Thời đại quân phiệt là gì? Chi tiết về Thời đại quân phiệt mới nhất 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thời kỳ quân phiệt)

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Thời đại quân phiệt
Warlords 1925.png

Các liên hiệp quân phiệt lớn ở Trung Quốc năm 1925. Phần màu xanh được kiểm soát bởi Quốc dân đảng, sau này thành lập nên Chính phủ Quốc dân ở Quảng Châu.
Phồn thể 軍閥時代
Giản thể 军阀时代

Thời đại quân phiệt là một giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa Dân quốc khi quyền kiểm soát đất nước bị phân chia giữa các bè cánh quân sự cũ thuộc Quân đội Bắc Dương và các phe phái địa phương khác từ năm 1916 đến năm 1928.

Theo ghi chép lịch sử, Thời đại quân phiệt mở ra vào năm 1916 sau cái chết của Viên Thế Khải, nhà độc tài thực tế của Trung Quốc kể từ khi Cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Thanh rồi thành lập Trung Hoa Dân quốc vào năm 1912. Cái chết của Viên Thế Khải tạo ra một khoảng trống quyền lực lan rộng khắp Trung Quốc đại lục gồm các tỉnh Tứ Xuyên, Sơn Tây, Thanh Hải, Ninh Hạ, Quảng Đông, Quảng Tây, Cam Túc, Vân Nam và Tân Cương. Chính phủ Quốc dân đảng theo chủ nghĩa dân tộc của Tôn Dật Tiên, có trụ sở tại Quảng Châu, bắt đầu đấu tranh với Chính phủ Bắc Dương của Viên Thế Khải để trở thành chính phủ Trung Quốc chính danh. Thời đại quân phiệt đặc trưng bởi những cuộc nội chiến liên miên giữa nhiều phe phái khác nhau, lớn nhất trong số đó là Đại chiến Trung Nguyên, với hơn một triệu binh lính tham chiến.[1] Thời đại quân phiệt kết thúc vào năm 1928, khi Quốc dân đảng dưới quyền Tưởng Giới Thạch, chính thức thống nhất Trung Quốc thông qua Chiến dịch Bắc phạt, đánh dấu sự khởi đầu của Thập niên Nam Kinh. Việc một vài quân phiệt vẫn tiếp tục duy trì ảnh hưởng trong suốt những năm 1930 và 1940 đã trở thành vấn đề khó giải quyết đối với Chính phủ Quốc dân đảng trong cả Chiến tranh Trung–Nhật lẫn Nội chiến Trung Quốc.

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, lãnh đạo Phong trào Tân văn hóa, Trần Độc Tú, đã đưa ra thuật ngữ Quân phiệt (軍閥), khởi phát từ thuật ngữ gunbatsu trong tiếng Nhật vốn lại có nguồn gốc từ tiếng Đức. Thuật ngữ Quân phiệt không được sử dụng rộng rãi cho đến những năm 1920, khi các nhóm cảnh tả bắt đầu dùng nó để chỉ trích những người theo chủ nghĩa quân quốc địa phương.[2][3] Trước đây, những nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa quân quốc được gọi là Đốc quân (督軍), do chế độ mà Viên Thế Khải đưa ra sau khi tập trung hóa quyền lực.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

220px Beiyang Army

Quân Bắc Dương đang thao luyện

Nguồn gốc của các lực lượng quân đội và nhà lãnh đạo thống trị chính trị sau năm 1912 đến từ các cải cách quân sự vào cuối thời nhà Thanh. Trong Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc (1850–64), nhà Thanh buộc phải cho phép các tổng đốc thành lập lực lượng quân đội riêng, gọi là Hương binh, để chiến đấu chống lại quân Thái Bình nổi dậy; nhiều lực lượng trong số này không bị giải tán ngay cả khi Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc đã kết thúc, chẳng hạn như Hoài quân của Lý Hồng Chương.[4]

Mối liên kết bền chặt, ràng buộc gia đình và sự đối đãi tôn trọng trong quân đội được nhấn mạnh.[5] Sĩ quan không bao giờ bị luân chuyển, tướng lĩnh tự chọn lọc chỉ huy và chỉ huy thì tự chọn lọc binh lính. Do đó, không như Lục doanh và Bát kỳ, những mối liên kết trung thành cá nhân đã được hình thành giữa các sĩ quan địa phương và quân đội.[6] Thông qua những cải cách cuối triều đại, nhà Thanh không thành lập lực lượng quân đội quốc gia mà thay vào đó, tổng động viên lực lượng quân đội và dân quân địa phương, vốn thiếu sự tiêu chuẩn hóa cũng như tính kiên định. Các sĩ quan trung thành với cấp trên, thành lập bè cánh dựa trên địa vị xuất thân và gia cảnh. Mỗi đơn vị bao gồm những người đàn ông đến từ cùng một tỉnh thành. Chính sách này nhằm giảm thiểu tình trạng nhầm lẫn trong giao tiếp do phương ngữ, nhưng lại có tác dụng phụ là khuyến khích khuynh hướng địa phương. Mặc dù các tổng đốc hậu Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc thường không được công nhận là những người tiền nhiệm trực tiếp của các quân phiệt, nhưng thẩm quyền quân–dân sự kết hợp và quyền lực có phần to lớn hơn so với các tổng đốc thời trước của họ, đã cung cấp một hình mẫu cho các nhà lãnh đạo cấp tỉnh thời Cộng hòa. Sự phân mảnh sức mạnh quân sự do nhà Thanh thiếu một lực lượng quân sự thống nhất, trầm trọng hơn bởi chủ nghĩa địa phương tỉnh lẻ giữa cuộc cách mạng, cũng là một nhân tố mạnh mẽ đứng sau sự sinh sôi nảy nở của các quân phiệt. Ngoài những trở ngại về hành chính và tài chính, chính phủ Thanh mạt dường như còn dựa vào cấu trúc quân sự chia rẽ này để duy trì quyền kiểm soát chính trị.[7]

Sự khinh miệt mà Nho giáo dành cho quân đội bị gạt sang một bên bởi sự cần thiết ngày càng gia tăng của chủ nghĩa chuyên nghiệp quân sự, với việc các học giả trở nên quân sự hóa mạnh mẽ, và nhiều sĩ quan không có xuất thân Nho sĩ, vươn lên nắm quyền chỉ huy cấp cao, thậm chí giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy dân sự. Ở thời điểm này, quân sự lấn át công vụ.[8] Ảnh hưởng từ quan niệm của Đức và Nhật Bản về ưu thế quân sự đối với quốc gia, cùng với sự thiếu vắng tính thống nhất quốc gia giữa các bè cánh khác nhau trong tầng lớp sĩ quan, đã dẫn đến tình trạng phân mảnh quyền lực trong Thời đại quân phiệt.[9]

Lực lượng quân đội khu vực mạnh nhất là quân Bắc Dương đóng ở phía bắc, nằm dưới sự chỉ huy của Viên Thế Khải, được huấn luyện tốt và trang bị vũ khí tối tân nhất.[10] Cách mạng Tân Hợi năm 1911 kéo theo nhiều cuộc binh biến lan rộng khắp miền nam Trung Quốc. Cách mạng bắt đầu vào tháng 10 năm 1911, với cuộc binh biến quân đội tại Vũ Xương (Vũ Hán ngày nay). Những binh lính từng trung thành với chính quyền nhà Thanh bắt đầu đào tẩu sang phe đối lập. Lực lượng cách mạng thành lập một chính phủ lâm thời ở Nam Kinh ngay trong năm sau, dưới quyền bác sĩ Tôn Dật Tiên, người vừa trở về sau khoảng thời gian dài tha hương để lãnh đạo cách mạng. Rõ ràng là quân cách mạng không đủ mạnh để đánh bại quân Bắc Dương và nếu tiếp tục chiến đấu thì gần như chắc chắn họ sẽ phải nhận thất bại. Thay vào đó, Tôn Dật Tiên thương lượng với chỉ huy Bắc Dương Viên Thế Khải để đặt dấu chấm hết cho nhà Thanh và tái thống nhất Trung Quốc. Đổi lại, Tôn Dật Tiên sẽ bàn giao chức tổng thống của mình và tiến cử Viên Thế Khải lên làm tổng thống nước cộng hòa mới. Viên Thế Khải từ chối chuyển đến Nam Kinh và khăng khăng tiếp tục duy trì thủ đô là Bắc Kinh, nơi cơ sở quyền lực của ông được đảm bảo.

Phản ứng trước chủ nghĩa chuyên chế đang manh nha của Viên Thế Khải, các tỉnh miền nam nổi dậy vào năm 1913, nhưng bị lực lượng Bắc Dương đè bẹp hiệu quả. Các thống đốc dân sự bị thay thế bởi các thống đốc quân sự. Tháng 12 năm 1915, Viên Thế Khải cho thấy rõ ý định trở thành Hoàng đế Trung Quốc và thành lập một triều đại mới. Các tỉnh phía nam lại một lần nữa nổi dậy trong Chiến tranh hộ quốc; nhưng lần này, tình hình nghiêm trọng hơn nhiều vì hầu hết chỉ huy Bắc Dương đều từ chối công nhận chế độ quân chủ. Viên Thế Khải từ bỏ khôi phục chế độ quân chủ để tranh thủ trở lại sự ủng hộ từ các cấp tá của mình, nhưng tới thời điểm ông qua đời vào tháng 6 năm 1916, nền chính trị Trung Quốc đã hoàn toàn vỡ vụn. Tình trạng phân chia Bắc–Nam tồn tại dai dẳng trong suốt Thời đại quân phiệt.

Chế độ chính trị quân phiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Viên Thế Khải cắt giảm nhiều tổ chức chính quyền vào đầu năm 1914, bằng cách đình chỉ quốc hội, sau đó là các hội đồng cấp tỉnh. Nội các dưới quyền Viên Thế Khải sớm từ chức, khiến ông trở thành nhà độc tài của Trung Quốc.[11] Sau khi Viên Thế Khải tước đi nhiều quyền tự do cơ bản, đất nước nhanh chóng rơi vào vòng xoáy hỗn loạn và bước vào thời kỳ chủ nghĩa quân phiệt. “Chủ nghĩa quân phiệt không thay thế lực lượng quân sự cho các thành phần chính quyền khác; nó chỉ đơn thuần là cân bằng chúng theo cách khác. Sự thay đổi cán cân này một phần đến từ sự phân rã của các biện pháp trừng phạt và các giá trị thuộc về chính quyền dân sự Trung Quốc truyền thống.”[12] Nói cách khác, trong Thời đại quân phiệt, đã có một sự chuyển dịch đặc trưng từ một bộ máy quan liêu do nhà nước chi phối, nằm trong tay chính quyền trung ương sang nền văn hóa quân sự chi phối nằm trong tay nhiều nhóm, với quyền lực chuyển từ quân phiệt này sang quân phiệt khác. Một đề tài đáng chú ý về chủ nghĩa quân phiệt đã được C. Martin Wilbur xác định. “Ông chỉ ra rằng phần lớn những người theo chủ nghĩa quân quốc khu vực ở trạng thái ‘tĩnh’, tức là mục đích chính của họ chỉ xoay quanh việc đảm bảo và duy trì quyền kiểm soát một vùng lãnh thổ cụ thể mà thôi.”[13]

Quân phiệt, theo cách nói của nhà khoa học chính trị người Mỹ Lucian Pye, là những người “do bản năng nghi ngờ mà nhanh chóng nghi ngại rằng lợi ích của họ có thể bị đe dọa, vô cùng cứng đầu, cống hiến cho những mục tiêu ngắn hạn, và không thể thấm nhuần sự trừu tượng duy tâm.”[14] Các quân phiệt Trung Quốc thường xuất thân từ nền tảng quân sự nghiêm ngặt, đối xử tàn bạo với cả binh lính dưới quyền lẫn thường dân. Năm 1921, tờ North China Daily News đưa tin rằng ở tỉnh Thiểm Tây, cướp bóc và bạo lực phổ biến, trở thành một vấn nạn nghiêm trọng, khiến nông dân vô cùng kinh hãi. Ngô Bội Phu của Trực hệ được biết đến là người đàn áp các cuộc đình công của công nhân đường sắt dưới hình thức khủng bố bằng hành quyết. Một nhà ngoại giao người Anh ở tỉnh Tứ Xuyên đã chứng kiến hai kẻ nổi loạn bị chém công khai tới chết, với trái tim và lá gan bị treo lên; hai người khác thì bị thiêu chết công khai; có những kẻ còn bị cắm nến đang cháy vào những vết thương hở trên khắp cơ thể, trước khi bị chặt thành từng mảnh.[15]

220px Zhang Zuolin and Wu Peifu

Trương Tác Lâm (trái) và Ngô Bội Phu (phải), hai trong số những nhà lãnh đạo mạnh mẻ quyền lực nhất Thời đại quân phiệt

Tuy các quân phiệt đặt nặng vấn đề lòng trung thành cá nhân, các sĩ quan cấp dưới vẫn thường phản bội chỉ huy để đổi lấy khoản hối lộ gọi là “đạn bạc”, và chính các quân phiệt cũng thường phản bội đồng minh. Sự thăng tiến hầu như không liên quan đến năng lực, thay vào đó, các quân phiệt cố gắng tạo ra một mạng lưới liên khóa giữa quan hệ gia đình, thể chế, khu vực, quan hệ thầy trò cùng với tư cách thành viên trong hội anh em kết nghĩa hay hội kín. Cấp dưới phản bội chỉ huy có thể phải gánh chịu cực hình. Tháng 11 năm 1925, Quách Tùng Linh, tướng lĩnh hàng đầu trung thành với Nguyên soái Trương Tác Lâm – “Đại soái” Mãn Châu – làm một giao kèo với Phùng Ngọc Tường để nổi loạn, và gần như đã lật đổ được “Đại soái”, khiến ông này phải hứa tăng lương cho binh lính nổi loạn; cùng với dấu hiệu cho thấy người Nhật vẫn ủng hộ Trương Tác Lâm, binh lính nổi loạn rốt cuộc lại quay trở lại trung thành với chỉ huy. Quách Tùng Linh và vợ đều bị bắn chết công khai, thi thể của họ thì bị bêu ba ngày tại một khu chợ ở Thẩm Dương. Sau khi Phùng Ngọc Tường phản bội đồng minh Ngô Bội Phu để chiếm lấy Bắc Kinh cho riêng mình, Ngô Bội Phu đã phàn nàn rằng “quốc gia này chẳng có chế độ gì cả; tình trạng vô chính phủ và hành vi làm phản phổ biến khắp mọi nơi. Phản bội lãnh đạo là chuyện thường như cơm bữa …”[16]

“Nền chính trị liên kết” ngăn cản bất kỳ một quân phiệt nào thống trị chế độ. Khi một quân phiệt bắt đầu trở nên quá mạnh, những người còn lại sẽ liên minh để ngăn chặn ông ta, sau đó quay ra tấn công lẫn nhau. Mức độ bạo lực trong những năm đầu được kiềm chế, vì không nhà lãnh đạo nào muốn tham gia vào một cuộc giao tranh quá nghiêm trọng. Chiến tranh sẽ đem đến nguy cơ thiệt hại cho chính lực lượng của họ. Ví dụ, khi Ngô Bội Phu đánh bại đội quân của Trương Tác Lâm, ông cung cấp hai chuyến tàu hỏa đưa những kẻ chiến bại về nhà, biết rằng trong tương lai, nếu có bị Trương Tác Lâm đánh bại thì ông cũng có thể trông cậy vào một phép lịch sự tương tự. Hơn nữa, không một quân phiệt nào có đủ tiềm lực kinh tế hoặc sức mạnh hậu cần để tung một đòn nốc ao quyết định; điều họ có thể hi vọng nhiều nhất là giành được một số vùng lãnh thổ. Không ai có thể chinh phục toàn bộ đất nước và áp đặt một chính quyền trung ương. Tuy nhiên, tới những năm 1920, tình trạng bạo lực ngày càng trở nên khốc liệt và tàn bạo, khi mục tiêu của các quân phiệt là gây sát thương cho kẻ thù và cải thiện quyền mặc cả trong “nền chính trị liên kết”.[17]

220px Locomotives in Tangshan depot

Kiểm soát đường sắt là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các quân phiệt.

Do cơ sở hạ tầng ở Trung Quốc rất nghèo nàn, việc kiểm soát các tuyến đường sắt và đầu máy xe lửa là vô cùng quan trọng để duy trì phạm vi ảnh hưởng. Đường sắt là con đường quân vận nhanh nhất và rẻ nhất, hầu hết các trận chiến trong Thời đại quân phiệt đều diễn ra trên khoảng cách đường sắt ngắn. Năm 1925, người ta ước tính khoảng 70% đầu máy chạy trên các tuyến đường sắt nối Vũ Hán với Bắc Kinh và 50% đầu máy chạy trên các tuyến đường sắt nối Bắc Kinh với Thẩm Dương, được sử dụng để chuyên chở quân đội cùng tiếp tế.

Tàu hỏa bọc thép mang đầy súng máy và đại pháo, yểm trợ hỏa lực cho quân đội vào trận. Những cuộc giao tranh liên tục diễn ra xung quanh các tuyến đường sắt, gây nhiều thiệt hại về kinh tế. Năm 1925, ít nhất 50% đầu máy được sử dụng trên tuyến đường sắt nối Nam Kinh với Thượng Hải đã bị phá hủy, với việc binh lính của một quân phiệt dùng tới 300 toa chở hàng làm chỗ ngủ, tất cả đều đỗ trực tiếp một cách bất tiện trên đường ray. Để cản trở truy kích, các đội quân bại trận phá nát nhiều tuyến đường sắt khi tháo chạy, gây thiệt hại tới 100 triệu bạc đô la Mexico riêng trong năm 1924 (thời điểm đó, đồng đô la Mexico là đơn vị tiền tệ chính được sử dụng ở Trung Quốc). Từ năm 1925 đến năm 1927, giao tranh ở miền đông và miền nam Trung Quốc đã khiến lưu lượng đường sắt phi quân sự giảm 25%, khiến giá cả hàng hóa tăng vọt còn hàng tồn thì chất đầy kho.[18]

Hồ sơ quân phiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Rất ít quân phiệt có hệ tư tưởng. Diêm Tích Sơn, “Tỉnh trưởng kiểu mẫu” Sơn Tây, tuyên xưng một dạng đức tin hổ lốn, trộn lẫn các yếu tố dân chủ, chủ nghĩa quân quốc, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phổ quát, chủ nghĩa vô chính phủ, và chủ nghĩa gia trưởng Nho giáo vào làm một. Một người bạn đã mô tả Diêm Tích Sơn là “một người đàn ông da ngăm đen, râu ria mép, tầm thước, hiếm khi cười và luôn giữ thái độ hết sức dè dặt; Diêm không bao giờ để lộ tâm can.” Diêm Tích Sơn giữ khổ đường sắt Sơn Tây khác với các địa phương còn lại để gây khó dễ cho việc xâm chiếm lãnh địa của ông, dù chiến thuật này cũng cản trở hoạt động xuất nhập khẩu than và sắt, hai nguồn tài nguyên chính ở Sơn Tây. Phùng Ngọc Tường, “Tướng Cơ đốc”, thúc đẩy Phong trào Giám lý cùng với một loại chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc thiên tả mơ hồ, giúp ông nhận được sự ủng hộ từ Liên Xô trong một khoảng thời gian. Phùng Ngọc Tường cấm rượu, sống giản dị và mặc loại quân phục bộ binh thông thường để thể hiện sự quan tâm dành cho cấp dưới.[19]

Ngô Bội Phu, “Tướng triết gia”, từng là một viên quan đỗ đạt khoa cử, tự nhận mình là người bảo vệ các giá trị Nho giáo, thường xuất hiện trong các bức ảnh với chiếc bút lông trên tay (bút lông là biểu tượng của văn hóa Nho giáo). Tuy nhiên, nhiều người nghi ngờ rằng chất lượng thư pháp của Ngô Bội Phu có phần giảm sút sau khi thư ký của ông qua đời. Ngô Bội Phu thích có mặt trong những bức ảnh chụp tại văn phòng của ông, với chân dung người hùng George Washington ngay phía sau, để phản ánh thứ được cho là chủ nghĩa quân quốc dân chủ mà ông đang cố gắng đưa về Trung Quốc. Ngô Bội Phu nổi tiếng với khả năng hấp thụ một lượng lớn rượu nhưng vẫn có thể uống tiếp.[20] Khi Ngô Bội Phu gửi cho Phùng Ngọc Tường một chai rượu mạnh, Phùng Ngọc Tường đáp lễ bằng cách gửi lại một chai nước, một thông điệp mà Ngô Bội Phu không thể hiểu. Là người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc mãnh liệt, Ngô Bội Phu từ chối đi vào vùng tô giới nước ngoài, lập trường khiến ông phải trả giá bằng chính mạng sống của mình khi từ chối đến Công giới Thượng Hải hay Pháp giới Thượng Hải để chữa bệnh.[20]

220px Zhang Zongchang5

Trương Tông Xương, một trong những quân phiệt Trung Quốc khét tiếng nhất

Điển hình hơn là Nguyên soái Trương Tác Lâm, tốt nghiệp “Đại học Lục Lâm” (nghĩa là làm nghề ăn cướp), tuy mù chữ nhưng với tính cách mạnh mẽ, đầy tham vọng, đã vươn mình trỗi dậy từ thân phận thủ lĩnh của một băng cướp, được người Nhật thuê tấn công người Nga trong Chiến tranh Nga–Nhật (1904–1905) và trở thành quân phiệt Mãn Châu vào năm 1916. Ông làm việc công khai cho người Nhật khi họ cai trị Mãn Châu. Trương Tác Lâm chỉ quản lý 3% dân số Trung Quốc nhưng kiểm soát 90% ngành công nghiệp nặng nước này. Sự giàu có của Mãn Châu, sự hỗ trợ của người Nhật và lực lượng kỵ binh mạnh mẽ, nhanh nhẹn của Trương Tác Lâm biến ông trở thành quân phiệt hùng mạnh nhất.[19] Những người Nhật bảo trợ cho Trương Tác Lâm đòi hỏi ông phải đảm bảo môi trường kinh tế ổn định để tạo điều kiện thuận lợi cho nguồn đầu tư Nhật Bản, khiến Trương Tác Lâm trở thành một trong số ít quân phiệt theo đuổi tăng trưởng kinh tế thay vì chỉ cướp bóc.[20]

Trương Tông Xương mang biệt danh “Tướng thịt chó” vì ham đánh bài cửu (người vùng đông bắc gọi bài cửu là “thịt chó”), được miêu tả là có “vóc dáng của một con voi, não của một con lợn và tính khí của một con hổ”. Nhà văn Lâm Ngữ Đường gọi Trương Tông Xương là “nhà cai trị nhiều màu sắc, nhiều giai thoại, cổ lỗ, vô liêm sỉ nhất Trung Quốc hiện đại”. Cựu hoàng Phổ Nghi nhớ về Trương Tông Xương như “một con quái vật bị cả thế giới căm ghét”, có khuôn mặt xấu xí, húp híp, “tái mét vì nghiện thuốc phiện nặng”. Là một người tàn bạo, Trương Tông Xương khét tiếng với sở thích dùng kiếm đập mạnh vào đầu các tù nhân, mà ông gọi là “đập dưa”. Trương Tông Xương thích khoe khoang kích cỡ dương vật của mình, điều đã trở thành một phần huyền thoại về ông. Nhiều người tin rằng Trương Tông Xương là người đàn ông “trời phú” nhất Trung Quốc, có biệt danh “Tướng tám mươi sáu” vì dương vật khi cương cứng của ông được cho là dài bằng một cọc 86 đồng bạc đô la Mexico. Dàn hậu cung của Trương Tông Xương đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga, hai trong số đó là người Pháp. Vì không thể nhớ tên, Trương Tông Xương đánh số cho những người phụ nữ của mình và sau đó cũng thường quên luôn số.[20]

Những thông tin đáng chú ý khác về vài quân phiệt lớn kể trên:

  1. Trương Tác Lâm, “Quân phiệt Mãn Châu”, là đồng minh của Nhật Bản chống lại Nga trong Chiến tranh Nga–Nhật. Ông cũng là tổng đốc Thẩm Dương từ năm 1911.
  2. Ngô Bội Phu ban đầu được đào tạo như một Nho sĩ, nhưng sau đó nhận huấn luyện quân sự Nhật Bản tại Học viện quân sự Bảo Định. Nhiều nhà quan sát Trung Quốc và Anh cho rằng ông sở hữu một lực lượng ổn định ở Hoa Trung.
  3. Phùng Ngọc Tường từ nhỏ đã là một quân nhân, và giống như Ngô Bội Phu, ông cũng tốt nghiệp Học viện quân sự Bảo Định. Phùng Ngọc Tường được rửa tội bởi một nhà lãnh đạo Y.M.C.A vào năm 1913. Ông có biệt danh “Tướng Cơ đốc” vì khuyến khích quân đội theo Cơ đốc giáo. Phùng Ngọc Tường chiếm Bắc Kinh vào năm 1924, chứng minh một thành phố lớn ở Trung Quốc có thể bị lật đổ dễ dàng như thế nào.[21]
220px Muslim Bandits%2C Xinjiang%2C China %28c1915%29 Marc Aurel Stein %28RESTORED%29 %284073631151%29

Những tên cướp ở tây bắc Trung Quốc vào khoảng năm 1915.

Sự linh hoạt tuyệt vời về mặt tư tưởng của các quân phiệt và chính trị gia trong Thời đại quân phiệt, có thể được minh chứng rõ ràng qua các hoạt động của Bạch Lãng, một thủ lĩnh băng cướp. Mặc dù ban đầu chiến đấu ủng hộ nhà Thanh cùng những người theo chủ nghĩa quân chủ cực đoan và các quân phiệt, Bạch Lãng sau đó đã liên minh với phe cộng hòa,[22] tuyên bố trung thành với Tôn Dật Tiên rồi thành lập một “Đội quân trừng phạt của công dân” hòng cứu Trung Quốc khỏi bàn tay của tất cả quân phiệt.[23]

Quân đội quân phiệt[sửa | sửa mã nguồn]

Sắt tốt không dùng làm móng ngựa, người tốt không ai đi lính

—Ngạn ngữ Trung Quốc

Nhiều binh lính trong quân đội quân phiệt là những tên cướp từng phục vụ cho một chiến dịch rồi lại quay trở lại làm cướp khi chiến dịch kết thúc. Một chính trị gia đã nhận xét rằng, cướp trở thành binh lính khi các quân phiệt gây chiến với nhau, và khi chiến tranh kết thúc, lại quay trở lại làm cướp.[24] Quân đội quân phiệt thường xuyên hãm hiếp nhiều phụ nữ hoặc ép họ làm nô lệ tình dục.[25] Chế độ cướp bóc được thể chế hóa vì nhiều quân phiệt thiếu tiền để trả cho quân đội. Một số quân phiệt bắc cóc và gửi yêu cầu kèm theo ngón tay bị chặt đứt của con tin, như một cách thúc giục người nhà nhanh chóng giao tiền chuộc.[23]

250px Chinese warlord soldiers training with swords 1

Binh lính quân phiệt đang tập luyện với những thanh đao vào khoảng những năm 1920. Một số lực lượng quân đội quân phiệt, đặc biệt là ở miền nam Trung Quốc, được trang bị kém, nhận lương thấp và chu cấp tồi tệ, thường thiếu cả những nhu yếu phẩm cơ bản, chẳng hạn như súng, đạn dược và thực phẩm.[26]

Bên cạnh những tên cướp, binh lính phục vụ trong quân đội quân phiệt có xu hướng lấy từ chế độ quân dịch làng xã. Họ có thể phục vụ trong một đội quân, bị bắt, sau đó gia nhập đội quân của chính những kẻ đã bắt giữ mình trước khi lại bị bắt thêm một lần nữa. Các quân phiệt thường tích hợp luôn tù nhân vào lực lượng quân đội của họ; ít nhất 200.000 người phục vụ trong lực lượng quân đội của Ngô Bội Phu là tù nhân. Khảo sát tại một đồn trú quân phiệt vào năm 1924 cho thấy 90% binh lính mù chữ. Năm 1926, sĩ quan quân đội Hoa Kỳ Joseph Stilwell kiểm tra một đơn vị quân phiệt và quan sát thấy 20% binh lính chỉ cao dưới 1,37 m, có tuổi trung bình là 14 và hầu hết đi chân đất. Stilwell gọi “đại đội bù nhìn” này là một đơn vị quân sự vô giá trị. Một vị khách từ quân đội Anh thì nhận xét rằng, với điều kiện cần là một lãnh đạo thích hợp, những người đàn ông ở miền bắc Trung Quốc là “nguyên liệu thô phương Đông tốt nhất với vóc dáng vô song, và một thể chất sắt thép.” Tuy nhiên, thường không có nhiều các đơn vị người miền bắc chất lượng.[27]

Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

220px Zhang Zuolin with two sons

Trương Tác Lâm và hai đứa con trai đều mặc những bộ đồng phục đắt đỏ

Năm 1916, có khoảng nửa triệu binh lính ở Trung Quốc. Đến năm 1922, con số trên đã tăng gần gấp ba lần, sau đó lại tăng gấp ba lần nữa vào năm 1924; vượt quá khả năng chu cấp của các quân phiệt. Ví dụ, Nguyên soái Trương Tác Lâm, cai trị Mãn Châu công nghiệp hóa, thu được 23 triệu đô la tiền thuế vào năm 1925 trong khi phải chi khoảng 51 triệu đô la. Quân phiệt ở những khu vực khác thậm chí còn khốn đốn hơn. Ly kim là một con đường gây quỹ, loại thuế này thường bị xung công và gây thiệt hại kinh tế. Ví dụ, ở tỉnh Tứ Xuyên, có 27 loại thuế muối khác nhau và một chuyến tàu chở giấy đi trên sông Dương Tử đến Thượng Hải, đã bị các quân phiệt đánh thuế tới 11 lần, với tổng tiền thuế lên đến 160% giá trị chuyến tàu. Một quân phiệt đã đánh thuế 100% đối với hàng hóa đường sắt, bao gồm cả thực phẩm, mặc dù nạn đói đang hoành hành ở tỉnh của ông ta. Thuế trên tem và muối có được nhờ chính quyền trung ương, thường do chính quyền khu vực thu. Bất chấp sự giàu có của Mãn Châu và sự hỗ trợ của quân đội Nhật Bản, Trương Tác Lâm vẫn phải tăng thuế đất lên 12% từ năm 1922 đến năm 1928 để chi trả cho các cuộc chiến của mình.[28]

Quân phiệt yêu cầu các khoản vay từ ngân hàng. Ngoài thuế, cho vay và cướp bóc, nguồn thu chính còn đến từ hoạt động kinh doanh thuốc phiện, quân phiệt bán quyền trồng và buôn thuốc phiện trên địa bàn tỉnh của họ cho các tập đoàn xã hội đen. Mặc cho lập trường chống thuốc phiện bề ngoài, Phùng Ngọc Tường, “Tướng Cơ đốc”, kiếm được khoảng 20 triệu đô la mỗi năm từ việc bán thuốc phiện. Lạm phát cũng là một cách quân phiệt chi trả cho binh lính của mình. Vài quân phiệt chỉ đơn giản là vận hành máy in tiền, một số còn dùng máy nhân bản để phát hành đồng đô la Trung Quốc mới. Quân phiệt cai trị Hồ Nam đã in 22 triệu đô la Trung Quốc, với một lượng bạc dự trữ chỉ đáng giá 1 triệu đô la Trung Quốc, trong vòng một năm. Cùng trong năm đó, Trương Tông Xương ở Sơn Đông cho in 55 triệu đô la Trung Quốc, với một lượng bạc dự trữ chỉ trị giá 1,5 triệu đô la Trung Quốc. Nguyên soái mù chữ Trương Tác Lâm, người tham gia in liều lĩnh đô la Trung Quốc, không hiểu rằng chính mình mới là người gây ra lạm phát ở Mãn Châu, và cách khắc phục của ông ta chỉ đơn thuần là triệu tập những thương nhân hàng đầu Thẩm Dương, buộc tội họ tham lam vì luôn luôn tăng giá hàng hóa, có năm người trong số đó được chọn ngẫu nhiên để xử bắn công khai, nhằm răn đe những người còn lại.[29]

220px %E5%A5%89%E7%B3%BB%E8%BB%8D%E9%96%A5%E7%9A%84FT 17

Renault FT của quân phiệt Phụng hệ trong Chiến dịch Bắc phạt

Mặc cho luôn có nhu cầu tiền bạc, các quân phiệt sống rất xa hoa. Trương Tác Lâm sở hữu viên ngọc trai lớn nhất thế giới, trong khi Ngô Bội Phu có cho mình viên kim cương lớn nhất thế giới. “Đại soái” Trương Tác Lâm sống trong một cung điện xa hoa ở Thẩm Dương cùng năm bà vợ, sách Nho học củ, một hầm đầy rượu vang Pháp, và cần tới bảy mươi đầu bếp trong bếp để phục vụ đủ thức ăn cho ông, các bà vợ và những vị khách. Trương Tông Xương, “Tướng thịt chó”, ăn một bữa tối gồm bốn mươi món Bỉ. Một nhà báo Mỹ đã mô tả về bữa tối cùng Trương Tông Xương: “Ông ấy mời tôi một bữa tối. Một lượng lớn đồ ăn xa hoa tội lỗi được dọn lên bàn ở một đất nước đói khát. Có cả sâm banh Pháp lẫn rượu mạnh.”[15]

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Các quân phiệt mua súng máy và đại pháo từ nước ngoài, nhưng những binh lính thất học và mù chữ của họ không thể vận hành hoặc bảo quản những loại vũ khí hiện đại này. Năm 1923, một lính đánh thuê người Anh đã phàn nàn rằng Ngô Bội Phu có khoảng 45 khẩu đại pháo châu Âu không thể hoạt động vì không được bảo dưỡng đúng cách.[30] Trong trận Urga, quân đội của tướng Từ Thụ Tranh, đã chiếm được Ngoại Mông, bị tấn công bởi một liên quân Nga–Mông Cổ do tướng Roman von Ungern-Sternberg chỉ huy. Người Trung Quốc có thể đã ngăn chặn được Ungern nếu biết bắn súng máy sao cho đúng cách, điều chỉnh được độ giật hướng lên khi khai hỏa. Họ không làm điều này và để đạn bay quá xa khỏi mục tiêu. Việc không biết sử dụng súng máy hợp lý đã khiến người Trung Quốc phải trả giá đắt: sau khi chiếm Urga vào tháng 2 năm 1921, Ungern tiếp tục điều quân Cossack của mình cùng kỵ binh Mông Cổ truy lùng tàn quân của Từ Thụ Tranh khi họ đang cố tháo chạy về phía nam trên đường trở về Trung Quốc.[31]

Các lực lượng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi vì binh lính dưới quyền không có khả năng sử dụng hoặc chăm sóc đúng cách vũ khí hiện đại, các quân phiệt thường phải thuê lính đánh thuê nước ngoài, những người chiến đấu hiệu quả nhưng cũng rất dễ dàng bán mình theo lời đề nghị khác. Dân Bạch Nga chạy trốn sang Trung Quốc sau chiến thắng của phe Bolshevik, được tuyển dụng rất rộng rãi. Theo lời một phóng viên, lính đánh thuê Nga xuyên qua quân Trung Quốc dễ dàng như dùng dao thái bơ. Đơn vị lính Nga được trả lương cao nhất do tướng Konstatin Nechaev chỉ huy, người chiến đấu cho Trương Tông Xương, “Tướng thịt chó” cai trị tỉnh Sơn Đông. Nechaev cùng người của mình vô cùng đáng sợ. Năm 1926, họ lái ba tàu hỏa bọc thép qua vùng nông thôn, bắn hạ bất cứ ai gặp trên đường và lấy đi mọi thứ có thể di chuyển được. Hành vi bạo lực chỉ dừng lại khi nông dân chặn đường ray tàu hỏa dẫn Nachaev sang thị trấn gần nhất cướp phá.[32]

Để tự vệ trước những cuộc tấn công từ các phe phái và lực lượng quân đội quân phiệt, nông dân tự tổ chức hội kín dân quân và hiệp hội làng xã, đóng vai trò như những lực lượng dân quân tự vệ hay nhóm bảo an. Vì nông dân thì không có tiền mua súng và không được huấn luyện quân sự, những hội kín kể trên chiến đấu dựa vào võ thuật, vũ khí tự chế như gươm, giáo, và niềm tin kiên định vào phép thuật hộ thân.[33][34] Niềm tin đao thương bất nhập vô cùng quan trọng, vì nó là “một vũ khí mạnh mẽ để củng cố quyết tâm cho những người sở hữu ít nguồn lực thay thế bảo vệ gia tài ít ỏi.”[35] Nghi lễ phép thuật mà nông dân thực hiện rất đa dạng, từ những thực hành khá đơn giản như nuốt bùa,[36] đến những thực hành cầu kỳ hơn nhiều. Ví dụ, thành viên Hồng Thương Hội thực hiện các nghi lễ bí mật ban khả năng chống đạn để chuyển đổi sức mạnh của khí và luôn khỏa thân ra trận, trét đất sét đỏ được cho là có khả năng chống đạn lên cơ thể.[23] Tang Phục Hội thì khấu đầu ba lần và gào khóc thật to trước mỗi lần ra trận.[36] Thất vọng với Trung Hoa Dân quốc và tuyệt vọng vì bị quân phiệt tước đoạt của cải, nhiều hội kín nông dân áp dụng chủ nghĩa hoài cổ,[35] chủ trương khôi phục chế độ quân chủ cũ, được dẫn dắt bởi cựu triều Minh. Quá khứ được lãng mạn hóa rộng rãi, và nhiều người tin rằng một vị hoàng đế nhà Minh sẽ mang lại một “triều đại hạnh phúc và công bằng cho tất cả mọi người”.[37][38]

Bè cánh[sửa | sửa mã nguồn]

Bè cánh miền bắc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoản hệ
  • Trực hệ
  • Phụng hệ
  • Tấn hệ
  • Quốc dân quân
  • Mã gia quân

Bè cánh miền nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quốc dân đảng
  • Điền hệ
  • Quân phiệt Quý Châu
  • Quế hệ
  • Tân Quế hệ
  • Quân phiệt Quảng Đông
  • Xuyên quân
  • Quân phiệt Hồ Nam

Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

220px Beiyang star.svg

Biểu tượng quân đội dựa trên là cờ Ngũ tộc cộng hòa

Cái chết của Viên Thế Khải chia quân Bắc Dương thành hai phe chính. Trực hệ và Phụng hệ liên minh với nhau, trong khi Hoán hệ một mình một phe. Sự công nhận quốc tế phụ thuộc vào sự hiện diện tại Bắc Kinh, và mọi bè cánh Bắc Dương đều cố gắng khẳng định mình đang thống trị thủ đô để tuyên bố tính hợp pháp.

Đoàn Kỳ Thụy và sự thống trị của Hoản hệ (1916–20)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Lê Nguyên Hồng ngồi vào vị trí tổng thống sau cái chết của Viên Thế Khải, quyền lực chính trị lại nằm trong tay Thủ tướng Đoàn Kỳ Thụy. Chính phủ hợp tác chặt chẽ với Trực hệ do Phó Tổng thống Phùng Quốc Chương cầm đầu, để duy trì tính ổn định cho thủ đô. Những ảnh hưởng quân sự tiếp theo lên Chính phủ Bắc Dương khiến các tỉnh thành khắp đất nước từ chối chấp nhận phục tùng. Cuộc tranh luận giữa tổng thống và thủ tướng về việc liệu Trung Quốc có nên tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất hay không, được tiếp nối bởi tình trạng bất ổn chính trị ở Bắc Kinh. Cả Lê Nguyên Hồng và Đoàn Kỳ Thụy đều yêu cầu tướng Bắc Dương là Trương Huân, đang đóng quân ở An Huy, can thiệp quân sự vào Bắc Kinh. Khi Trương Huân hành quân đến Bắc Kinh vào ngày 1 tháng 7, ông nhanh chóng giải tán quốc hội và tuyên bố khôi phục chính quyền Mãn Thanh. Chính quyền mới sớm rơi vào tay Đoàn Kỳ Thụy khi ông trở về Bắc Kinh cùng quân tiếp viện từ Thiên Tân. Cùng một chính phủ song song ở Bắc Kinh, những bất đồng cơ bản về các vấn đề quốc gia giữa Đoàn Kỳ Thụy với tân tổng thống Phùng Quốc Chương dẫn đến việc Đoàn phải từ chức vào năm 1918. Trực hệ liên minh với Phụng hệ do Trương Tác Lâm lãnh đạo, và đánh bại Đoàn Kỳ Thụy trong Chiến tranh Trực–Hoản vào tháng 7 năm 1920.

Tào Côn và sự thống trị của Trực hệ (1920–24)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Phùng Quốc Chương chết vào năm 1919, Trực hệ do Tào Côn lãnh đạo. Trực hệ liên minh với Phụng hệ chỉ đơn thuần vì lợi ích nhất thời, và chiến tranh giữa hai bè cánh này sớm nổ ra vào năm 1922, với kết quả là Trực hệ đẩy Phụng hệ về Mãn Châu. Tiếp theo, Trực hệ muốn củng cố tính hợp pháp của mình và thống nhất đất nước bằng cách đưa Lê Nguyên Hồng trở lại vị trị tống thống và khôi phục Quốc dân đại hội. Họ đề xuất Từ Thế Xương và Tôn Dật Tiên nên đồng thời từ chức tổng thống để ủng hộ Lê Nguyên Hồng. Không thể chịu đựng được những yêu cầu ngặt nghèo của Tôn Dật Tiên, Trực hệ thuyết phục tướng Quốc dân đảng Trần Quýnh Minh đào tẩu bằng cách công nhận ông là Tổng đốc Quảng Đông. Với việc Tôn Dật Tiên bị đuổi khỏi Quảng Châu, Trực hệ đã khôi phục một cách hời hợt chính phủ hợp hiến tồn tại trước khi Trương Huân đảo chính. Tào Côn mua chức tổng thống vào năm 1923, bất chấp sự phản đối của Quốc dân đảng, tàn dư Phụng hệ, Hoản hệ, một số cấp tá của ông và công chúng. Mùa thu năm 1924, Trực hệ dường như đang trên đà chiến thắng tuyệt đối trong Chiến tranh Trực–Hoản lần thứ hai cho đến khi Phùng Ngọc Tường phản bội bè cánh, chiếm lấy Bắc Kinh và bỏ tù Tào Côn. Các lực lượng Trực hệ bị đánh cho tan tác từ phía bắc nhưng vẫn giữ lấy khu vực trung tâm.

Đoàn Kỳ Thụy trở lại trong vai trò tổng thống lâm thời (1924–26)[sửa | sửa mã nguồn]

Việc Phùng Ngọc Tường trở cờ khiến Ngô Bội Phu cùng Trực hệ bị đánh bại, buộc phải rút lui về phía nam. Trương Tác Lâm bất ngờ chiến thắng, bổ nhiệm Đoàn Kỳ Thụy làm tổng thống lâm thời mới vào ngày 24 tháng 11 năm 1924. Chính phủ mới của Đoàn Kỳ Thụy được Trực hệ miễn cưỡng công nhận, vì Đoàn Kỳ Thụy không sở hữu quân đội riêng nên được coi là một lựa chọn trung lập. Ngoài ra, thay vì “tổng thống”, Đoàn Kỳ Thụy chỉ là tống thống lâm thời, một vị trí tạm thời và do đó rất yếu về mặt chính trị. Đoàn Kỳ Thụy kêu gọi Tôn Dật Tiên cùng Quốc dân đảng ở miền nam tái khởi động đàm phán theo hướng thống nhất đất nước. Tôn Dật Tiên yêu cầu bãi bỏ “các hiệp ước bất bình đẳng” với liệt cường nước ngoài và thành lập một quốc hội mới. Trước áp lực dư luận, Đoàn Kỳ Thụy buộc phải hứa sẽ tổ chức một quốc hội mới trong ba tháng; tuy nhiên, ông không thể đơn phương hủy bỏ các hiệp ước bất bình đẳng, vì sự công nhận mà liệt cường nước ngoài dành cho chế độ của ông được xác định bởi chính những hiệp ước này. Tôn Dật Tiên qua đời vào ngày 12 tháng 3 năm 1925 và các cuộc đàm phán hoàn toàn đổ vỡ.

Với sức mạnh quân sự bè cánh đang trong tình trạng hỗn loạn, chính phủ Đoàn Kỳ Thụy phụ thuộc một cách vô vọng vào Phùng Ngọc Tường và Trương Tác Lâm. Biết hai quân phiệt không ưa nhau, Đoàn Kỳ Thụy liền tìm cách theo người này, chống người kia. Ngày 18 tháng 3 năm 1926, một cuộc tuần hành phản đối đã được tổ chức, lên án hành động xâm phạm chủ quyền của liệt cường nước ngoài và một vụ việc gần đây ở Thiên Tân, liên quan tới một tàu chiến Nhật Bản. Đoàn Kỳ Thụy điều động quân cảnh giải tán người biểu tình, và trong hỗn chiến, 47 người biểu tình đã thiệt mạng, hơn 200 người khác bị thương, trong đó có Lý Đại Chiêu, người đống sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sự kiện trên được gọi là Thảm sát ngày 18 tháng 3. Tháng sau, Phùng Ngọc Tường lại nổi dậy, lần này chống lại Phụng hệ, phế truất Đoàn Kỳ Thụy, người phải đến náu nhờ Trương Tác Lâm để được bảo vệ. Trương Tác Lâm, ngán ngẩm với tính hai mang của Đoàn Kỳ Thụy, từ chối khôi phục lại vị trí cho ông ta khi chiếm lại thủ đô Bắc Kinh. Phần lớn thành viên Hoản hệ đứng về phía Trương Tác Lâm. Đoàn Kỳ Thụy đành phải đến Thiên Tân lánh nạn rồi sau đó chuyển đến Thượng Hải, nơi ông qua đời vào này 2 tháng 11 năm 1936.

Trương Tác Lâm và Phụng hệ (1924–28)[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh Trực–Phụng lần thứ hai, Phùng Ngọc Tường đã chuyển sự ủng hộ của mình từ Trực hệ sang Phụng hệ và thực hiện cuộc đảo chính Bắc Kinh, khiến Tào Côn phải ngồi tù. Phùng Ngọc Tường sớm tách khỏi Trực hệ, thành lập Quốc dân quân và liên minh với Đoàn Kỳ Thụy. Năm 1926, Ngô Bội Phu của Trực hệ phát động Chiến tranh chống Phụng hệ. Trương Tác Lâm lợi dụng tình hình, tiến vào Sơn Hải quan từ phía đông bắc và chiếm được Bắc Kinh. Phụng hệ vẫn nắm quyền kiểm soát thủ đô cho đến khi Chiến dịch Bắc phạt do Quốc quân của Tưởng Giới Thạch dẫn đầu, tước quyền lực của Trương Tác Lâm vào tháng 6 năm 1928.

Nam[sửa | sửa mã nguồn]

220px Emblem of the Kuomintang.svg

Biểu tượng Quốc dân đảng

Các tỉnh phía nam Trung Quốc đối kháng với chính phủ Bắc Dương ở phía bắc, đứng lên chống lại hành động khôi phục chế độ quân chủ của Viên Thế Khải và cả chính phủ kế tục ra đời sau cái chết của ông ở Bắc Kinh. Tôn Dật Tiên cùng các nhà lãnh đạo miền nam khác đã thành lập một chính phủ ở Quảng Châu để chống lại sự cai trị của các quân phiệt Bắc Dương, chính phủ này được coi như một phần của Chiến tranh bảo vệ hiến pháp.

Tôn Dật Tiên và Chính phủ quân quản “Bảo vệ hiến pháp” ở Quảng Châu (1917–22)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9, Tôn Dật Tiên trở thành tổng tư lệnh của chính phủ quân quản bảo vệ hiến pháp lâm thời 1912. Các quân phiệt phía nam hỗ trợ chế độ của Tôn Dật Tiên để hợp pháp hóa các tiểu quốc của mình và thách thức Bắc Kinh. Trong một nỗ lực nhằm giành lấy sự công nhận từ cộng đồng quốc tế, họ còn tuyên chiến với Liên minh Trung tâm nhưng không thu được kết quả. Tháng 7 năm 1918, những người theo chủ nghĩa quân quốc ở miền nam cho rằng Tôn Dật Tiên được trao quá nhiều quyền và buộc ông phải tham gia một ủy ban quản trị. Những trở lực ập đến liên tục buộc Tôn Dật Tiên tự ly khai khỏi chính phủ quân quản. Ông tái thành lập Quốc dân đảng, với sự giúp đỡ của Trần Quýnh Minh, Sầm Xuân Huyên, Lâm Bảo Dịch và Lục Vinh Đình vừa bị trục xuất trong Chiến tranh Quảng Đông–Quảng Tây năm 1920. Tháng 5 năm 1921, Tôn Dật Tiên được bầu làm “tổng thống bất thường” bởi một nghị viện thiểu số bất chấp sự phản đối của Trần Quýnh Minh và Đường Thiệu Nghi vì tính vi hiến. Đường Thiệu Nghi bỏ đi trong khi Trần Quýnh Minh mưu đồ với Trực hệ hòng lật đổ Tôn Dật Tiên vào tháng 6 năm 1922, để đổi lấy chức Tổng đốc Quảng Đông.

Tái tổ chức chính phủ quân quản ở Quảng Châu (1923–25)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Trần Quánh Minh bị đuổi khỏi Quảng Châu, Tôn Dật Tiên trở lại nắm quyền lãnh đạo vào tháng 3 năm 1923. Đảng được tái tổ chức dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, và liên minh với Đảng Cộng sản Trung Quốc, theo chiến lược Liên Nga dung Cộng. Chính quyền Quảng Châu tập trung đào tạo sĩ quan quân đội thông qua Học viện quân sự Hoàng Phố mới thành lập. Năm 1924, Trực hệ mất quyền lực, Tôn Dật Tiên đến Bắc Kinh để đàm phán các điều khoản thống nhất với lãnh đạo Quốc dân quân, Phụng hệ và Hoản hệ. Tôn Dật Tiên không thể tiếp tục đảm bảo các điều khoản khi qua đời vào tháng 3 năm 1925 vì bệnh tật. Ngay sau cái chết của Tôn Dật Tiên, các cuộc tranh giành quyền lực nổ ra trong nội bộ Quốc dân đảng. Chiến tranh Vân Nam–Quảng Tây bùng phát khi Đường Thiệu Nghi cố gắng giành quyền lãnh đạo đảng. Ở phía bắc, các cuộc đấu tranh do Quốc dân quân lãnh đạo, chống lại liên minh Trực–Phụng kéo dài từ tháng 11 năm 1925 đến tháng 4 năm 1926. Thất bại của Quốc dân quân đặt dấu chấm hết cho quyền cai trị của họ ở Bắc Kinh.

Tái thống nhất[sửa | sửa mã nguồn]

220px

Bản đồ Chiến dịch Bắc Phạt của Quốc dân đảng

220px Central Plains War

Trong Đại chiến Trung Nguyên, một số quân phiệt đã cố gắng lật đổ chính phủ Quốc dân đảng mới thành lập của Tưởng Giới Thạch; bất chấp sự thất bại của lực lượng chống Quốc dân đảng, các quân phiệt vẫn tiếp tục nắm quyền kiểm soát phần lớn lãnh thổ Trung Quốc cho đến những năm 1940

Tưởng Giới Thạch nổi lên với tư cách là người được Tôn Dật Tiên bảo hộ sau Sự cố tàu chiến Trung Sơn. Mùa hè năm 1926, Tưởng Giới Thạch và Quốc quân bắt đầu Chiến dịch Bắc phạt với hy vọng thống nhất Trung Quốc. Ngô Bội Phu và Tôn Truyền Phương của Trực hệ sau đó bị đánh bại ở miền trung và miền đông Trung Quốc. Trước tình hình cấp bách, Quốc dân quân và Diêm Tích Sơn thành lập liên minh với Tưởng Giới Thạch để cùng nhau tấn công Phụng hệ. Năm 1927, Tưởng Giới Thạch khởi xướng một cuộc thanh trừng bạo lực nhằm vào những người Cộng sản trong Quốc dân đảng, đánh dấu chấm hết cho chiến lược Liên Nga dung Cộng. Mặc dù Tưởng Giới Thạch đã cũng cố quyền lực của Quốc dân đảng ở Nam Kinh, vẫn cần phải chiếm Bắc Kinh, qua đó khẳng định tính hợp pháp cần thiết để quốc tế công nhận. Thay cho lòng trung thành, Diêm Tích Sơn đến và chiếm Bắc Kinh sau cái chết của Trương Tác Lâm vào năm 1928. Người kế nhiệm Trương Tác Lâm, Trương Học Lương, chấp nhận quyền lực của lãnh đạo Quốc dân đảng, Chiến dịch Bắc phạt chính thức kết thúc.

Nền chính trị Trung Quốc trong Thập niên Nam Kinh do Quốc dân đảng lãnh đạo, được định hình sâu sắc bới những thỏa hiệp với các quân phiệt đã giúp Chiến dịch Bắc phạt thành công. Hầu hết các nhà lãnh đạo cấp tỉnh là các chỉ huy quân sự chỉ tham gia Quốc dân đảng trong Chiến dịch Bắc phạt, khi các quân phiệt và người quản lý của họ đều bị Tưởng Giới Thạch thuyết phục. Mặc dù là một nhà độc tài, Tưởng Giới Thạch không nắm quyền tuyệt đối vì luôn bị các đối thủ trong đảng và quân phiệt địa phương thách thức.[39]

Dù Trung Quốc đã thống nhất, vẫn có những có những cuộc xung đột diễn ra trên khắp đất nước. Các quân phiệt đồng ý hợp tác nhưng vẫn nảy sinh bất đồng với Chính phủ Quốc dân đảng, và giữa họ sớm bùng phát Đại chiến Trung Nguyên vào năm 1930. Từ năm 1931 đến năm 1937, một loạt cuộc chiến nổ ra ở Tân Cương. Sau Sự biến Tây An năm 1939, mọi nỗ lực quân sự chuyển sang trạng thái chuẩn bị đương đầu Đế quốc Nhật Bản.

Các quân phiệt tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề cho Chính phủ Quốc dân đảng mãi cho tới khi phe cộng sản giành chiến thắng vào năm 1949. Nhiều quân phiệt quay lưng với Quốc dân đảng và đào tẩu sang Đảng Cộng sản Trung Quốc, chẳng hạn như quân phiệt Vân Nam Lư Hán, người cùng quân đội của mình từng chịu trách nhiệm giải giáp quân Nhật ở Hà Nội và tham gia cướp bóc diện rộng.[40]

Dù Tưởng Giới Thạch thường không bị đánh giá một nhà lãnh đạo đồi bại, quyền lực của ông ta phụ thuộc vào tính cân bằng giữa nhiều quân phiệt. Kể cả khi đã thấu hiểu và căm ghét thực tế rằng nạn tham nhũng trong nội bộ Quốc dân đảng đang đẩy công chúng đến với phe cộng sản, Tưởng Giới Thạch vẫn tiếp tục tập trung đối phó với các quân phiệt, dung túng cho sự bất tài và nạn tham nhũng, đục khoét cấp dưới khi họ đang mạnh lên, làm tất cả chỉ để duy trì sự thống nhất. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, các quân phiệt quay sang chống Quốc dân đảng.[41]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc
  • Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc
  • Chính trị Trung Hoa Dân Quốc
  • Chiến Quốc

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    Min, Mao (2017). The Revival of China, Volume 1. CreateSpace Independent Publishing Platform. tr. 126. ISBN 9781976739583.

  2. ^ Waldron, Arthur (1991). “The Warlord: Twentieth-century Chinese Understandings of Violence, Militarism, and Imperialism”. American Historical Review. 96 (4): 1085–1086. doi:10.2307/2164996. JSTOR 2164996.
  3. ^ “Chinese Warlordism – Bibliography”. science.jrank.org. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2016.
  4. ^ Henry McAleavy, “China Under The Warlords, Part I.” History Today (Apr 1962) 12#4 pp 227-233; and “Part II” (May 1962) , 12#5 pp 303-311.
  5. ^ Maochun Yu, “The Taiping Rebellion: A Military Assessment of Revolution and Counterrevolution”, in A Military History of China 149 (David A. Graff & Robin Higham eds., 2002)
  6. ^ Kwang-ching Liu, Richard J. Smith, “The Military Challenge: The North-west and the Coast”, in John King Fairbank; Kwang-Ching Liu; Denis Crispin Twitchett biên tập (1980). Late Ch’ing, 1800–1911. Volume 11, Part 2 of The Cambridge History of China Series . Cambridge University Press. tr. 202–203. ISBN 978-0-521-22029-3. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2012.
  7. ^ Edward A. Mccord (1993). The Power of the Gun The Emergence of Modern Chinese Warlordism. Berkeley, Calif: UNIVERSITY OF CALIFORNIA PRESS. tr. 29, 39, 44.
  8. ^ John King Fairbank; Kwang-Ching Liu; Denis Crispin Twitchett biên tập (1980). Late Ch’ing, 1800–1911. Volume 11, Part 2 of The Cambridge History of China Series . Cambridge University Press. tr. 540–542, 545. ISBN 978-0-521-22029-3. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2012.
  9. ^ John King Fairbank; Kwang-Ching Liu; Denis Crispin Twitchett biên tập (1980). Late Ch’ing, 1800–1911. Volume 11, Part 2 of The Cambridge History of China Series . Cambridge University Press. tr. 547. ISBN 978-0-521-22029-3. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2012.
  10. ^ Patrick Fuliang Shan, Yuan Shikai: A Reappraisal (The University of British Columbia Press, 2018, ISBN 978-0-7748-3778-1)
  11. ^ Fairbank, Reischauer, Craig, John, Edwin, Albert (1978). East Asia: Tradition and Transformation. Boston: Houghton Mifflin Company. tr. 754. ISBN 978-0-395-25812-5.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  12. ^ Fairbank, Reischauer, Craig, John, Edwin, Albert (1978). East Asia: Tradition and Transformation. Boston: Houghton Mifflin Company. tr. 758. ISBN 978-0-395-25812-5.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  13. ^ Roberts, J. A. G. (1989). “Warlordism in China”. Review of African Political Economy. 45/46 (45/46): 26–33. doi:10.1080/03056248908703823. JSTOR 4006008.
  14. ^ Lucian W. Pye (1971). Warlord politics: conflict and coalition in the modernization of Republican China. Praeger. tr. 168. ISBN 9780275281809.
  15. ^ a ă Fenby (2004), tr. 104.
  16. ^ Fenby (2004), tr. 107.
  17. ^ Fenby (2004), tr. 107–108.
  18. ^ Fenby (2004), tr. 112.
  19. ^ a ă Fenby (2004), tr. 103.
  20. ^ a ă â b Fenby (2004), tr. 102.
  21. ^ Fairbank, Reischauer, Craig, John, Edwin, Albert (1978). East Asia: Tradition and Transformation. Boston: Hougton Mifflin Company. tr. 761–762. ISBN 978-0-395-25812-5.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  22. ^ Billingsley (1988), tr. 56, 57, 59.
  23. ^ a ă â Fenby (2004), tr. 105–106.
  24. ^ Fenby (2004), tr. 104–106, 110–111.
  25. ^ Fenby (2004), tr. 106.
  26. ^ Jowett (2014), tr. 87, 88.
  27. ^ Fenby (2004), tr. 110–111.
  28. ^ Fenby (2004), tr. 108.
  29. ^ Fenby (2004), tr. 109–110.
  30. ^ Fenby (2004), tr. 110.
  31. ^ Palmer, James The Bloody White Baron The Extraordinary Story of the Russian Nobleman Who Become the Last Khan of Mongolia, New York: Basic Books, 2009 pages 149, 158.
  32. ^ Fenby (2004), tr. 111.
  33. ^ Chesneaux (1972), tr. 5, 6.
  34. ^ Perry (1980), tr. 203, 204.
  35. ^ a ă Perry (1980), tr. 195.
  36. ^ a ă Perry (1980), tr. 204.
  37. ^ Novikov (1972), tr. 61–63.
  38. ^ Perry (1980), tr. 232.
  39. ^ Zarrow, Peter (2006). China in War and Revolution, 1895-1949. Routledge. tr. 248–249. ISBN 1134219768.
  40. ^ Richard Michael Gibson (2011). “1”. The Secret Army: Chiang Kai-shek and the Drug Warlords of the Golden Triangle. John Wiley & Sons. ISBN 978-0470830215.
  41. ^ Daniel Kurtz-Phelan (2019). “3, 5”. The China Mission: George Marshall’s Unfinished War, 1945-1947. W. W. Norton & Company. ISBN 978-0393243086.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Billingsley, Phil (1988). Bandits in Republican China. Stanford, California: Stanford University Press.
  • Chan, Anthony B. (1 tháng 10 năm 2010). Arming the Chinese: The Western Armaments Trade in Warlord China, 1920–28, Second Edition. UBC Press. tr. 69–. ISBN 978-0-7748-1992-3.
  • Chesneaux, Jean (1972). “Secret Societies in China’s Historical Evolution”. Trong Jean Chesneaux (biên tập). Popular Movements and Secret Societies in China 1840-1950. Stanford, California: Stanford University Press. tr. 1–21.
  • Fenby, Jonathan (2004). Generalissimo: Chiang Kai-shek and the China He Lost. London. ISBN 9780743231442.
  • Jowett, Philip. Chinese Warlord Armies 1911–30 (Men-at-Arms Series 2010)
  • Lary, Diana. “Warlord Studies.” Modern China 6#4 (1980), pp. 439–470. online
  • Lary, Diana (1985). Warlord Soldiers: Chinese Common Soldiers 1911-1937. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-13629-7.
  • McCord, Edward A. (1993), The Power of the Gun: The Emergence of Modern Chinese Warlordism, Berkeley, CA: University of California Press
  • McAleavy, Henry. “China Under The Warlords, Part I.” History Today (Apr 1962) 12#4 pp 227–233; and “Part II” (May 1962) , 12#5 pp 303–311.
  • Michael, Franz H. “Military Organization and Power Structure of China during the Taiping Rebellion.” Pacific Historical Review 18#4 (1949) , pp. 469–483. online
  • Novikov, Boris (1972). “The Anti-Manchu Propaganda of the Triads, ca. 1800–1860”. Trong Jean Chesneaux (biên tập). Popular Movements and Secret Societies in China 1840-1950. Stanford, California: Stanford University Press. tr. 49–63.
  • Sheridan, James E. (1975). China in Disintegration: The Republican Era in Chinese History, 1912–1949. New York: Free Press. ISBN 978-0029286104.
  • Waldron, Arthur (1991). “The Warlord: Twentieth Chinese Understandings of Violence, Militarism, and Imperialism”. American Historical Review. 96 (4): 1073–1100. doi:10.2307/2164996. JSTOR 2164996.
  • —— (1995). From War to Nationalism: China’s Turning Point, 1924–1925. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-52332-5.
  • Jowett, Philip S. (1997). Chinese Civil War Armies 1911–49. Osprey Publishing. ISBN 978-1-85532-665-1.
  • Jowett, Philip S. (2014). The Armies of Warlord China 1911–1928. Atglen, Pennsylvania: Schiffer Publishing. ISBN 978-0764343452.
  • Jowett, Philip S. (2017). The Bitter Peace. Conflict in China 1928–37. Stroud: Amberley Publishing. ISBN 978-1445651927.
  • Perry, Elizabeth J. (1980). Rebels and Revolutionaries in North China, 1845-1945. Stanford, California: Stanford University Press.


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Thời_đại_quân_phiệt&oldid=65141211”

Từ khóa: Thời đại quân phiệt, Thời đại quân phiệt, Thời đại quân phiệt

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO từ khóa giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.

Nguồn: Wikipedia

Scores: 4.9 (106 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn