phát huy trong thời kỳ bấy giờ.[340]

250px Via Chiaia

Phường Chiaia là một trong những khu giàu có nhất Napoli, trên các con phố chính tại đây có nhiều cửa hàng thương hiệu thời trang cao cấp.

Thời kỳ nhà Bourbon (ngoại trừ một số trường hợp như lụa ở San Leucio hay găng tay ở Sanità rất năng động vào thời Ferdinando) là thời kỳ suy tàn đối với thời trang Napoli. Bấy giờ trang phục người dân Napoli bị xem là lỗi thời, đặc biệt khi so sánh với những nơi mà quy tắc về trang phục đã được quy định như Paris và London. Sự suy giảm này có lẽ là do chế độ quân chủ Bourbon bác bỏ các quy tắc của thời trang Pháp và ưa thích những đặc điểm đặc trưng của văn hóa địa phương. Trong giai đoạn giữa thế kỷ 19 và thế kỷ 20, thời trang Napoli tìm lại uy tín của quá khứ, thiết lập và định hình nền tảng cho ngày nay: sự thể hiện của việc đo đạc và thanh lịch. Chính trong những năm này, nghề may mặc của thành phố trở nên nổi tiếng và được đánh giá cao trên toàn thế giới. Các nhà may như De Nicola, Sardonelli và hàng loạt thương hiệu khác ra đời, bắt đầu xuất khẩu các sản phẩm thời trang của mình ra nước ngoài, bao gồm cà vạt là mặt hàng chủ đạo của thương hiệu Napoli. Đến những năm 1930, nghề may địa phương đã được đình hình vững, tốt ngang bằng với ngành may mặc ở Anh và tạo ra các quy tắc phong cách riêng của mình, điển hình là áo khoác kiểu Napoli, được thiết kế để đảm bảo sự nhẹ nhàng và thoải mái cho người mặc.[341]

Hiện nay khu vực đô thị của Napoli là nơi có nhiều nhà máy thủ công chuyên môn hóa cao, chuyên sản xuất các sản phẩm chất lượng bao gồm các bộ phận của quần áo và phụ kiện cung cấp cho các thương hiệu cao cấp hàng đầu của Pháp, Anh và Mỹ (chẳng hạn như Chanel, Dior, Balmain và dòng chính của Ralph Lauren). Năm 2016 Ủy ban Thương mại Ý đã tổ chức sự kiện thương mại “Naples Meets the World” với sự góp mặt của nhiều nhà sản xuất và thương hiệu mới nổi và tốt nhất của thành phố để sẵn sàng thu hút sự chú ý của toàn cầu. Thành phố được xem là một trong những trung tâm thời trang quan trọng và là kinh đô thời trang thứ tư của Ý, xếp sau Milano, Roma và Firenze, cũng như là trung tâm thời trang lớn nhất khu vực miền Nam quốc gia này. Cùng với quận thời trang Via Montenapoleone và trung tâm mua sắm Galleria Vittorio Emanuele ở Milano, phố Via dei Condotti ở Roma và Via Tornabuoni của Firenze, phường Chiaia ở Napoli là một trong những quận khu mua sắm trọng điểm nhất của Ý.[342][343][344][345]

Sân khấu, kịch nghệ[sửa | sửa mã nguồn]

250px Teatro San Carlo large view

Nhà hát San Carlo là nhà hát opera lâu đời nhất còn hoạt động trên thế giới.

Sân khấu là một trong những truyền thống nghệ thuật lâu đời nhất và được biết đến nhiều nhất của thành phố; đã được hoàng đế Nero biểu diễn vào thế kỷ đầu tiên của Công nguyên, trên sân khấu của nhà hát La Mã Neapolis.[346]

Napoli là một trong những trung tâm của Ý khởi nguồn của thể loại sân khấu hiện đại ngày nay. Thời kỳ hoàng kim của loại hình sân khấu Napoli hiện đại là thế kỷ 18, khi nhiều nhà hát được xây dựng, bao gồm cả Nhà hát hoàng gia San Carlo – được xây dựng vào năm 1737, là nhà hát lâu đời nhất còn hoạt động ở châu Âu và vẫn là trung tâm biểu diễn của thành phố.[347]. Đó là những năm Napoli đóng vai trò là kinh đô của âm nhạc[348] với sự hoạt động phi thường của nhạc viện thành phố đã góp phần vào sự phát triển của trường phái âm nhạc Napoli.[349][350]

Ngày nay ngoài San Carlo, Napoli tự hào có nhiều sân khấu khác bao gồm Mercadante, San Ferdinando, Augusteo, Sannazaro, nhà hát cung đình, nhà hát Bellini và nhiều sân khấu khác. Nhờ truyền thống lâu đời nhiều thế kỷ này cùng với số lượng lớn các nhà hát trong thành phố, Napoli đã được chọn làm địa điểm tổ chức các sự kiện quan trọng, chẳng hạn như Liên hoan Sân khấu Quốc gia.[351]

Mặt nạ Pulcinella
La maschera di Pulcinella.jpg

Pulcinella là mặt nạ nổi tiếng của người dân Napoli, có nguồn gốc từ lâu đã được tranh luận. Tuy nhiên, trên cơ sở các nghiên cứu khảo cổ học và ngữ văn gần đây nhất, có thể khẳng định rằng nó có nguồn gốc từ tộc Oscan và lấy nguồn gốc từ nhân vật Maccus, nhân vật chính của các chuyện hài Atellana cổ đại.[352]

Các đặc điểm tính cách của chiếc mặt nạ đã trở thành nhân vật chính của loại hình hài kịch nghệ thuật được hệ thống hóa ở Napoli vào thế kỷ 16 bởi diễn viên Silvio Fiorillo, trong khi trang phục hiện đại của nó là tác phẩm của Antonio Petito. Pulcinella có đặc điểm sống tương phản mạnh mẽ: anh ta thông minh và xấc xược, khôn ngoan và chất phác, đầy tớ và tốt bụng, hèn nhát và vô liêm sỉ.

Nghệ thuật sân khấu Napoli theo định nghĩa chặt chẽ được ra đời cùng với các tác phẩm mang dấu ấn cung đình vương triều Aragon của Jacopo Sannazaro vào đầu thế kỷ 15 và 16. Một thể loại nhạc kịch opera có tên là opera buffa được tạo ra ở Napoli vào thế kỷ 18 và sau đó lan rộng đến Roma và đến miền bắc nước Ý.[353]

Các diễn viên và nhà soạn kịch chính của thế kỷ 19 và 20 là Antonio Petito, Raffaele Viviani, Vincenzo Torelli, Roberto Bracco, Eduardo Scarpetta và những người con sau này của ông, được gọi là anh chị em De Filippo gồm: Eduardo, Titina và Peppino. Eduardo là người quan trọng nhất, với tư cách là cha đẻ của một truyền thống đã trở nên phổ biến. Ông đảm nhận một loạt các hoạt động ban đầu là viết kịch bản và diễn xuất sân khấu, nhằm mục đích đưa linh hồn của Napoli và cư dân của nó lên sân khấu, “Napoletanità“, thông qua đó làm nổi bật những đặc điểm nhân văn cơ bản và xã hội đương đại. Trong số những bộ phim hài quan trọng nhất của ông đã góp phần làm cho sân khấu Napoli và các vở hài kịch và bi kịch được biết đến nhiều như hiện nay, gồm có những cái tên như Napoli milionaria! (“Triệu phú Napoli”), Il sindaco del rione Sanità (“Trưởng phường Sanità”), Gli esami non finiscono mai (“Những kỳ thi không hồi kết”), Natale in casa Cupiello (“Giáng sinh tại nhà Cupiello”), Filumena MarturanoQuesti fantasmi! (“Những bóng ma”). Ngày nay, các tác phẩm của Eduardo vẫn được trình bày theo phong cách hiện đại, thông qua các tác phẩm điện ảnh hoặc tái hiện sân khấu.[354]

Thể loại “Sceneggiata” nổi tiếng của vùng Napoli là một thể loại quan trọng của sân khấu dân gian hiện đại trên toàn thế giới, dàn dựng các chủ đề kinh điển thông thường về những câu chuyện tình yêu bị cản trở, hài kịch, những câu chuyện đẫm nước mắt, thường là về những người lương thiện trở thành kẻ sống ngoài vòng pháp luật do những sự kiện không may. Sceneggiata trở nên rất phổ biến đối với người dân nước ngoài, và sau đó trở thành một trong những thể loại nổi tiếng nhất của điện ảnh Ý nhờ các diễn viên và ca sĩ như Mario Merola và Nino D’Angelo. Nhiều nhà văn và nhà viết kịch như Raffaele Viviani đã viết phim hài và phim truyền hình cho thể loại này.[355]

Trong số các tác giả và diễn viên hiện đại – đương đại của Napoli, đáng chú ý là Roberto De Simone và bộ ba La Smorfia gồm Enzo Decaro, Lello Arena và Massimo Troisi.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

146px Retrato de Domenico Scarlatti
138px PaiselloVigeeLeBrun
145px Domenico Cimarosa %28recomposed%29
Domenico Scarlatti – một trong những nghệ nhân vĩ đại nhất của nhạc khí Ý, Giovanni Paisiello – một trong những nhà soạn nhạc cổ điển quan trọng nhất và Domenico Cimarosa – một trong những gương mặt chủ đạo của thể loại opera buffa cuối thế kỷ 18

Khởi nguồn từ truyền thống truyền miệng hàng thế kỷ, âm nhạc Napoli mang hình thức phong nhã trong bối cảnh âm nhạc tôn giáo lẫn đời thường, bắt đầu từ thế kỷ 15 và đến thế kỷ 17. Napoli đóng vai trò quan trọng trong lịch sử âm nhạc nghệ thuật phương Tây trong hơn bốn thế kỷ.[356]

Sự tiến hóa có được nhờ bốn nhạc viện danh tiếng là Santa Maria di Loreto, Pietà dei Turchini, Sant’Onofrio a Capuana và Poveri di Gesù Cristo, từ đó các nhà soạn nhạc quan trọng của bức tranh toàn cảnh châu Âu xuất hiện, những người đã đóng góp đáng kể cho sự hình thành và phát triển của trường phái âm nhạc Napoli. Sau này được thể hiện qua các nhạc sĩ xuất chúng như Alessandro và Domenico Scarlatti, Giovanni Battista Pergolesi, Nicola Porpora, Domenico Cimarosa và Giovanni Paisiello. Chất lượng và số lượng âm nhạc được sản xuất ở Napoli trong thời kỳ chủ nghĩa cổ điển được minh chứng bằng một bức thư mà người ca Leopold Mozart viết cho con trai của mình là Wolfgang Amadeus Mozart năm 1778, trong đó ông đã ưu ái so sánh khung cảnh opera ở Napoli với Paris về cơ hội cho nhà soạn nhạc trẻ nổi lên. Trong cuối thời kỳ Baroque, Alessandro Scarlatti, đã thành lập trường phái opera Napoli; đây là một dạng opera seria, là một bước phát triển mới vào thời đó.[357] Một hình thức opera khác có nguồn gốc ở Napoli là opera buffa, một phong cách opera kinh điển có mối liên hệ chặt chẽ với Battista Pergolesi và Piccinni; những người đóng góp sau này cho thể loại này bao gồm Gioachino Rossini và Mozart.[358]

Cây đàn guitar sáu dây sớm nhất được tạo ra bởi Gaetano Vinaccia vào năm 1779; nhạc cụ này bây giờ được gọi là guitar lãng mạn. Gia đình Vinaccia cũng phát triển đàn mandolin.[359][360] Do ảnh hưởng của người Tây Ban Nha, người dân Napoli trở thành những người tiên phong trong âm nhạc guitar cổ điển, với Ferdinando Carulli và Mauro Giuliani là những người sáng tạo nổi bật.[361] Giuliani đến từ Puglia nhưng sống và làm việc ở Napoli được nhiều người coi là một trong những tay chơi guitar và nhà soạn nhạc vĩ đại nhất thế kỷ 19, cùng với Fernando Sor người xứ Catalunya đương thời.[362][363]

121px Enrico Caruso%28d%C3%A9tail%29
Enrico Caruso, một trong những tenor lẫy lừng nhất của Ý
213px Renato Carosone
Renato Carosone, cha đẻ của làn sóng âm nhạc tại Ý ngay sau Thế chiến thứ hai: nhạc jazz

Bốn nhạc viện của thành phố được hợp nhất vào năm 1808 dẫn đến sự ra đời của Nhạc viện San Pietro a Majella từ đó các nhân vật như Ruggero Leoncavallo, Riccardo Muti, Sergio Fiorentino, Vincenzo Bellini, Saverio Mercadante, Aldo Ciccolini, Salvatore Accardo, Bruno Canino, Nicola Antonio Zingarelli và Roberto De Simone. San Pietro a Majella tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay với tư cách vừa là một trung tâm giáo dục âm nhạc uy tín vừa là một bảo tàng âm nhạc. Trong số các nghệ sĩ đường phố đáng chú ý có gương mặt của Salvadore Cammarano, người quan trọng nhất của thời kỳ lãng mạn, và Andrea Leone Tottola. Trong số những nhạc trưởng đáng chú ý, nổi bật nhất là Riccardo Muti. Trong số các ca sĩ opera, chúng ta nhớ đến Maria Borsa và đặc biệt Enrico Caruso, được coi là một trong những tenor giọng nam cao opera vĩ đại nhất mọi thời đại,[364] ông được xem là tượng đài của người dân Napoli, xuất thân từ tầng lớp lao động.[365]

Thể loại ca khúc Napoli “canzone napoletana” về cơ bản là âm nhạc truyền thống của thành phố, với hàng trăm bài hát dân gian, một số bài có thể bắt nguồn từ thế kỷ 13.[366] Trong số các biểu hiện cổ xưa nhất là các điệu múa phổ biến tarantella của Napoli, nói chung là từ vùng Campania, ra đời vào cuối thế kỷ 17 và được gọi là Tammurriata, nó có nguồn gốc từ vùng Puglia và lan rộng bên cạnh tất cả các phần còn lại của Vương quốc Hai Sicilia. Điệu tarantella Napoli là một điệu nhảy tán tỉnh được thực hiện bởi các cặp đôi có “nhịp điệu, giai điệu, cử chỉ và các bài hát đi kèm khá phá cách” với âm nhạc vui tươi tiết tấu nhanh.[367]

Trong hai thế kỷ trước, cái gọi là “ca khúc cổ điển Napoli” ra đời và trở thành một loại hình chính thức vào năm 1835, nổi tiếng cuộc thi sáng tác hàng năm của Lễ hội Piedigrotta [366] giữa thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20 và với các lễ hội âm nhạc Napoli về sau. Bài hát cổ điển Napoli với sự góp mặt của các nhà soạn nhạc như Ernesto Murolo, Libero Bovio, Vincenzo Russo và Salvatore Di Giacomo, đã trở thành một trong những biểu tượng của nền âm nhạc Ý.[368] Trong bối cảnh đó, giọng nam cao Enrico Caruso nổi lên như một nghệ sĩ truyền tải xuất sắc nhất và là một tượng đài âm nhạc Napoli trên toàn thế giới.

250px Luciano Pavarotti 15.06.02 cropped2

Ca khúc Napoli được yêu thích và nổi tiếng nhất thế giới ‘O sole mio đã đem đến cúp vàng Grammy danh giá cho danh ca Pavarotti năm 1980.

Trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một số tác giả và nghệ sĩ biểu diễn tiếp tục theo đuổi truyền thống cổ điển, chẳng hạn như Roberto Murolo và Aurelio Fierro. Ngoài ra, những người khác bắt đầu làm phát sinh sự pha trộn giữa các bài hát tiếng Napoli và tiếng Ý, với đại diện lớn nhất là Peppino di Capri và Massimo Ranieri. Cuối cùng, sự tiếp xúc của các nhạc sĩ Napoli với người Mỹ trong thời kỳ chiếm đóng của Hoa Kỳ tại Ý, đã làm nảy sinh một nhánh âm nhạc mới đúng nghĩa và cha đẻ của nó là Renato Carosone.

Có rất nhiều nhạc sĩ và nhạc sĩ đã cống hiến và vẫn cống hiến cho sự tiếp nối của truyền thống âm nhạc Napoli; điển hình như Giuseppe Di Stefano, Domenico Modugno và Dalida. Trụ sở chính của RAI ở Napoli là kho lưu trữ âm thanh của những ca khúc Napoli. Trong thời hiện đại, ca khúc Napoli đã chứng kiến ​​sự thay đổi thể loại của mình, mở ra cánh cửa cho các thể loại âm nhạc khác. Từ progressive rock của Osanna đến James Senese và Napoli Centrale, Pino Daniele, Edoardo và Eugenio Bennato, chỉ là một vài cái tên trong số các nhạc sĩ “hiện đại” nổi tiếng và được đánh giá cao nhất. Những gương mặt đáng chú ý khác của nền âm nhạc Napoli trong hai mươi năm qua là Almamegretta, 99 Posse và rapper Clementino. Từ những năm 1980, thể loại “neomelodic” cũng đã thành danh, tiền thân của nó là Nino D’Angelo. Ngoài ra, còn có nhiều hình thức âm nhạc khác nhau phổ biến ở Napoli nhưng không được biết đến nhiều bên ngoài thành phố, chẳng hạn như cantautore (“ca sĩ kiêm nhạc sĩ”) và nhạc kịch Napoli sceneggiata, được mô tả như một vở nhạc kịch opera xà phòng; nhận được sự quan tâm đặc biệt và kéo dài cho đến ngày nay, các đại diện như Nino Taranto và gần đây là Mario Merola có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của loại hình này.[369]

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

250px Piedigrotta 2007 ok 1050186

Lễ hội Piedigrotta, Napoli.

Ý nghĩa văn hóa của Napoli thường được thể hiện thông qua một loạt các lễ hội được tổ chức trong thành phố. Sau đây là một số lễ hội nổi tiếng thường diễn ra ở Napoli:

  • Lễ hội Piedigrotta (Festa di Piedigrotta) – Một sự kiện âm nhạc, thường được tổ chức vào Tháng Chín, để tưởng nhớ Đức Mẹ Piedigrotta. Trong suốt cả tháng, một loạt các buổi trình diễn âm nhạc, các buổi hòa nhạc, các sự kiện tôn giáo và các sự kiện dành cho trẻ em được tổ chức để phục vụ giải trí cho người dân thành phố và các khu vực lân cận.[370]
  • Lễ hội Pizza (Pizzafest) – Vì Napoli nổi tiếng là quê hương của bánh pizza, thành phố tổ chức một lễ hội kéo dài mười một ngày dành riêng cho món ăn mang tính biểu tượng này. Đây là một sự kiện quan trọng đối với người dân Napoli và khách du lịch, vì nhiều trạm ẩm thực mở cửa phục vụ và cho nếm thử nhiều loại bánh pizza chuẩn kiểu Napoli. Ngoài việc nếm thử bánh pizza, một loạt các chương trình giải trí khác cũng được thực hiện.[371]
  • Tháng Năm của những tượng đài (Maggio dei Monumenti) – Một nét văn hóa nơi thành phố tổ chức một loạt các sự kiện đặc biệt dành riêng cho ngày sinh của Vua Carlos của nhà Bourbon. Lễ hội hiện diện nghệ thuật và âm nhạc của thế kỷ 18, và nhiều tòa nhà thường đóng cửa quanh năm mở cửa cho du khách tham quan vào khoảng thời gian này.[372]
  • Sự trở lại của Lễ hội Thánh Gianuariô (Il Ritorno della festa di San Gennaro) – Một dịp lễ kỷ niệm đức tin hàng năm được tổ chức trong suốt ba ngày, để tưởng nhớ vị thánh bảo hộ của thành phố. Trong suốt lễ hội diễn ra các cuộc diễu hành, lễ rước tôn giáo và các buổi giải trí âm nhạc. Một lễ kỷ niệm tương tự hàng năm cũng được tổ chức tại khu “Little Italy” ở Manhattan, Thành phố New York nơi có đông người gốc Ý sinh sống.[373][374]

Truyền thống và văn hóa dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli. Il sangue %C3%A8 vivo

Nghi thức phép lạ “máu hóa lỏng” thiêng liêng của Thánh Gianuariô trong niềm tin Công giáo tại địa phương.

Truyền thống lịch sử và phong phú của Napoli cùng nền văn hóa lâu đời của nó đã xác định cảm giác về “thần thái Napoli” theo thời gian, hình thành và tổng hợp nên các thói quen và tín ngưỡng khác nhau của người dân địa phương. Những yếu tố này, một số trong số chúng thể hiện hình thức rất đẹp, sinh động và phong cách và một số khác biểu hiện lối biếm họa dí dỏm mỉa mai, định hình nên con người Napoli có được bản sắc vững chắc và sự mạnh mẽ của thành phố, thậm chí tóm tắt bối cảnh văn hóa và dân gian của toàn bộ vùng, hay trong thậm chí một số trường hợp, là đại diện cho cả nước Ý.[375]

Nền tảng văn hóa, từ ca nhạc đến ẩm thực, từ các nghi lễ thiêng liêng đến những tín ngưỡng thần bí, có nghĩa là thành phố gắn liền với nhiều khuôn mẫu khác nhau, trong một số trường hợp cũng được mở rộng sang bối cảnh quốc gia. Pizza, Mặt Trời, tarantella và cây đàn mandolin là 4 biểu tượng văn hóa đời sống của Napoli, trên thực tế được coi là những biểu tượng cổ điển nhất của nước Ý (và đôi khi được sử dụng với ý nghĩa xúc phạm) trong trí tưởng tượng của tập thể quốc tế.[376]

Mặt khác, có những cái tên hoặc hình ảnh tổng hợp và đại diện cho bản sắc Napoli đã thành khuôn mẫu như núi Vesuvius; chiếc sừng hoặc ông tiên munaciello, minh chứng cho sự mê tín phổ biến; mozzarella, biểu tượng của ẩm thực Napoli và nước Ý bên cạnh bánh pizza; trò bingo – trò chơi mùa Giáng sinh điển hình đi kèm với trò đoán số của người Napoli là một phát minh phổ biến khác của người dân thành phố sau này cũng được sử dụng cho trò chơi xổ số, rất phổ biến tại Napoli; sau đó là Pulcinella, một trong những loại mặt nạ nổi tiếng nhất của Ý và thường được dùng để đại diện cho nước Ý; cuối cùng là hình tượng cổ kính của những con hẻm Napoli, chủ đạo bởi những căn nhà nhỏ chen chút san sát nhau và quần áo treo đầy dọc đường.[375]

Nhà thờ chánh tòa Napoli là địa điểm hàng đầu trong niềm tin tín ngưỡng tôn giáo của người dân địa phương, mỗi năm vào ngày 19 tháng 9, nơi đây tổ chức lễ phép lạ lâu đời của Thánh Gianuariô, vị thánh quan thầy của thành phố.[377] Trong phép lạ mà hàng ngàn người dân Napoli đổ xô đến để chứng kiến máu khô của Gianuariô được cho là chuyển sang thể lỏng khi đưa đến gần các thánh tích được cho là của thi thể ông, minh chứng cho sự sùng đạo của người dân và tình yêu đối với vị thánh này.[377]. Ngoài ra, lòng sùng kính Đức Mẹ Arco cũng là một biểu hiện đặc trưng tại thành phố.[378] Trong số các loại hình văn hóa tôn giáo quần chúng, nghệ thuật truyền thống dựng cảnh Chúa giáng sinh của người dân Napoli chiếm ưu thế.

Điện ảnh và truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli có ảnh hưởng đáng kể đến nền điện ảnh Ý. Vì tầm quan trọng của thành phố, nhiều bộ phim và chương trình truyền hình được quay (toàn bộ hoặc một phần) ở Napoli. Ngoài việc làm bối cảnh cho một số bộ phim và chương trình, rất nhiều tài tử nổi tiếng (diễn viên, đạo diễn và nhà sản xuất) xuất thân từ thành phố.

Napoli là địa điểm chính cho những kiệt tác điện ảnh Ý thời kỳ đầu. Assunta Spina (1915) là một bộ phim câm được chuyển thể từ một bộ phim truyền hình chiếu rạp của nhà văn người Napoli, Salvatore Di Giacomo. Phim do Gustavo Serena làm đạo diễn. Serena cũng đóng vai chính trong bộ phim Romeo và Juliet năm 1912.[379][380][381]

250px Ieri%2C Oggi%2C Domani

Ieri, Oggi e Domani của Vittorio De Sica, với sự tham gia diễn xuất của Sophia Loren và Marcello Mastroianni, đã thắng tượng vàng cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất trong lễ trao giải Oscar lần thứ 37.

Một số bộ phim nổi tiếng diễn ra (toàn bộ hoặc một phần) tại Napoli bao gồm:[382]

  • Hai cậu bé đánh giày (1946), do Vittorio De Sica làm đạo diễn
  • Le mani sulla città (1963), do Francesco Rosi đạo diễn
  • Hành trình đến Ý (1954), do Roberto Rossellini đạo diễn
  • Hôn nhân kiểu Ý (1964), do Neapolitan, Vittorio De Sica làm đạo diễn
  • It Started in Naples (1960), do Melville Shavelson làm đạo diễn

Napoli là quê hương của một trong những bộ phim màu đầu tiên của Ý, Totò a colori (1952), với sự tham gia của Totò (Antonio de Curtis), một diễn viên hài nổi tiếng sinh ra ở Napoli.[383] Một số bộ phim hài đáng chú ý lấy bối cảnh ở Napoli bao gồm Ieri, Oggi e Domani (Hôm qua, Hôm nay và Ngày mai) của Vittorio De Sica, với sự tham gia của Sophia Loren và Marcello Mastroianni, đã đạt giải Oscar cho danh mục Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất, It Started in Naples, L’oro di Napoli một lần nữa của Vittorio De Sica; phim kịch tính như Profumo di donna của Dino Risi; phim chiến tranh như Bốn ngày Napoli của đạo diễn Nanni Loy người Sardegna; phim nhạc kịch sceneggiata như Zappatore, từ bài hát cùng tên của Libero Bovio và ca sĩ đóng vai chính và nam diễn viên Mario Merola; các phim tội phạm như Il Camorrista với Ben Gazzara đóng vai trùm camorra khét tiếng Raffaele Cutolo; và các phim cổ trang hoặc lịch sử như That Hamilton Woman với sự tham gia của Vivien Leigh và Laurence Olivier.

Các bộ phim Napoli hiện đại hơn bao gồm Ricomincio da tre, mô tả cuộc sống khốn khó của một người di cư trẻ vào cuối thế kỷ 20. Bộ phim Gomorrah năm 2008, dựa trên cuốn sách của Roberto Saviano, khám phá bóng tối của thành phố Napoli thông qua năm câu chuyện đan xen về tổ chức tội phạm khét tiếng của thành phố, cũng như loạt phim truyền hình cùng tên.

Chương 5 của bộ manga Jojo chàng trai dũng cảm của Nhật Bản, Vento Aureo, có cốt truyện diễn ra tại Napoli. Một số tập của loạt phim hoạt hình Tom và Jerry cũng có tham chiếu/ảnh hưởng từ Napoli. Bài hát “Santa Lucia” do mèo Tom chơi trong tập Cat và Dupli-cat có nguồn gốc từ Napoli. Tập phim “Chú chuột Napoli” (Neapolitan Mouse) có bối cảnh diễn ra tại thành phố. Napoli cũng xuất hiện trong các tập phim truyền hình nhiều kỳ như The Sopranos và phiên bản năm 1998 của Bá tước Monte Cristo, với sự tham gia của Gérard Depardieu.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

250px Stadio San Paolo Serie A

Sân vận động San Paolo trong mùa giải Serie A 2019–20.

250px Diego Maradona%2C Napoli

Tranh tường đường phố Napoli phác họa cầu thủ Diego Maradona.

Cho đến nay bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất ở Napoli. Được người Anh đưa đến thành phố vào đầu thế kỷ 20,[384] môn thể thao này đã ăn sâu vào văn hóa địa phương: nó phổ biến ở mọi tầng lớp trong xã hội, từ những trẻ em đường phố scugnizzi đến những tuyển thủ chuyên nghiệp giàu có. Câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng nhất của thành phố là S.S.C. Napoli, chơi các trận đấu trên sân nhà tại Sân vận động San Paolo ở phường Fuorigrotta. Sau sự ra đi của cựu cầu thủ Diego Maradona vào ngày 25 tháng 11 năm 2020, sân vận động đã được chính quyền đổi tên thành “Sân vận động Diego Armando Maradona” để vinh danh tưởng nhớ vị tiền đạo người Argentina đã chơi cho họ trong bảy năm.[385] Đội bóng chơi ở Giải vô địch bóng đá quốc gia Ý và đã dành huy hiệu vô địch Scudetto hai lần, thắng chiếc cúp Coppa Italia sáu lần và Supercoppa Italiana hai lần.[24][386] Đội cũng đã giành được cúp vô địch UEFA Europa League,[387] và từng được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất thế kỷ của FIFA là Diego Maradona trong số các cầu thủ của mình. Bản thân Napoli đã sản sinh ra rất nhiều cầu thủ chuyên nghiệp nổi bật, bao gồm Ciro Ferrara và Fabio Cannavaro. Cannavaro là đội trưởng đội tuyển quốc gia Ý cho đến năm 2010, và đã dẫn dắt đội giành chức vô địch World Cup 2006. Do đó, anh được vinh danh là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA.

Một số câu lạc bộ nhỏ hơn của thành phố bao gồm F.C. Neapolis và Internapoli, chơi tại Sân vận động Arturo Collana. Thành phố cũng có các đội thuộc một loạt các môn thể thao khác như Eldo Napoli đại diện cho thành phố tại Serie A của môn bóng rổ và thi đấu tại thành phố Bagnoli. Thành phố đồng đăng cai EuroBasket 1969. Partenope Rugby là đội bóng bầu dục nổi tiếng nhất của thành phố: đội đã hai lần vô địch giải bóng bầu dục Serie A. Các môn thể thao địa phương phổ biến khác bao gồm bóng nước, đua ngựa, chèo thuyền, đấu kiếm, quyền Anh và võ thuật. Học viện Quốc gia và Trường đấu kiếm Napoli (Accademia Nazionale di Scherma) là nơi duy nhất tại Ý cấp danh hiệu “Bậc thầy kiếm thuật” và “Bậc thầy kendo” sau kỳ thi khảo hạch.[388]

Camorra và khủng hoảng đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

Camorra – Tội phạm có tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

225px Camorristi 1906

Các thành viên Camorra đầu thế kỷ 20.

Camorra là tên gọi của mafia tại Napoli, là tổ chức tội phạm và thế giới ngầm hoạt động chủ yếu tại thành phố Napoli và các khu vực trong địa bàn vùng Campania.[389] Đây là một trong những tổ chức tội phạm lớn nhất và cổ xưa nhất tại Ý, có nguồn gốc từ thế kỷ 17. Nguồn gốc của thuật ngữ “Camorra” không rõ ràng và có nhiều cách giải thích, tuy nhiên giả thuyết được chấp nhận nhiều nhất là hợp từ của “capo” và một trò chơi đường phố tại Napoli có tên là “morra“,[390] tên này đồng thời cũng được sử dụng để chỉ các băng nhóm tội phạm kiểm soát cờ bạc và mại dâm lúc bấy giờ tại Vương quốc Napoli. Camorra nổi lên trong giai đoạn hỗn loạn kèm khoảng trống quyền lực từ năm 1799 đến năm 1815, khi nền Cộng hòa Parthenope được tuyên bố thành lập theo làn sóng Cách mạng Pháp và phong trào đấu tranh bảo hoàng chống cách mạng khôi phục vương triều Bourbon, quyền hành và an ninh thành phố bấy giờ rơi vào tay các ông trùm giang hồ và côn đồ địa phương.[391][392]

Không giống như cấu trúc kiểu hình chóp kim tự tháp của Mafia Sicilia, cơ cấu của Camorra thiếu sự phân cấp bậc trong các chức vị đầu não quyền lực nhất, mà được tổ chức theo hướng “hàng ngang” hơn và chia thành các nhóm riêng lẻ còn được gọi là “gia tộc”.[391][393] Mỗi capo hay “đầu lĩnh/trùm” là người đứng đầu mỗi gia tộc, bên trong đó có thể phân làm hàng chục hoặc hàng trăm nhánh tùy thuộc vào quyền lực và cấu trúc của gia tộc đó. Do đó khi các gia tộc Camorra hoạt động độc lập, họ thường có xu hướng thù địch với nhau hơn vì đụng chạm lợi ích. Tuy nhiên, điều này cũng làm cho tổng thể Camorra kiên cường hơn trong trường hợp các thủ lĩnh hàng đầu bị bắt hoặc sát hại, và các gia tộc và tổ chức mới sẽ xuất hiện từ những tàn tích của những gia tộc cũ. Đầu lĩnh Pasquale Galasso từng tuyên bố trước tòa, “Campania có thể trở nên tồi tệ hơn vì khi thanh trừng được một nhóm Camorra, mười nhóm khác có thể được sinh ra từ nó.”[391]

Các mục tiêu kinh doanh chính của Camorra là buôn bán ma túy, lừa đảo, làm hàng giả và rửa tiền. Các thành viên của Camorra được gọi là camorristi, gắn liền với các hoạt động buôn lậu, tống tiền (thuế bảo kê pizzo), hối lộ, cướp của và giết người. Cũng không có gì lạ khi các gia tộc Camorra thâm nhập vào chính trị của từng khu vực tương ứng do họ kiểm soát. Vào đầu thế kỷ 21, Camorra được đặc trưng bởi tính phân mảnh cao, dẫn đến nhiều cuộc đụng độ giữa các gia tộc tội phạm để giành quyền kế vị và chinh phục các địa bàn gây ảnh hưởng. Vào năm 2004 và 2005, gia tộc Di Lauro và băng Secondigliano – một phe ly khai ở vùng ngoại ô phía bắc thành phố cố gắng khẳng định quyền kiểm soát ma túy và mại dâm trong khu vực,[394] đã “thanh toán” nhau một mối thù đẫm máu mà báo chí Ý gọi là “ân oán Scampìa”. Kết quả có 139 vụ giết người trên đường phố. Vào cuối tháng 10 năm 2006, một loạt vụ giết người mới xảy ra ở Naples giữa 20 gia tộc cạnh tranh, cướp đi sinh mạng của 12 người chỉ trong 10 ngày. Bộ trưởng bộ Nội vụ khi đó là Giuliano Amato đã quyết định cử thêm hơn 1.000 cảnh sát và quân cảnh carabinieri đến Napoli để chống tội phạm và bảo vệ khách du lịch.[395] Theo một báo cáo được công bố vào năm 2007 bởi Confesercenti – tổ chức thương mại lớn thứ hai của Ý, Camorra kiểm soát các ngành công nghiệp sữa và cá, buôn bán cà phê và hơn 2.500 tiệm làm bánh ở Napoli.[396] Nhà báo Roberto Saviano và là tác giả của cuốn sách Gomorra – ký sự điều tra về các hoạt động của Camorra, nói rằng mạng lưới các gia tộc rộng lớn này hiện đang lấn át Mafia Sicilia, ‘Ndrangheta và các băng nhóm tội phạm có tổ chức khác ở miền nam nước Ý, về số lượng, về quyền lực kinh tế và trong những cuộc bạo lực đẫm máu tàn nhẫn.[397]

Camorra minh chứng là một tổ chức cực kỳ khó chiến đấu lại ở Ý. Không giống như Mafia Sicilia, có hệ thống phân cấp rõ ràng và phân chia lợi ích, các hoạt động của Camorra khá phân tán và ít tập trung hơn nhiều. Do đó khiến cho tổ chức trở nên khó khăn hơn nhiều để chống lại thông qua những cuộc đàn áp mạnh tay.[391][398] Ở Campania, nơi tỷ lệ thất nghiệp cao và cơ hội bị hạn chế, Camorra đã trở thành một phần không thể thiếu trong cấu trúc xã hội. Nó mang lại cảm giác cộng đồng và cung cấp công ăn việc làm cho các thanh niên. Các thành viên mới được hướng dẫn trong việc theo đuổi các hoạt động tội phạm, bao gồm buôn lậu thuốc lá, buôn bán ma túy và trộm cắp.[399] Chính phủ đã nỗ lực chống lại các hoạt động tội phạm của Camorra. Giải pháp cuối cùng nằm ở khả năng của nước Ý trong việc cung cấp các giá trị giáo dục và cơ hội việc làm cho thế hệ tiếp theo. Tuy nhiên, chính phủ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn để thúc đẩy các cải cách dài hạn cần thiết này để cải thiện triển vọng kinh tế địa phương và tạo việc làm.[399] Thay vào đó, việc chống tội phạm đã phải dựa vào hoạt động thực thi pháp luật hạn chế và yếu kém trong một môi trường có lịch sử lâu dài về sự khoan dung và chấp nhận tội phạm cũng như được vận hành bởi quy tắc ngầm omertà.[391]

Kể từ đầu những năm 1980 và sự tham gia sâu rộng vào hoạt động buôn bán ma túy, Camorra đã có được sự hiện diện mạnh mẽ ở các nước châu Âu khác, đặc biệt là Tây Ban Nha. Thông thường, các gia tộc Camorra duy trì liên hệ chặt chẽ với các tập đoàn ma túy Nam Mỹ, điều này tạo điều kiện cho ma túy tràn vào châu Âu. Theo công tố viên Napoli Giovanni Melillo, trong một bài phát biểu năm 2021 tại Ủy ban Chống Mafia, các băng đảng Camorra hùng mạnh nhất hiện nay là gia tộc Mazzarella và Liên minh Secondigliano (gồm các gia tộc Licciardi, Contini và Mallardo).[400]

Suy thoái đô thị và khủng hoảng rác thải[sửa | sửa mã nguồn]

250px Basura N%C3%A1poles

Những thùng rác chất đầy ứ tại Napoli.

Cuộc khủng hoảng quản lý rác thải ở Napoli là một chuỗi các sự kiện xung quanh việc thiếu thu gom rác và việc đổ chất thải độc hại bất hợp pháp trong và xung quanh khu vực tỉnh Napoli (hiện nay là Thành phố đô thị Napoli) diễn ra từ năm 1994 và kết thúc vào năm 2012.[100] Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đã gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường cũng như những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người cho đến nay, đặc biệt là ở một khu vực được mệnh danh là “tam giác tử thần” cách Napoli 25 kilomet về phía đông bắc – đã trải qua sự gia tăng tỷ lệ ung thư và tử vong cao hơn so với toàn bộ nước Ý có liên quan đến sự tiếp xúc ô nhiễm từ việc xử lý rác thải bất hợp pháp của tổ chức tội phạm Camorra sau khi các bãi chôn lấp trong khu vực đã trở nên quá tải. Do việc đốt các chất thải độc hại tích tụ trong các bãi rác đầy ứ trên đường phố, Napoli và các khu vực lân cận được biết đến với cái tên “Vùng đất của những giàn hỏa thiêu” (terra dei fuochi).[401]

Bắt đầu từ những năm 1980,[100] Napoli và vùng Campania phải hứng chịu hậu quả của việc đổ chất thải rắn vào các bãi chôn lấp quá mức. Do không có kế hoạch quản lý chất thải khu vực, bãi chôn lấp chính của khu vực ở Pianura đã trở nên quá tải với cả chất thải nguy hại và không nguy hại, cộng thêm chất thải đến từ miền bắc nước Ý.[402][403] Đến năm 1994, tình trạng khẩn cấp mới được chính thức ban bố. Các báo cáo năm 2008 nói rằng cuộc khủng hoảng là do sự nhúng tay của Camorra, đã tạo ra một hoạt động kinh doanh béo bở trong ngành xử lý rác thải đô thị, hầu hết nằm trong vùng tam giác chết. Với sự đồng lõa của các công ty công nghiệp, kim loại nặng, chất thải công nghiệp, hóa chất và chất thải sinh hoạt thường được trộn lẫn với nhau, sau đó đổ gần đường và đốt để tránh bị phát hiện, dẫn đến ô nhiễm đất và không khí nghiêm trọng. Hiện tượng tội phạm môi trường lan rộng do các tổ chức tội phạm như Camorra và ‘Ndrangheta gây ra đã làm nảy sinh thuật ngữ “ecomafia“. Theo Giacomo D’Alisa và cộng sự, “tình hình trở nên tồi tệ hơn trong thời kỳ này khi Camorra đa dạng hóa chiến lược xử lý chất thải bất hợp pháp của họ: 1) vận chuyển và đổ chất thải nguy hại ở nông thôn bằng xe tải; 2) đổ chất thải vào các hang động hoặc hố bất hợp pháp; 3) trộn chất thải độc hại với hàng dệt để tránh nổ và sau đó đốt nó; và 4) trộn chất độc hại với chất thải đô thị để xử lý trong các bãi chôn lấp và lò đốt.[403] Cuộc khủng hoảng quản lý chất thải chủ yếu là kết quả của việc chính phủ không kiểm soát được việc đổ chất thải bất hợp pháp. Chính phủ đã cố gắng bắt buộc các chương trình tái chế và quản lý chất thải nhưng lực bất tòng tâm, dọn đường mở rộng cơ hội cho các hoạt động bất hợp pháp, nảy sinh thêm nhiều rào cản thách thức trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng này.[403][404][405][406] Tất cả những vấn đề này đã được các phương tiện truyền thông công khai mạnh mẽ, tạo ra một hình ảnh rất tiêu cực về Napoli cũng như miền nam nước Ý nói chung. Các định chế và một số nhân vật đáng chú ý nhấn mạnh sự bất công của định kiến rập khuôn trên, ăn sâu vào các khu vực phía bắc của đất nước – nơi có xu hướng chiếm ưu thế hơn nhiều khía cạnh tích cực khác về dân sinh và chất lượng sống.[407][408]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học và giáo dục bậc cao[sửa | sửa mã nguồn]

250px FedericoII

Đại học Napoli do Hoàng đế Federico II thành lập năm 1224, là viện đại học công lập đầu tiên của thế giới.

Napoli được biết đến với nhiều viện giáo dục đại học và trung tâm nghiên cứu, là một trong những cái nôi học thuật hàn lâm và tri thức lớn của thế giới phương Tây. Thành phố là nơi tọa lạc của viện đại học công lập lâu đời nhất trên thế giới, tên chính thức là Đại học Napoli Federico II, được thành lập bởi Federico II của Đế quốc La Mã Thần thánh vào ngày 5 tháng 6 năm 1224. Đây này là một trong những đại học nổi bật nhất ở Ý, với khoảng 100.000 sinh viên và 3.000 giáo sư (theo số liệu năm 2020).[409][410]

Ngoài Federico II, Napoli còn có viện đại học trọng điểm thứ hai và hiện đại hơn là Đại học vùng Campania mang tên kiến trúc sư người Ý Luigi Vanvitelli, được mở vào năm 1989 và có liên kết chặt chẽ với tỉnh Caserta gần đó.[411] Một trung tâm giáo dục đáng chú ý khác là Đại học Đông phương Napoli, chuyên về văn hóa phương Đông, và được thành lập bởi nhà truyền giáo Dòng Tên Matteo Ripa vào năm 1732, sau khi ông trở về từ triều đình Khang Hy, Hoàng đế nhà Thanh của Trung Quốc lúc bấy giờ.[412]

Các trường đại học nổi bật khác ở Napoli bao gồm Đại học Napoli Parthenope, đại học tư thục Suor Orsola Benincasa, và Chủng viện Thần học Dòng Tên Nam Ý.[413][414] Nhạc viện San Pietro a Majella là cơ sở giáo dục âm nhạc hàng đầu của thành phố; được thành lập vào năm 1826 với tên gọi “Nhạc viện Hoàng gia” sau sự hợp nhất của bốn nhạc viện khác từ thế kỷ 16 trước đó, theo di nguyện của vua Francesco I. Ngày nay hoạt động giảng dạy được tổ chức cho tất cả các nhạc cụ và một bảo tàng âm nhạc độc đáo được đặt bên trong.[415] Học viện Mỹ thuật Napoli ra đời năm 1752 theo lệnh của Carlos III nhà Bourbon, ông đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển sau này của hội họa Napoli vào thế kỷ 19 và thế kỷ 20, cụ thể hơn là trong việc hình thành trường phái Posillipo. Học viện Mỹ thuật tọa lạc trên phố Đức Bà thành Constantinopolis (Via Santa Maria di Costantinopoli) là trường nghệ thuật hàng đầu của thành phố và là một trong những ngôi trường cổ kính nhất ở Ý.[416]

Thư viện và cục lưu trữ[sửa | sửa mã nguồn]

250px Chiostro di Marmo o Grande. 0054 %2823452848426%29

Đan viện bên trong Nhà thờ các thánh Severino và Sossio là nơi đặt Cục Lưu trữ quốc gia Ý tại Napoli.

Napoli có cơ quan Cục Lưu trữ quốc gia được thành lập vào năm 1808 để tập trung tất cả các kho lưu trữ cổ xưa của Vương quốc Napoli vào một địa điểm duy nhất. Hiện tại, nó trở thành cơ sở của Cục Lưu trữ nhà nước Ý tại Napoli, tọa lạc bên trong đan viện của Nhà thờ các thánh Severino và Sossio và thuộc quản lý của Bộ Văn hóa Ý.[417]

Hiện tại trong địa phận Napoli có 14 thư viện thuộc quyền sỡ hữu của thành phố. Thư viện lâu đời nhất Napoli và thứ hai ở Ý chỉ sau thư viện Malatestiana tại Cesena, là thư viện của Girolamini bên trong nhà thờ cùng tên, mở cửa cho công chúng vào năm 1586. Thư viện lớn nhất thành phố và đứng thứ ba trong cả nước về quy mô, là Thư viện quốc gia Vittorio Emanuele III, mở cửa vào năm 1804 với tên gọi “Thư viện hoàng gia Napoli” tọa lạc bên trong Điện Hữu Học (Palazzo degli Studi). Các bộ sưu tập sách nằm tại đây đã được chuyển từ cung điện Capodimonte theo di nguyện của hoàng gia, từ đó trở thành “Thư viện hoàng gia nhà Bourbon” vào năm 1816, và vào năm 1860 với sự thống nhất nước Ý sau đó nó được gọi là Thư viện quốc gia.[418][419][420]

Các thư viện, kho lưu trữ hoặc bộ sưu tập văn thư khác của thành phố gồm có hệ thống thư viện Đại học Napoli, Nhạc viện San Pietro a Majella, Cục Lưu trữ quốc gia, Quỹ Thư viện Benedetto Croce, Viện Nghiên cứu Lịch sử Ý, Hiệp hội Sử học nước nhà Napoli, thư viện Tarsia, thư viện thuộc Bảo tàng Khảo cổ học quốc gia, thư viện lịch sử nghệ thuật Bruno Molajoli và nhiều thư viện khác.

Trường đào tạo và nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Với nguồn gốc Hy Lạp của thành phố, trường phái Napoli có nguồn gốc lẫy lừng và rất cổ xưa. Trong thời La Mã, trường phái quan sát của Epicurus khá nổi tiếng.

250px Napoli 2007 0428 124522

Khu phức hợp Nunziatella, trường đào tạo quân sự lâu đời nhất vẫn còn hoạt động trên thế giới.

Một trong những học viện quan trọng nhất ở Napoli chắc chắn là trường quân sự “Nunziatella”, trường quân sự lâu đời nhất vẫn còn hoạt động trên thế giới, cũng như học viện đào tạo quân sự lâu đời nhất của Ý.[421] Được thành lập vào năm 1787 bởi Ferdinando IV nhà Bourbon với tên gọi Học viện quân sự hoàng gia, vào năm 2012 trường đã được bầu chọn là di sản văn hóa của các quốc gia Địa Trung Hải bởi Hội đồng nghị viện các nước Địa Trung Hải. Tọa lạc tại khu vực Pizzofalcone, ngôi trường đã là nơi đào tạo danh giá cả về quân sự lẫn dân sự, và trong số các giáo sư và sinh viên gồm những nhân vật tầm cỡ như Francesco De Sanctis, Mariano d’Ayala, Carlo Pisacane, Enrico Cosenz và thậm chí là vua của nước Ý, Vittorio Emanuele III. Trong số rất nhiều cựu sinh viên nổi trội của học viện, có những người thuộc cấp bậc rất cao của lực lượng vũ trang, hoặc thủ tướng, các bộ trưởng, nghị sĩ lưỡng viện Quốc Hội của Vương quốc Hai Sicilia, Vương quốc Ý và Cộng hòa Ý, chánh án Tòa án Hiến pháp tối cao, cũng như những người nổi tiếng trong giới văn hóa, chính trị của Ý và quốc tế.[422][423][424]

Napoli cũng là nơi đặt Đài quan sát thiên văn Capodimonte, được thành lập vào năm 1812 bởi vua Joachim Murat và nhà thiên văn học Federigo Zuccari,[425] trạm nghiên cứu động vật biển lâu đời nhất trên thế giới Stazione Zoologica Anton Dohrn, được lập ra vào năm 1872 bởi nhà khoa học người Đức Anton Dohrn – trong đó bao gồm thủy cung lâu đời nhất ở Ý và lâu đời thứ hai ở châu Âu, và đài quan sát núi lửa lâu đời nhất thế giới, Đài quan sát Vesuvius, được thành lập vào năm 1841. Đài quan sát này nằm trên sườn núi Vesuvius, gần thành phố Ercolano, và hiện là một viện chuyên ngành vĩnh viễn của Viện Vật lý Địa cầu Quốc gia Ý. Ngoài ra, các tổ chức như Trung tâm Tài nguyên Sinh vật biển châu Âu, Viện ung thư quốc gia Pascale, Viện Di truyền học y khoa Telethon, Viện quốc gia Vật lý hạt nhân, Hiệp hội quốc gia về Khoa học, Văn học và Nghệ thuật… cũng có trụ sở hoặc cơ quan đại diện tại Napoli.

Tổ chức hành chính và chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

250px Pal Giacom

Điện San Giacomo, tòa thị chính Napoli.

Chính quyền thành phố[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi comune (huyện) trong số 8.101 comune ở Ý ngày nay được đại diện bởi một hội đồng thành phố do một thị trưởng được bầu đứng đầu, và được gọi một cách không chính thức là công dân thứ nhất (primo cittadino). Hệ thống này, hoặc một hệ thống khác cũng rất tương tự, đã có từ khi Napoléon xâm lược Ý vào năm 1808. Khi Vương quốc Hai Sicilia được khôi phục, hệ thống này được giữ nguyên với các thành viên của giới quý tộc đảm nhiệm vai trò thị trưởng. Vào cuối thế kỷ 19, đảng phái chính trị đã bắt đầu xuất hiện; trong thời kỳ phát xít, mỗi comune được đại diện bởi một quyền trưởng (podestà). Kể từ Thế chiến thứ hai, cục diện chính trị của Napoli không hoàn toàn ngã về cánh hữu cũng như cánh tả – cả những người theo chủ nghĩa dân chủ Cơ đốc giáo và những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ đều cai quản thành phố vào những thời điểm khác nhau, với tần suất gần như ngang nhau. Hiện nay, thị trưởng thành phố Napoli là Luigi de Magistris của đảng Dân chủ và Tự trị; de Magistris đã giữ chức vụ này kể từ cuộc bầu cử năm 2011.

Phường[sửa | sửa mã nguồn]

250px Quartieri di Napoli Patrimonio dell%27Umanit%C3%A0

Bản đồ 30 phố phường Napoli, các phường màu đỏ chứa các khu vực tập hợp thành khu trung tâm lịch sử Napoli được UNESCO công nhận di sản thế giới.

Dựa trên các đặc điểm về địa lý và địa hình, chức năng cũng như hoàn cảnh lịch sử cụ thể, Napoli được chia làm 30 khu phố hay “phường” (quartieri) sau đây (dựa trên bản đồ):

 

1. San Ferdinando
2. Arenella
3. Chiaia
4. Bagnoli
5. San Giuseppe
6. Montecalvarlo
7. Avvocata
8. Stella
9. San Carlo all’Arena
10. Vicaria

 

11. San Lorenzo
12. Poggioreale
13. San Giovanni a Teduccio
14. Mercato
15. Pendino
16. Porto
17. Vomero
18. Posillipo
19. Fuorigrotta
20. Miano

 

21. Piscinola-Marianella
22. Barra
23. Ponticelli
24. San Pietro a Patierno
25. Pianura
26. Secondigliano
27. Sciampìa
28. Chiaiano
29. Soccavo
30. Zona Industriale

 

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ba mươi phường ở trên được nhóm lại với nhau thành mười ủy ban cộng đồng chính quyền, gọi là “quận” (hay municipilità trong tiếng Ý).[426] 10 quận hành chính của Napoli là:

Quận Bao gồm các phường Dân số (người)
năm 2001
Diện tích
(km²)
Mật độ
(người/km²)
Bản đồ
Quận 1 Chiaia, Posillipo, San Ferdinando 82.673 8,80 9.553,07 10 quận của Napoli
Quận 2 Avvocata, Mercato, Montecalvario, Pendino, Porto, San Giuseppe 91.536 4,56 20.073,68
Quận 3 San Carlo all’Arena, Stella 103.633 9,51 10.897,27
Quận 4 Poggioreale, San Lorenzo, Vicaria, Zona Industriale 96.078 9,27 10.364,4
Quận 5 Arenella, Vomero 119.978 7,42 16.169,54
Quận 6 Barra, Ponticelli, San Giovanni a Teduccio 138.641 19,28 7.190,92
Quận 7 Miano, San Pietro a Patierno, Secondigliano 91.460 10,26 8.914,23
Quận 8 Chiaiano, Marianella, Piscinola, Scampia 92.616 17,45 5.307,51
Quận 9 Pianura, Soccavo 106.299 16,56 6.419,02
Quận 10 Bagnoli, Fuorigrotta 101.192 14,16 7.416,38
Tổng cộng 10 quận, 30 phường 1.024.106 người 117,27 km² 8.733 người/km²

Thành phố đô thị Napoli[sửa | sửa mã nguồn]

250px Map of region of Campania%2C Italy%2C with provinces en.svg

Thành phố đô thị Napoli (màu xanh lục) và các tỉnh trong vùng Campania.

250px Napoli map

Thành phố đô thị Napoli

Thành phố đô thị Napoli (Città metropolitana di Napoli) được thành lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2015 và là một trong 14 thành phố đô thị của Ý – đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh, thay thế cho đơn vị hành chính cũ trước đó là tỉnh Napoli. Với hơn 3 triệu dân, đây là thành phố đô thị đông dân thứ 3 của Ý và đứng nhất quốc gia tính theo mật độ dân số.

Toàn bộ khu vực có mức độ đô thị hóa cao, diện tích 1.171 km² với tổng cộng 92 huyện thị bao gồm cả thành phố Napoli – đóng vai trò là “tỉnh lỵ” nòng cốt và nơi đặt trung tâm hành chính của thành phố đô thị. Các bờ biển của vịnh nhìn ra biển Tyrrhenum, về phía khu vực cánh đồng Phlegraei giáp với vịnh Gaeta tại bờ biển Domitianus về phía tây bắc, về phía đông nam có dãy núi Sữa (Monti Lattari) nằm trên bán đảo Sorrento giáp với bờ biển Amalfi; phía Bắc giáp với tỉnh Caserta và về phía đông bắc với các tỉnh Benevento và Avellino, về phía đông giáp với vùng nông thôn Nocerino-Sarnese của tỉnh Salerno. Núi lửa Vesuvius chiếm phần rất lớn ở khu vực trung tâm lãnh thổ của thành phố đô thị.

Các thể chế, tổ chức và hiệp hội[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli ngoài tư cách là thủ phủ của thành phố đô thị và vùng Campania cũng như là nơi đặt trung tâm hành chính thành phố đô thị và chính quyền vùng, thành phố còn là nơi đặt trụ sở của các cơ quan quốc gia như Cơ quan Bảo đảm Truyền thông (AGCOM) và Biệt thự Rosebery, dinh thự chính thức vào mùa hè của Tổng thống Cộng hòa Ý.

Trên trường quốc tế, Napoli là nơi tọa lạc của một trong những Đại sứ quán Mỹ lâu đời nhất thế giới và đầu tiên trên lãnh thổ bán đảo Ý vào năm 1796 khi còn là kinh đô của Vương quốc Hai Sicilia. Hiện nay, thành phố là nơi thiết đặt cơ quan ngoại giao của các quốc gia trên thế giới với tổng cộng 76 tổng lãnh sự quán và các lãnh sự quán danh sự.[427]

Đặc biệt, Napoli là đầu não tổng chỉ huy các lực lượng quân đội Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) của khu vực Nam Âu (kèm với các căn cứ nhỏ khác tại Capodichino, Camaldoli và Agnano), là trung tâm chỉ đạo chiến lược cho mặt trận phía nam bao gồm Bắc Phi, Sahel và Trung Đông.[428] Thành phố là nơi có trung tâm đào tạo phát triển lập trình viên do Apple hợp tác thành lập với Đại học Napoli, trở thành Học viện iOS đầu tiên tại châu Âu.[108] Ngoài ra, Học viện Networking và Trung tâm cải tiến Cisco,[429] Đài quan sát quốc tế về Kinh tế biển[430] và cơ quan tổ chức phi chính phủ quốc tế Lazarus Union tại Ý.[431] cũng đặt tại Napoli.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thể[sửa | sửa mã nguồn]

250px Cruise ship in Naples %288097207647%29

Cảng Napoli

Napoli nằm ở trung tâm của những tuyến đường quan trọng bậc nhất Địa Trung Hải, đồng thời nằm trên vùng đất nội địa rất màu mỡ có thể khai phóng giữa hai khu vực núi lửa, do đó ngay từ thời cổ đại Neapolis đã có thể trông cậy vào một nền kinh tế vững mạnh liên kết chặt chẽ với nông nghiệp, nguyên vật liệu thô và đồ thủ công. Trong thời trung cổ và cận đại, thành phố đã trở thành một trong những trung tâm lớn của Ý về ngành công nghiệp dệt may, đặc biệt là khâu dệt lụa.[432] Napoli từng là nơi đặt trụ sở của Sở giao dịch chứng khoán, Sở đúc tiền và Ngân hàng của Vương quốc Hai Sicilia. Trong thời đại công nghiệp, khu liên hợp kỹ thuật lớn đầu tiên của Ý ra đời ở Napoli tại khu vực Pietrarsa nơi trải qua sự phát triển kinh tế và công nghiệp đáng chú ý trong suốt 20 năm, vào năm 1860 nó có lực lượng lao động khoảng 1200 đơn vị. Tuy nhiên sau khi thống nhất, nhà máy đã trải qua một giai đoạn suy giảm chậm cho đến khi ngừng sản xuất vào khoảng năm 1880, trong khi vẫn duy trì việc bảo dưỡng và sửa chữa đầu máy xe lửa và động cơ cho đến năm 1975. Cần nhấn mạnh tầm quan trọng kinh tế của Napoli rằng thành phố vẫn có chỉ số công nghiệp hóa cao hơn Torino vào năm 1871, 10 năm sau khi sáp nhập vào nước Ý.[433] Để cải thiện những vấn đề nghiêm trọng về kinh tế – xã hội đang nổi lên lúc bấy giờ ở Napoli thì vào năm 1904, các khu công nghiệp lớn đã được tạo ra ở cả 2 vùng ngoại ô phía đông và phía tây như một phần kế hoạch trong dự án Risanamento. Trong thời kỳ 20 năm Phát xít, Napoli có thể được coi là đã trở thành hiện thực công nghiệp hóa với khoảng 14% dân số làm việc trong lĩnh vực này. Thành phố đã có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhất là trong giai đoạn kỳ tích kinh tế Ý và từng là một thành phố công nghiệp sầm uất mặc dù nhiều nhà máy đã đóng cửa trong vài thập kỷ qua.[434]

Hiện tại, Napoli là nền kinh tế lớn thứ tư của Ý sau Milano, Roma và Torino, và là nền kinh tế đô thị lớn thứ 103 thế giới tính theo sức mua, với GDP năm 2011 ước tính là 83,6 tỷ đô la Mỹ, tương đương 28.749 đô la trên đầu người.[435][436] Napoli đứng thứ 26 (trong số 115) ở châu Âu về GDP (61,8 tỷ đô la vào năm 2014, cao hơn các quốc gia như Slovenia và tương đương với các thành phố như Zurich hoặc Copenhagen). Nổi bật hơn cả, Napoli là một trạm trung chuyển container hàng hóa trọng điểm và cảng Napoli – một trong những cảng lớn nhất và nhộn nhịp nhất của Địa Trung Hải, luôn là nguồn thu nhập chủ đạo của thành phố.[437][438]

Mặc dù có những giai đoạn cải thiện ngắn, nhờ vào sự hiện diện của nền thủ công nghiệp mạnh mẽ (nghệ thuật dựng cảnh Chúa giáng sinh, chế biến gốm sứ, sản xuất đồ trang sức bằng san hô và các vật phẩm khắc trên vỏ tại Torre del Greco và nhiều hơn thế), tuy nhiên tiềm lực kinh tế chưa bao giờ đạt đến mức tương xứng, không chỉ do đầu tư của nhà nước chưa đủ mà còn do sự xâm nhập của Camorra và nạn tham nhũng chính trị làm nản lòng các quỹ đầu tư tư nhân. Các hoạt động bất hợp pháp tại Napoli có tác động to lớn đến nền kinh tế quốc gia, kèm theo những tác động tiêu cực đến cấu trúc xã hội và môi trường của thành phố.[104][439] Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp vẫn là một trong những vấn đề nổi cộm và nghiêm trọng nhất của Napoli,[440][441][442] thành phố đứng thứ năm về tốc độ tăng tỷ lệ thất nghiệp trong cuộc Đại suy thoái[443] và với thu nhập bình quân đầu người là 12.755 euro vào năm 2016, mức thấp nhất ở Ý.[444]

250px Centro direzionale di Napoli

Trung tâm tài chính Napoli

Việc thiếu sự phát triển thực sự ở mảng ngành công nghiệp đã khiến Napoli chuyển dịch trở thành một trung tâm quan trọng thuộc khu vực ba của nền kinh tế (thương mại, hành chính, tài chính, vận tải và du lịch) và các lĩnh vực nâng cao như nghiên cứu công nghệ (các học viện Apple và Cisco). Trong đó khu vực kinh doanh thương mại và dịch vụ quan trọng nhất thuộc về quận tài chính Napoli.[445] Vào năm 2005, 264.946 công ty đã được đăng ký trong Sổ đăng ký Kinh doanh của Phòng Thương mại Napoli. Khu vực dịch vụ sử dụng phần lớn người dân Napoli, mặc dù hơn một nửa trong số này là các doanh nghiệp nhỏ, được phân chia như sau: 54% trong số đó thuê ít hơn 20 nhân công; trong khi doanh nghiệp quy mô vừa với trên hơn 200 lao động là 52 đơn vị, và doanh nghiệp có trên 500 công nhân là 12 đơn vị.[445][446]

Năm 2003, việc làm ở khu vực tỉnh Napoli được phân bổ như sau:[445]

Dịch vụ công Sản xuất Thương mại Xây dựng Giao thông Dịch vụ tài chính Nông nghiệp Khách sạn Nhóm ngành khác
Phần trăm 30.7% 18% 14% 9.5% 8.2% 7.4% 5.1% 3.7% 3.4%

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

250px Positano Sunset

Bờ biển Amalfi cảnh đẹp hữu tình lân cận Napoli cũng là địa điểm rất nức tiếng mà phần đông du khách đồng thời ghé thăm.

Du lịch là một trong những ngành lớn nhất của nền kinh tế Napoli, với lĩnh vực khách sạn chiếm 3,7% GDP của thành phố. Khách du lịch bắt đầu đến thăm Napoli vào thế kỷ 18. Về lượng khách quốc tế, Napoli có lượng khách đến thăm nhiều thứ 166 trên thế giới trong năm 2008, với 381.000 du khách (giảm 1,6% so với năm trước), xếp sau Lille, nhưng vượt qua York, Stuttgart, Belgrade và Dallas.[447] Mặc dù vậy, nhiều khách du lịch nội địa đến thăm thành phố đã nâng tổng lượng khách du lịch lên vài triệu mỗi năm. Napoli nổi tiếng do phong cảnh, lịch sử, văn hóa, di tích và cảnh quan thành phố. Các điểm tham quan nổi tiếng bao gồm quảng trường Quảng trường Plebiscito, Nhà hát San Carlo, Nhà thờ chính tòa, và một số di tích, đền đài, quảng trường và đường phố nói chung của thành phố. Phần đông khách du lịch đến Napoli cũng đồng thời ghé thăm các điểm tham quan lân cận bên ngoài thành phố, bao gồm núi lửa Vesuvius, tàn tích cổ điển Pompeii (với hơn 2,5 triệu ​​du khách vào năm 2007)[448] cũng như bờ biển Amalfi tuyệt đẹp gần đó với các thị trấn như Sorrento, Positano, Amalfi, hay các đảo Capri, Ischia và Procida, và Đại cung điện hoàng gia Caserta.

Napoli, cùng với Firenze, Roma, Venezia và Milano, là một trong những thành phố du lịch hàng đầu của Ý.[449] Với 3,7 triệu lượt du khách vào năm 2018,[450] thành phố đã nổi lên khỏi tình trạng suy thoái du lịch nặng nề trong những thập kỷ qua chủ yếu là do điểm đến đơn phương của một thành phố công nghiệp mà còn do những tổn hại về hình ảnh do các phương tiện truyền thông Ý gây ra,[407][408] từ trận động đất Irpinia năm 1980 và khủng hoảng rác thải, liên quan đến khu vực ven đô thị của thành phố.[451] Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiện tượng này, cần phải xem xét rằng một lượng lớn khách du lịch đến thăm Napoli mỗi năm, lưu trú tại nhiều địa phương xung quanh nó,[452] được kết nối với thành phố bằng cả tuyến giao thông tư nhân và công cộng.[453][454] Các chuyến thăm hàng ngày đến Napoli được thực hiện bởi nhiều nhà điều hành tour du lịch khác nhau ở Roma và bởi tất cả các khu du lịch chính của vùng Campania: Napoli là đô thị được ghé thăm thứ 9 tại Ý và là đứng nhất ở miền Nam.[455]

250px Pizza in Naples

Nghệ thuật làm pizza tại Napoli được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, là món ăn mà du khách không thể bỏ qua khi đến thăm nơi “kinh đô khai sinh” của món nổi tiếng này.

Napoli từ lâu đã bị mang tiếng xấu là một thành phố tội phạm và nguy hiểm, thường bị du khách bỏ qua do những định kiến phổ biến. Trên thực tế, thành phố ngày nay là một nơi tương đối an toàn đối với khách du lịch, nhưng mức độ nguy hiểm thực tế luôn bị phóng đại. So với các thành phố khác ở Ý, Napoli có vẻ hỗn loạn, bẩn thỉu và vô tổ chức hơn, với chất lượng thấp kinh niên của cơ sở hạ tầng cơ bản cũng như vấn đề vệ sinh và dịch vụ công, cùng với tỷ lệ thất nghiệp cao. Tuy nhiên theo thống kê tội phạm tại Ý và châu Âu gần đây, mức độ tội phạm thực tế ở Napoli thấp hơn so với Roma, Milano, Torino và các thành phố lớn khác của Ý và châu Âu, và thực tế là nó thấp hơn nhiều so với mức độ tội phạm ở những thành phố lớn của Hoa Kỳ. Giống như ở bất kỳ thành phố lớn nào ở châu Âu, hành vi giật ví, móc túi, lừa đảo ở trên đường phố hoặc chợ trời và tính trạng chặt chém nâng giá của các hãng taxi có thể xảy ra và du khách nên cẩn thận. Tuy nhiên, tội phạm bạo lực rất hiếm xảy ra đối khách du lịch ở Napoli, và sự hiện diện của Camorra thường nó chỉ làm ảnh hưởng đến những người có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh tại địa phương, nhưng không đáng chú ý trong bầu không khí của các khu vực trung tâm thành phố. Đối với khách du lịch, Napoli an toàn như bất kỳ thành phố nào của Ý. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đánh giá Napoli “là một địa điểm ở mức ‘trung bình’ trên thang nguy cơ đe dọa bởi tội phạm nhắm vào hoặc ảnh hưởng đến các lợi ích chính thức của chính phủ Hoa Kỳ”, cơ quan này nói thêm “những tội phạm nhỏ như móc túi, trộm cắp xe đang đậu và giật túi xách là những vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là ở các thành phố lớn tại Ý. Khách du lịch không nên bị ru ngủ vào cảm giác an toàn sai lầm khi tin rằng những người ăn mặc đẹp không phải là những kẻ móc túi hay trộm cắp tiềm năng. Hầu hết các vụ trộm được báo cáo xảy ra tại các địa điểm du lịch đông đúc, trên xe buýt hoặc xe lửa công cộng, hoặc tại các ga đường sắt chính”.[456][457][458][459][460][461]

Ngành này không ngừng phát triển[462][463] và triển vọng vươn tới đẳng cấp thành phố nghệ thuật một lần nữa được mong đợi trong thời gian tương đối ngắn;[464] du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng quyết định đối với nền kinh tế của thành phố, đó là lý do tại sao, chính xác như đã xảy ra chẳng hạn như trong trường hợp của Venezia hoặc Firenze, nguy cơ phải trải qua việc chỉnh trang đô thị ở khu trung tâm lịch sử hiện nay là rất cao.[465]

Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

250px Capua in 2020.01

Autostrada A1, tuyến đường dài nhất nước Ý nối Milano xuống Napoli.

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli là ngã ba đường quan trọng trong cả nước, kết nối bởi một số đường cao tốc trọng điểm. Autostrada A1 hay đường cao tốc Mặt Trời (Autostrada del Sole) là đường cao tốc dài nhất ở Ý nối 2 thành phố tuyến đầu của 2 miền Bắc Nam là Milano và Napoli.[466] A3 chạy về phía nam từ Napoli đến Salerno – nơi bắt đầu A2 xuôi tiếp hướng nam xuống đến mũi ngón chân của “chiếc ủng Ý” là thành phố Reggio Calabria. A16 bắt đầu từ Napoli chạy về phía đông đến Canosa di Puglia.[467] A16 có biệt danh là “Đường cao tốc Lưỡng Hải” (autostrada dei Due Mari) vì nó nối vùng bờ tây giáp biển Tyrrhenum với bờ đông có biển Adriatic.[468]

Đường vành đai Napoli (tên chính thức là đường cao tốc A56), với 270.000 lượt di chuyển mỗi ngày, chạy dọc khu vực nội thành của thành phố, băng qua những ngọn đồi với nhiều đường hầm khác nhau; việc kết nối các phường quận được thực hiện thông qua đường vành đai bên ngoài Circumvallazione Esterna di Napoli, đường trục quốc lộ Mediano, đường trục tỉnh lộ Perimetrale di Melito-Scampia, đường quốc lộ 162 dir del Centro Direzionale.[469]

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

250px Napoli Centrale railway station in 2020.05

Napoli Centrale, nhà ga chính của thành phố

Napoli là nút giao thông đường sắt trọng điểm của miền Nam nước Ý, được tiếp cận bởi các tuyến đường sắt chính của Ý như Đường tàu cao tốc Roma-Napoli, đường sắt Roma-Cassino-Napoli, đường sắt Roma-Formia-Napoli, Napoli-Salerno và Napoli-Foggia.

Nhà ga Napoli Centrale là nhà ga chính của thành phố cũng như cả khu vực miền Nam[470] và là nhà ga đứng thứ bảy của Ý tính theo lưu lượng hành khách (150.000 người dùng hàng ngày, nhưng tăng lên 200.000 nếu bao gồm cả bến xe buýt Metropark của nhà ga và tính luôn cả tuyến đường sắt địa phương vòng núi lửa Vesuvius là Circumvesuviana có sức chứa 73.000.000 lượt khách mỗi năm). Napoli Centrale tọa lạc tại quảng trường Garibaldi, là nhà ga đầu tiên được xây dựng vào năm 1886 trong dự án của nhà quy hoạch đô thị Errico Alvino; tuy nhiên, nhà ga thế kỷ 19 đã bị tàn phá sau Chiến tranh thế giới thứ hai và nhường chỗ cho tòa nhà hành khách mới cách đó 250 mét so với ban đầu, được thiết kế vào năm 1954 bởi một nhóm kiến ​​trúc sư và kỹ sư, bao gồm cả hình của Pierluigi Nervi. Ga Napoli Afragola, nằm trên tuyến cao tốc Roma-Napoli, là một trạm trung chuyển khu vực vĩ ​​mô cho các vùng Puglia, Lazio, Basilicata, Campania và Calabria. Kể từ năm 2007, các chuyến tàu chạy với tốc độ 300 km/h (186 dặm/giờ) đã kết nối Napoli với Roma với thời gian hành trình dưới một tiếng,[471] và các dịch vụ đường sắt cao tốc trực tiếp cũng hoạt động đến Firenze, Bologna, Milano, Torino và Salerno. Dịch vụ “xe lửa đường thủy” ngủ qua đêm hoạt động mỗi tối đến các thành phố ở Sicilia.

250px Stazione Napoli Porta Nolana Naples

Nhà ga Porta Nolana là điểm bắt đầu các tuyến Circumvesuviana đi các khu vực đô thị ngoại ô xung quanh núi lửa Vesuvius.

Tuyến đường sắt hành khách Napoli, một phần của nó được bao gồm trong tuyến đường sắt đô thị của thành phố được gọi là Tuyến 2, xuyên đô thị từ đông sang tây. Các ga chính của nó lần lượt là Napoli Campi Flegrei (phía Tây), Napoli Mergellina (giữa) và Napoli Piazza Garibaldi (phía Đông) – tại đây sẽ giao với tuyến tàu điện ngầm số 1 (Metro Linea 1) vận hành bởi ANM và với hơn 5 tuyến tàu vùng đi ra các vùng ngoại ô thuộc công ty EAV.

Trong lịch sử từ năm 1881 đến năm 1960, mạng lưới đường tàu điện nổi mặt phố rộng khắp trong đó kết hợp các đường tàu điện nổi Capodimonte vào năm 1929, và tích hợp cùng các đường tram ngoại ô do công ty Société Anonyme des Tramways Provinciaux của Bỉ quản lý lúc bấy giờ, đã từng tồn tại các tuyến tàu điện nổi Napoli-Aversa/Giugliano, Aversa-Albanova, Napoli-Frattamaggiore và Napoli-Caivano, trong khi các tuyến ngoại thành xa hơn do công ty vận tải đô thị trực tiếp điều hành là các tuyến tram Napoli-Portici-Torre del Greco và Napoli-Bagnoli-Pozzuoli. Hiện nay các tuyến tram ngoại ô này đã được thay thế phục vụ hoàn toàn bởi các tuyến tàu vùng.

Cảng[sửa | sửa mã nguồn]

250px View of the Port of Naples %28Maritime Station front view%29 Naples%2C Campania%2C Italy%2C South Europe

Quang cảnh Cảng Napoli, ở giữa bức ảnh là mặt tiền của Nhà ga hàng hải Napoli.

Cảng Napoli nằm ở trung tâm Địa Trung Hải và đã hoạt động từ thời kỳ cổ đại, đóng vai trò thực hiện các chức năng thương mại và kết nối giao thông đường thủy. Khu vực bến tàu dài 12 kilomet, và mở rộng địa phận của nó đến cảng Castellammare di Stabia và đường bờ biển từ La Pietra (Bagnoli) đến Pietrarsa (Portici). Với lưu lượng 6.562.325 hành khách năm 2016 cộng với hơn 1,4 triệu hành khách du thuyền quốc tế vào năm 2019, đây là một trong những cảng quan trọng nhất ở cả châu Âu và khu vực Địa Trung Hải. Nhà ga hàng hải Napoli (Stazione marittima di Napoli) – một trong những ga đường biển lớn nhất tại châu Âu – có nhiệm vụ là nhà ga đón khách chính của bến cảng, đồng thời cũng là trung tâm tổ chức một số sự kiện quan trọng như hội sách, các buổi hòa nhạc, sàn nhảy khiêu vũ chào đón năm mới. Bên cạnh đó, thành phố cũng được phục vụ bởi các cảng Pozzuoli và cảng Mergellina (với các chức năng kết nối và du lịch). Các cảng khác, chẳng hạn như tại Nisida, Posillipo, Molosiglio và cảng nhỏ tại Santa Lucia thay vào đó chỉ có chức năng phục vụ du lịch.[472][473][474][475][476]

Cảng Napoli chạy một vài dịch vụ phà công cộng, tàu cánh ngầm và tàu thủy SWATH, kết nối nhiều địa điểm ở cả thành phố đại đô thị Napoli, bao gồm Capri, Ischia và Sorrento, và tỉnh Salerno bên cạnh, bao gồm cả Salerno, Positano và Amalfi. Dịch vụ cũng mở hoạt động cho các điểm đến xa hơn, chẳng hạn như Sicilia, Sardegna, Ponza và Quần đảo Eolie.[477]

Sân bay[sửa | sửa mã nguồn]

250px Naples Airport%2C Italy %2818069997289%29

Sân bay quốc tế Napoli-Capodichino

Sân bay quốc tế Napoli hay còn gọi là Napoli-Capodichino nằm ở phường ngoại ô San Pietro a Patierno, cách trung tâm thành phố khoảng 4,5 km. Đây là sân bay lớn nhất ở miền nam nước Ý, với khoảng 250 chuyến bay quốc gia và quốc tế đến hoặc đi hàng ngày.[478] Đây là sân bay bận rộn thứ 5 ở Ý về số lượng hành khách (khoảng 11 triệu người) và là sân bay đứng đầu về tốc độ tăng trưởng trong số các sân bay tầm trung của châu Âu, được xác định bởi ACI EUROPE Fast and Furious[479] (từ 6.700.000 năm 2016 lên 8.600.000 năm 2017, tăng 26,6%).[480] Capodichino đã nhận được “Giải thưởng Aci Europe” là sân bay tốt nhất ở châu Âu trong hạng mục có 5-10 triệu lượt hành khách trong năm 2017.[481]

Với tốc độ phát triển theo cấp số nhân nhưng không thể mở rộng thêm diện tích (do nằm trong khu vực đông dân cư), vào tháng 10 năm 2019, việc sát nhập dứt khoát với sân bay Salerno-Costa d’Amalfi đã diễn ra, nơi sẽ chứng kiến ​​các chuyến bay thương mại đầu tiên sau khi hoạt động kéo dài đường băng được hoàn thành (dự kiến khoảng năm 2024).[482][483]

Ngoài ra thành phố còn có sân bay Napoli-Grazzanise, nhiều lần được xem là một trung tâm giao thông liên lục địa tiềm năng của thành phố, hiện phục vụ dưới mục đích là căn cứ quân dụng do Không quân Ý quản lý.[484]

Giao thông đô thị và phương tiện công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

250px Naples tram

Tàu điện mặt phố hay tram tại Napoli.

Đường phố ở khu vực trung tâm thành phố nổi tiếng chật hẹp (đây là nơi đầu tiên trên thế giới thiết lập đường một chiều dành cho người đi bộ),[485] vì vậy dân chúng thường sử dụng xe ô tô hatchback nhỏ gọn và xe tay ga để di chuyển cá nhân.[486]

Napoli sở hữu mạng lưới giao thông công cộng rộng khắp, không chỉ phục vụ trong địa phận thành phố mà còn phục vụ hầu hết các khu vực đô thị xung quanh với giá vé được quản lý bởi Hiệp hội UnicoCampania. Mạng lưới này chủ yếu dựa trên một hệ thống đường sắt địa phương dài 31 km (gồm hai tuyến metro nội thành và một tuyến liên tỉnh được gọi là tuyến Cầu Vồng Linea Arcobaleno nối thành phố với phần còn lại của chùm đô thị ở phía bắc) do ANM vận hành kết hợp với tuyến đường sắt đô thị của thành phố được gọi là Tuyến 2 từ năm 1997 (do Trenitalia điều hành) và các tuyến đường sắt tàu vùng Circumvesuviana (tuyến vòng qua núi lửa Vesuvius, bao gồm Tuyến 3 và 4 đô thị), Circumflegrea (tuyến vòng Cánh đồng Hỏa Diệm Phlegraei, bao gồm Tuyến 5 đô thị), Cumana (tuyến đến Cumae, bao gồm Tuyến 7 đô thị), MetroCampania NordEst (tuyến đông bắc đến Benevento) do EAV quản lý.

250px Scale mobili della stazione Toledo %28Naples%29

Toledo được bình chọn là một trong những ga tàu điện ngầm đẹp nhất thế giới.

Hệ thống giao thông nội thị hầu hết được vận hành bởi công ty thuộc sở hữu chính quyền thành phố là Azienda Napoletana Mobilità (ANM).[232] Tàu điện nổi (hay tram) cùng với xe điện bánh hơi có chức năng kết nối cảng, nhà ga trung tâm và vùng ngoại ô phía đông. Xe buýt có mạng lưới phủ khắp; đội ANM có hơn 1000 xe được chia thành khoảng ba mươi loại xe buýt khác nhau. Điều này bắt nguồn từ hình thái và cấu trúc xây dựng đặc biệt của Napoli, thành phố thường có những con hẻm hẹp (đặc biệt là ở khu trung tâm cổ kính) và những con phố dốc. Do vậy, các giải pháp thay thế đã được áp dụng như xe buýt nhỏ có thể dễ dàng đi vào các ngõ và những con phố hẹp nhất, và loại buýt xe khách nối toa có hai toa cứng vững trở lên được nối với nhau bằng khớp quay ở vị trí trung tâm có khả năng chở gấp đôi số hành khách mà không gặp trở ngại từ chiều dài quá khổ của xe buýt. Đội ngũ nhân viên thực hiện phục vụ chuyên chở hơn 500.000 chuyến đi hàng ngày trên khoảng 130 tuyến xe buýt.[487]

Tàu điện ngầm Napoli (Metropolitana di Napoli) là một hệ thống đường sắt vận chuyển tốc hành dưới lòng đất kết hợp cả những đoạn đường sắt trên mặt, hiện bao gồm 2 tuyến metro là Tuyến 1 và Tuyến 6. Việc kéo dài các tuyến metro hiện tại, xây dựng mới Tuyến 7, cũng như các nghiên cứu khả thi và các dự án hình thành các tuyến mới khác đang trong quá trình thi công và thực hiện (như Tuyến 10 của mạng lưới tàu điện ngầm sẽ giải quyết được tình trạng “cô lập” của nhà ga Napoli-Afragola[488] hoặc tuyến metro Chiaiano-Licola sẽ cho phép phát triển giao thông ở khu vực bờ biển),[489] với các bến xe trung chuyển ở các khu vực ngoại vi và bao gồm hơn 100 nhà ga (hiện tại là 64) trên toàn bộ bề mặt thành phố.[490] Đặc biệt, nhiều trong số các nhà ga tàu điện ngầm của thành phố được chú ý nhờ kiến trúc trang trí và nghệ thuật công cộng.[232]

250px Napoli Funicolare di Montesanto

Nhà ga tàu leo dốc Montesanto

Bên cạnh tàu điện ngầm, Napoli còn sỡ hữu hệ thống tàu leo dốc gồm 4 tuyến là Centrale, Chiaia, MontesantoMergellina.[491]. Ngoài ra, còn có bốn thang máy công cộng đang hoạt động trong thành phố: tại cầu Chiaia, phố Acton, cầu Sanità,[492] và trong công viên Ventaglieri, đi kèm với hai thang cuốn công cộng.[493]

Một dịch vụ vận tải bằng tàu cánh ngầm trong khu vực gọi là “Metro miền Biển” (Metrò del Mare), hoạt động hàng năm từ tháng 7 đến tháng 9 được duy trì bởi một nhóm các chủ tàu và chính quyền địa phương, kết nối thành phố với các khu nghỉ dưỡng ven biển chính của khu vực.[494]

Khoảng thời gian trung bình mà mọi người dành để đi lại bằng phương tiện công cộng ở Napoli, chẳng hạn như đến và đi từ nơi làm việc, vào một ngày trong tuần là 77 phút. 19% người đi phương tiện công cộng, tham gia trung bình hơn 2 giờ mỗi ngày. Khoảng thời gian chờ trung bình tại một điểm dừng hoặc nhà ga dành cho phương tiện công cộng là 27 phút, trong khi 56% người sử dụng giao thông công cộng trung bình đợi hơn 20 phút mỗi ngày. Khoảng cách trung bình mà mọi người thường đi trong một chuyến đi với phương tiện công cộng là 7,1 km, trong khi 11% hành trình di chuyển là hơn 12 km đi thẳng.[495]

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Napoli thiết lập quan hệ kết nghĩa và hợp tác với 52 thành phố:[496][497]

  • Albania Durrës, từ 2017
  • Argentina Buenos Aires, từ 1993
  • Ả Rập Xê Út Jeddah, từ 2018
  • Azerbaijan Baku, từ 1972
  • Bosna và Hercegovina Sarajevo, từ 1976
  • Bulgaria Plovdiv, từ 1995
  • Canada Calgary, từ 2006
  • Canada Toronto, từ 2001
  • Trung Quốc Trịnh Châu, từ 2010
  • Cuba Santiago de Cuba, từ 1993