Top 10 Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn – Chứng minh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm

“Sống chết mặc bay” được xem là tác phẩm thành công nhất của tác giả Phạm Duy Tốn. Truyện được viết vào tháng 7 năm 1918 thể hiện sự tắc trách nát của quan phụ mẫu làng X dẫn đến cái chết của hàng bao nhiêu con người, nhà cửa, ruộng vườn đều bị thiệt hại nghiêm trọng. Với nghệ thuật tương phản và tăng cấp khéo léo, truyện ngắn đã thành công khi lên án gay gắt tên quan phụ mẫu và bày tỏ niềm thương cảm trước nỗi thống khổ của nhân dân. Mời những bạn đọc xem thêm một số bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn mà Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây để thấy rõ hơn điều đó.

Dàn ý phân tích tác phẩm Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn

I. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về tác giả Phạm Duy Tốn (những nét chính về cuộc đời, đặc điểm truyện ngắn của ông…)

– Giới thiệu về “Sống chết mặc bay” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

II. Thân bài

1. Tình hình vỡ đê và sức chống đỡ

– Tình hình vỡ đê:

+ Thời gian: gần một giờ đêm

+ Địa điểm: Khúc đê làng X, thuộc phủ X

+ Thời tiết: trời mưa tầm tã, nước càng ngày càng dâng cao

+ Thế đê: hai ba đoạn nước đã ngấm qua và rỉ chảy đi nơi khác

⇒ Nghệ thuật tăng cấp, qua đó diễn tả sức hung bạo của mực nước và điều đó đang đe dọa nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân

– Sức chống đỡ của người dân:

+ Thời gian: từ chiều cho đến gần 1 giờ sáng

+ Dân hàng trăm người vất vả, cố sức giữ đê: kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, người vác tre, nào dáo, nào cừ…

+ Tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ nhưng ai cũng đã mệt lử cả rồi

⇒ Nghệ thuật: ngôn ngữ miêu tả, liệt kê, sử dụng động từ mạnh..

+ Không khí: khẩn trương, gấp gáp (trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi..)

⇒ Cảnh tượng nhốn nháo, căng thẳng, con người dường như bất lực hoàn toàn. Qua đó thể hiện tâm trạng lo lắng của tác giả

2. Cảnh quan phụ mẫu đánh tổ tôm khi đi hộ đê

– Địa điểm: đình trên mặt đê, vững chãi, an toàn

Có thể bạn quan tâm  Top 8 Địa chỉ trang điểm dự tiệc đẹp nhất tại TP. Bến Tre mới 2021

– Khung cảnh trong đình:

+ Đèn thắp sáng trưng, khói bay nghi ngút

+ Nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ đi lại rộn ràng

+ Quan phủ cùng nhau lại đánh tổ tôm: quan phụ mẫu uy nghi chễm chệ ngồi trên sập, say mê đánh tổ tôm

– Khi đê vỡ:

+ Không hề lo lắng: “cau mặt, gắt: mặc kệ!”

+ Vẫn không ngừng việc chơi bài

⇒ Tên quan là kẻ vô trách nhiệm, thờ ơ trước nỗi khổ của nhân dân

– Nghệ thuật: tương phản giữa cảnh tượng trong đình và ngoài đê, qua đó làm nổi bật sự hưởng lạc, vô trách nhiệm của tên quan phụ mẫu trước tình cảnh khốn khổ của nhân dân

– Thái độ của tác giả: mỉa mai, châm biếm, phê phán bọn quan lại vô trách nhiệm và cảm thương với nỗi khổ của nhân dân (thể hiện qua các từ: than ôi, ôi…)

3. Cảnh vỡ đê và nhân dân lâm vào cảnh lầm than

– Nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi, lúa má ngập hết

– Kẻ sống không có chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn

⇒ Tình cảnh thảm sầu, đau thương

III. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm:

+ Nội dung: lên án gay gắt tên quan phủ “lòng lang dạ thú” và bày tỏ niềm thương cảm trước cảnh “nghìn sầu muôn thảm” của nhân dân do thiên tai và cũng do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền gây nên.

+ Nghệ thuật: tăng cấp kết hợp với tương phản, lời văn cụ thể, sinh động..

– Cảm nhận của em về truyện ngắn: giàu giá trị hiện thực và nhân đạo, thể hiện tài năng của tác giả…

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 1

Phạm Duy Tốn nhà văn, nhà báo nổi tiếng đầu thế kỉ XX. Ông để lại số lượng tác phẩm không nhiều – chỉ có bốn truyện ngắn nhưng ông luôn được đánh giá là nhà văn có vị trí mở đầu cho Xu thế viết truyện hiện đại. Sống chết mặc bay là truyện ngắn đầu tay đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Tác phẩm đã dựng lên bức tranh về cuộc sống người dân, cũng như bộ mặt của giai cấp cầm quyền trong xã hội cũ.

 

Có thể bạn quan tâm  Top 12 loại thực phẩm kỵ nhau, các mẹ nên lưu ý mới 2021

Văn bản vào đề bằng một tình huống hết sức căng thẳng, gay cấn: mọi người đang cùng nhau gắng sức hộ đê. Khi ấy là gần một giờ đêm, nước sông Nhị Hà mỗi lúc một cao, trời mưa tầm tã không ngớt. “Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy ướt như chuột lột”.

 

Với hình thức liệt kê phối hợp với những câu hội thoại, tiếng gọi, tiếng hô,… thể hiện tình thế nguy ngập, căng thẳng, nghìn cân treo sợi tóc. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng những lời comment như: “Tình cảnh trông thật thảm hại” ; “Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê nay hỏng mất” hàng loạt những câu cảm thán được đưa ra càng thể hiện rõ hơn nỗi lo lắng của tác giả trước tình thế nguy ngập, gấp rút này.

 

Trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc chắc rằng ai cũng sẽ đưa ra câu hỏi vậy người lãnh đạo, người đứng đầu lúc này đang ở đâu. Rời xa khung cảnh của những người dân phu, ống kính máy quay của tác giả lia đến địa điểm trên đình, cao mà vững chãi cho người đọc thấy được chân dung của viên quan phụ mẫu.

 

Thì ra vị quan phụ mẫu đang hộ đê trong đình, với cùng một khung cảnh hoàn toàn trái ngược: “Đình ấy ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì” “trong đình, đèn thắp sáng trưng, nha lệ lính tráng, kẻ hầu, người hạ, đi lại rộn ràng”. Không khí trong đình ấm cúng, nghiêm trang khác hẳn với không khí đầy lo âu, sợ hãi ở ngoài kia. Sự bình thản của mỗi người được thể hiện trên từng quân bài.

 

Quan phụ mẫu đang hộ đê trong tư tế ung dung, rảnh rỗi, tay cầm bát yến, ngồi khểnh vuốt râu và đánh tam cúc cùng lũ người dưới quyền. Bằng ngôn ngữ tự sự, mô tả, biểu cảm tác giả đã tái hiện khung cảnh trớ trêu, lay động lòng người, đánh thức niềm xót xa nơi người đọc cho số phận của những người dân nghèo nàn, cực khổ. Vào thời điểm gay cấn nhất có người vào báo tin: “Bẩm dễ có khi đê vỡ” thì ngài cau mặt mà gắt: “Mặc kệ”.

Có thể bạn quan tâm  Top 7 rạp chiếu phim chất lượng nhất quận Cầu Giấy, Hà Nội mới 2021

 

Sự việc còn được đưa lên một mức độ cao hơn nữa khi đê vỡ ai nấy đều tái mặt, sợ hãi thì quan phụ mẫu quát tháo : “Đê vỡ rồi!… Đê vỡ rồi, thời ông nhữngh cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không? Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đó như vậy”. Rồi quan tiếp tục ván bài sắp ù to của tớ.

 

Thật là một kẻ lòng lang dạ thú, độc ác bất nhân. Hắn chỉ ngồi lo đánh bài, chứ không quyên tâm đến tính mạng của người dân, đê vỡ mặc đê cũng không thể bằng nước bài cao thấp của hắn. Nghệ thuật tương phản, tăng cấp đã phát huy tác dụng: vạch trần bộ mặt bất nhân của kẻ cầm quyền, cho thấy số phận đau thương, xấu số của người dân.

 

Tác phẩm đã dựng lên hai bức tranh tương phản rõ nét, phản ánh toàn cảnh xã hội phong kiến thời xưa. Hai hình ảnh đối lập này càng làm tăng thêm ý nghĩa sâu sắc tố cáo những kẻ cầm quyền độc ác, vô nhân tính, không biết quyên tâm, chăm sóc đến đời sống nhân dân.

 

Có thể nói bằng nghệ thuật tương phản, tăng cấp độc đáo cùng với việc sử dụng ngôn từ khéo léo, Phạm Duy Tốn đã dựng lên hai bức tranh, hai nghịch cảnh: quan thì rảnh rỗi, sung sướng, dân thì khổ cực trong bão lũ. Ngôn ngữ tác phẩm đã thoát khỏi tính ước lệ, khuôn sáo và điển tích của văn học trung đại, ngôn từ tiến gần đến lời ăn tiếng nói từng ngày – ngôn ngữ văn học hiện đại.

 

Đây là truyện ngắn có giá trị hiện thực sâu sắc. Tác phẩm là bản cáo trạng tố cáo mạnh mẽ, đanh thép những kẻ cầm quyền vô trách nát nhiệm, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc. Và sự đồng cảm, cảm thương sâu sắc với nhân dân, phải chịu muôn ngàn khó khăn không chỉ có bởi thiên tai, lũ lụt mà còn bởi những tên quan phụ mẫu thờ ơ, vô trách nát nhiệm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

 

2


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 2

Trong truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in trên báo Nam Phong, số 18, năm 1918. Đến năm 1989, Nhà xuất bản khoa học xã hội tuyển chọn đưa vào tập Truyện ngắn Nam Phong. Tác phẩm được xem là “bông hoa đầu mùa” của truyện ngắn Việt Nam hiện đại bởi lẽ nó là một trong những truyện ngắn trước tiên được viết bằng chữ quốc ngữ, mặc dù nhữngh diễn đạt vẫn còn đó đấy lưu lại khá rõ dấu ấn của văn học trung đại (lối văn biền ngẫu).

 

Nội dung truyện kể về sự kiện vỡ đê, nhân vật chính của truyện là viên quan phủ. Cốt truyện gồm ba cảnh, diễn biến theo trình tự thời gian : Cảnh 1: Mưa to gió lớn, nước lũ dâng cao, đê sắp vỡ, dân chúng hối hả đắp đất giữu đê. Cảnh 2: Đám quan lại, nha lệ, lính tráng mải mê đánh tổ tôm trong đình. Cảnh 3: Vỡ đê.

 

Tác giả đã vẽ nên bức tranh tương phản giữa sự ăn chơi hưởng lạc của nhứng kẻ cầm quyền với nối cơ cực, thê thảm của dân chúng. Thông qua đó lên án gay gắt giai cấp thống trị thối nát, bất tài và vô trách nát nhiệm trước tài sản, tính mạng của dân nghèo, đồng thời bày tỏ mối thương cảm sâu sắc của tớ trước những nối đau thương,, hoạn nạn của đồng bào.

 

Mở đầu thiên truyện là tình thế cực kì nguy hiểm của khúc đê sông Nhị. Thế đê được nhà văn tả bằng nhiều chi tiết cụ thể về thời gian, không gian: Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá ; khúc sông làng X thuộc Phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.

 

Cảnh hàng trăm nghìn con người hốt hoảng, lo lắng, tất bật… tìm mọi nhữngh để giữ cho con đê không bị vỡ trước sức tiến công khủng khiếp của nước lũ được tác giả mô tả bằng ngòi bút hiện thực thấm đẫm cảm xúc xót thương:… kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thê thảm.

 

Không khí căng thẳng, hãi hùng. Sự đối lập giữa sức người với sức nước đã lên tới điểm đỉnh : Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng người nào cũng mệt lữ cả rồi. Ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên.

 

Than ôi ! Sức người khó lòng định nỗi với sức trời ! Thế đê không sao cự lại được với thế nước ! Lo thay ! Nguy thay ! Khúc đê này hỏng mất. Cảnh dân phu đang loay hoay, vô vọng chống chọi với nước để cứu đê là để chuẩn bị cho sự xuất hiện của cảnh tượng hoàn toàn trái ngược ra mắt trong đình ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to nước lớn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài, thế thôi nào quan cha mẹ ở đâu?

 

Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, nhữngh đó chừng bốn năm trăm trước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì. Ở cảnh hai này, tác giả kể chuyện viên quan phủ mải mê chơi tổ tôm với đám quan lại dưới quyền và được lũ sai nha, lính lệ hầu hạ, cung phụng đến nơi đến chốn, Giọng văn tường thuật khách quan cụ thể, chi tiết nhưng đằng sau nó chứa chất thái độ mỉa mai, châm biếm và phẫn uất.

 

Trước nguy cơ đê bị vỡ, bậc “phụ mẫu chi dân” cũng đích thân ra “chỉ huy” việc hộ đê, nhưng trớ trêu thay, chỗ của ngài không phải là ở giữa đám thường dân đang vất vả, lấn láp, ra sức cứu đê và lại ở trong đình với không khí, quang cảnh thật trang nghiêm, rảnh rỗi; đèn thắp sáng trưng; nha lệ kính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng.

 

Chân dung của quan lớn hiện lên thật cụ thể, sắc nét: Trên sập, mới kê ở gian giữa, có một người quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông, chốc chốc sê phẩy… Đặc biệt là quanh quan có đủ thầy đề, thầy đội nhất, thầy thông nhì và chánh tổng cùng ngồi hầu bài.

 

Quan rảnh rỗi, ung dung, không mảy may quyên tâm đến tình cảnh thảm thương của dân chúng đang ra mắt trên đê. Trong đình vẫn duy thì cái không khí uy nghiêm của chốn công đường, không hề có một chút liên hệ nào với cảnh hộ đê tất bật ngoài kia của dân phu. Dựng lên hai cảnh đối lập, tác giả có dụng ý tố cáo thái độ vô trách nát nhiệm, vô lương tâm, sống chết mặc bay của bọn quan lại phong kiến đương thời.

 

Trên cái nền là cảnh toan chống giặc nước, chân dung “quan phụ mẫu” hiện lên rõ ràng qua những nét vẽ sinh động về hình dạng, cử chỉ, lời nói và diễn biến tâm lý nhân vật. Người đọc không thể tưởng tượng nổi là trong tình cảnh nước sôi lửa bỏng, tính mạng và của cải của hàng nghìn con người con người đang bị đe dọa từng giờ từng phút, vậy mà “quan phụ mẫu” vẫn điềm nhiên vui chơi, hưởng lạc.

 

Xung quanh hắn bầy biện đủ thứ sang trọng, xa hoa: Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng, cau đậu, rễ tia, hai bên nào ống bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ống vôi chạm, ngoáy tai, vỉ thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt.

 

Quả là hoàn toàn trái ngược với hình ảnh:… mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít… trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê… Sự đối lập đó càng làm nổi trội tính nhữngh ích kỉ, độc ác, vô nhân đạo của tên quan phủ và thảm cảnh của dân chúng ; đồng thời góp phần ngày càng tăng ý nghĩa sâu sắc phê phán gay gắt của truyện.

 

Trong khi thảm họa vỡ đê khủng khiếp đang ập vào mắt dân chúng thì bọn nha lại tay chân vẫn cúc cung hầu hạ quan lớn đánh bạc. Tuy chỉ là một cuộc chơi, lại chơi khi làm nhiệm vụ đôn đốc dân phu hộ đê nhưng quan lớn vẫn giữ cái trật tự trên dưới và không khí tôn nghiêm, nghi vệ như ở chốn công đường: Chung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan thì có thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh tổng sở tại cùng ngồi hầu bàn.

 

Mặc cho dân tình nháo nhác, khổ sở, quan vẫn mải mê dồn hết tâm trí vào những quân bài tổ tôm. Cung nhữngh ấy tố cáo thực chất xấu xa cùng thái độ vô trách nát nhiệm đến mức cực kì nhân đạo của hắn. Nếu ở trên mặt đê, không khí sôi động, nhốn nháo, hối hả với công việc cứu đê thì trong đình không khí cũng rộn ràng với những lời lẽ xoay quanh ván bài đen đỏ: “Bát sách! Ăn”; “Thất văn… Phổng”, lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái, khi cười, khi nói vui vẻ dịu dàng… Ngoài kia, đê vỡ mặc đê, nước sông dù nguy không bằng nước bài cao thấp.

 

Sự đam mê cờ bạc của tên quan phủ với đám nha lại dưới quyền ra mắt ngay trên mặt đê, trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã nói lên sự tàn ác, vô liêm sỉ của kẻ cầm quyền. Những lá bài tổ tôm có một ma lực lớn đến độ nào mà khiến cho tên quan phủ quên hết trách nát nhiệm của tớ, quên cả mối hiểm nguy, chết chóc đang đe dọa sinh mạng, tài sản của bao người ?

 

Phải ! Hắn ta đâu nên biết những điều đó vì quanh hắn lúc nào cũng đều có bọn tay sai nịnh nọt, hầu hạ, dạ vâng… Chúng thi nhau tỏ ra cho quan biết là: Mình vào được, nhưng không dám cố ăn kìm, rằng: Mình có đôi, mà không dám phỗng qua mặt. Thì ra chúng cố ý nhường cho quan thắng bài liên tiếp để lấy lòng quan lớn.

 

Sau khi quan xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc, bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất. Mọi người đều giật nảy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Có người bẩm báo là có khi đê vỡ hắn reply thật phũ phàng : Mặc kệ! Sau đó lại tiếp tục đánh bài. Thú cờ bạc và những đồng tiền vơ vét được từ ván bài đã làm cho hắn mất hết lương tri: Ngài mà còn dở ván bài, hoặc vẫn chưa hết hội thì dẫu trời long đất lở, đê vỡ dân trôi, ngài cũng thấy kệ.

 

Tính nhữngh của tên quan phủ được tác giả mô tả khá tỉ mỉ qua những cử chỉ, lời nói thật tiêu biểu. Về cử chỉ : Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc… Về lời nói: Tiếng thầy đề hỏi: Dạ bẩm bốc! Tiếng quan lớn truyền: Ừ, khi có người chạy vào báo tin đê vỡ, quan đồ đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng: Đê vỡ rồi! Đê vỡ rồi, thời ông nhữngh cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không? Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đó như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à ? Khi chơi bài, quan lớn tỏ ra cực kì thành thạo: Ù ! Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu, mày!

 

Hàng loạt hình ảnh tương phản được tác giả sử dụng rất tài tình trong đoạn văn trên : Tiếng kêu vang trời dậy đất ngoài đê tương phản với thái độ điềm nhiên hưởng lạc của tên quan phủ. Lời nói khe khẽ sợ sệt của người hầu: Bẩm, có khi đê vỡ tương phản với lời gắt của quan cùng cái cau mặt : Mặc kệ! Hình ảnh người nhà quê, mình mẩy lấm láp, áo quần ướt đầm, tất tả chạy xông vào thở không ra lời báo tin đê vỡ tương phản với hình ảnh quan lớn đỏ mặt tía tai quay ra quát rằng : Đê vỡ rồi… thời ông nhữngh cổ chúng mày.

 

Trong khi mô tả và kể chuyện cảnh hộ đê, tác giả thể hiện nỗi xót thương và đồng cảm với nỗi khổ của dân chúng: Than ôi ! Cứ như cái nhữngh quan ngồi ung dung như vậy, mà hai bên tả hữu, nha lại nghiêm trang, lính hầu rầm rập, thì đó ai dám nói rằng: gần đó có sự nguy hiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thẳm, trừ những kẻ lòng lang dạ thú, còn ai nghĩ đến, mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch !…

 

Thiên truyện khép lại bằng cảnh vỡ đê: Ấy, trong những khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết ; kẻ sống không tồn tại chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao siết!

 

Ở đoạn cuối truyện, tác giả vừa dùng ngôn ngữ mô tả, vừa dùng ngôn ngữ biểu cảm đề tài cảnh tượng vỡ đê và tỏ lòng ai oán cảm thương của tớ đối với những người nông dân khốn cùng. Nhà văn muốn nhấn mạnh rằng : Cuộc sống lầm than đói khổ của nhân dân không phải chỉ do thiên tai gây nên mà trước hết và trực tiếp hơn cả là do thái độ thờ ơ vô trách nát nhiệm, vô nhân đạo của những kẻ cầm quyền đương thời.

 

Về nghệ thuật, trong toàn bộ tác phẩm, bên cạnh phép tương phản thì phép tăng cấp đã được nhà văn sử dụng một nhữngh có chủ ý nhằm nêu bật ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm và khắc họa rõ nét tính nhữngh nhân vật đó là tên “quan phụ mẫu”. Phép tăng cấp thể hiện rõ trong việc mô tả cảnh hộ đê dưới trời mưa mỗi lúc một dồn dập : Nước sông Nhị lên to quá… Ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên giữa tiếng trống, tiếng tù và tiếng người gọi nhau sang hộ đê mỗi lúc một ầm ĩ, náo động.

 

Phép tăng cấp còn được vận dụng vào việc mô tả cảnh tên quan phủ cùng đám nha lại đánh bài tổ tôm trong đình. Thái độ vô trách nát nhiệm, vô lương tâm của tên quan phủ mỗi lúc một tăng. Mê bài bạc bỏ nhiệm vụ đôn đốc hộ đê đã đành, đến khi có người phu vào báo tin đê vỡ mà vẫn thờ ơ, lại lên giọng quát nạt bọn tay sai rồi quay lại tiếp tục đánh bài và vui sướng reo to : Ù! Thông tôm, chi chi nảy! thì độ say mê cờ bạc quả là làm cho quan lớn mất hết tính người.Nói theo lời bình của nhà văn thì hắn là loại lòng lang dạ thú.

 

Nhờ khéo léo két hợp thủ pháp nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong mô tả, kể chuyện nên tác giả truyện ngắn Sống chết mặc bay đã đạt được mục đích lên án gay gắt tên quan phủ tàn ác và bày tỉ niềm thương cảm sâu sắc trước cảnh nghìn sâu muôn thảm của nhân dân do thiên tai và do thái độ vô trách nát nhiệm của kẻ cầm quyền gây nên.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 3

Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn được xem là “bông hoa đầu mùa” vì đây là truyện ngắn trước tiên được viết bằng chữ quốc ngữ. Dù vẫn còn đó đấy mang những dấu ấn của văn học trung đại cả về nội dung lẫn hình thức những vấn đề được phản ánh lại có giá trị đến tận hôm nay. Nổi bật ở tác phẩm này đó là sự đối lập nhau của hai giai cấp khi đứng trước vấn đề cấp bách sống còn của nhân dân.

 

Mở đầu mẩu chuyện là tình thế cực kì nguy nan của khúc đê sông Nhị: “Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá. Khúc sông làng X, thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất”. Đối với nhân dân ta, đê điều là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong quy trình sinh sống và canh tác.

 

Nếu không may vỡ đê, nhà cửa, hoa màu, cây cối và cả con người sẽ chìm trong nước, cuộc sống sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Khúc đê sông ở làng X kia đang đứng trước nguy cơ bị vỡ, đúng là tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Bị đe dọa trực tiếp đến cuộc sống, nhân dân ở đây ra sức hộ đê. Khung cảnh ấy được tác giả mô tả lại bằng ngòi bút hiện thực hết sức sống động và xót thương: “…kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vá tre, nào đắp, nào cứ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột.

 

Tình cảnh trông thật thảm”. Khung cảnh vội vã, khẩn trương hiện ra ngay trước mắt người đọc. Ai cũng nhận thức được tình hình nguy nan ngay lúc này, mỗi người đều dốc hết những gì sức lực mình có để cứu vớt lấy khúc đê này. Hình ảnh nhìn rất đỗi thương tâm.

 

Không dừng lại ở đó, tình thế của nhân dân được tác giả đưa lên đến cao trào: “Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng người nào cũng mệt lử cả rồi. Ấy vậy mà trên trời, thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất.”

 

Qua đoạn văn này, ta đã hiểu được rằng người dân ở đây đã túc trực bao nhiêu lâu qua chứ không phải mỗi hôm nay. Tuy rằng mọi người bảo ban nhau nhanh tay nhưng sức người có hạn, ai cũng đã thấm mệt rồi. Đọc đến đây, cảm giác thương xót đến uất nghẹn. Tình thế này liệu còn được bao nhiêu phần hy vọng nữa. Mọi người đều cảm nhận được tình thế nguy nan, đau thương tang tóc đang cận kề với mỗi người ở làng X này.

 

Tác giả mô tả cảnh dân tình đang loay hoay chống chọi với thiên tai một nhữngh cụ thể, tỉ mỉ là để chuẩn bị cho sự xuất hiện của cảnh tượng hoàn toàn trái ngược ra mắt trong đình: “…thế thời nào quan cha mẹ đâu? Thưa rằng: Đang trong đình kia, nhữngh đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa cũng không việc gì”.

 

Trong khung cảnh hỗn loạn của quan dân, tác giả đã kể chuyện viên quan phụ mẫu mải mê chơi tổ tôm với đám quan lại dưới quyền và được sai nha, lính lệ hầu hạ, cung phụng đến nơi đến chốn. Giọng điệu đậm chất mỉa mai, châm biếm và phẫn uất. Vị quan phụ mẫu cũng đích thân chỉ huy việc hộ đê đấy chứ, nhưng không phải là ra cùng với nhân dân mà hắn ta ở trong đình, không gian ấm cúng với những món ăn sang trọng, xa hoa: “đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng đi lại rộn ràng”.

 

Quan phụ mẫu thì “uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra để cho tên người nhà ngồi dưới đất mà gãi”. Quan phụ mẫu là vậy, nhưng xung quanh hắn ta lại có đủ “thầy đề, thầy đội nhất, thầy thông nhì và chánh tổng” cùng ngồi hầu bài. Cả một hệ thống quan lại ăn bổng lộc của dân nhưng lại mảy may, dửng dưng trước việc sống còn của họ. Khung cảnh ở đây dường như không tồn tại chút liên quan nào so với tình hình hộ đê của nhân dân.

 

Trong khi ngoài kia “mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít, trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa như đàn sâu lũ kiến ở trên đê” thì trong đình, dù chỉ là một cuộc tổ tôm thôi nhưng tên quan kia vẫn duy trì trật tự trên dưới và không khí tôn nghiêm như chốn công đường. Sự đam mê cờ bạc của đám quan lại ra mắt ngay trên mặt đê, ngay trên mạng sống của hàng nghìn con dân đã cho thấy sự độc ác, vô liêm sỉ của kẻ cầm quyền.

 

Nỗi đau đưa lên đến đỉnh điểm khi mà khoảnh khắc đê vỡ- nỗi đau đớn, mất mát của nhân dân lại cũng là lúc ván bài của quan ù to- quan vỗ đùi sung sướng. Còn gì uất hận hơn khi những nỗi đau ấy còn thua cả thú vui của một ván bài.

 

Khung cảnh vỡ đê được tác giả mô tả thật chi tiết và chua xót biết bao nhiêu: “Ấy, trong những khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp nơi mọi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết”. Dẫu biết rằng cuộc sống nghèo khổ của nhân dân là do thiên tai gây nên những nỗi đau ấy sẽ vơi đi bao nhiêu nếu những kẻ làm quan cha mẹ không thờ ơ với mạng sống của con dân mình như thế.

 

Câu chuyện khép lại với cùng một kết thúc buồn. Tác giả đã sử dụng tài tình bút pháp mô tả phối hợp với biểu cảm, cùng với đó là nghệ thuật đối lập tăng cấp đã làm cho mẩu chuyện đưa lên được mức cao trào, giúp người đọc nhận thấy được rình cảnh khốn cùng của nhân dân và bộ mặt xấu xa, vô lương tâm của đám quan lại. Câu văn biền ngẫu làm cho nhịp truyện cân đối, mang đậm không khí của thời đại.

 

Với truyện ngắn này, Phạm Duy Tốn đã mở ra một giai đoạn mới cho văn học nước nhà, đó là sự ra mắt của văn học viết bằng chữ Quốc ngữ. Tác phẩm đã đặt nền móng trước tiên cho sự phát triển của văn học nước nhà giai đoạn sau này.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 4

Dòng văn học hiện thực phê phán là một trong những dòng văn học tiêu biểu của Việt nam vào đầu những năm 20-30 của thế kỉ XX. Dòng văn học này nổi lên với những tên tuổi đình đám như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Phạm Duy Tốn… Trong những phẩm của những nhà văn này, Sống chết mặc bay là tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn cho Phạm Duy Tốn, cũng là tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán.

 

Câu chuyện được Phạm Duy Tốn xây dựng dựa trên tình trạng của nhân dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Truyện lấy bối cảnh của vùng nông thôn Việt Nam vào đầu những năm 20 thế kỷ XX. Trong một đêm khuya, mưa gió bão nổi lên khắp nơi trên một khúc đê bên sông Nhị Hà làm vỡ đê nơi đây, khiến dân chúng rơi vào tình trạng cực kì nguy cấp. Vậy mà, trong tình huống nghìn cân treo sợi tóc này, trong đình quan phụ mẫu vẫn ngồi chơi tổ tôm với những tên quan lại khác, không quyên tâm đến đê điều hay dân chúng sống chết ra sao. Họ để mặc dân chúng tự sinh tự diệt “sống chết mặc bay”.

 

Ngay từ đầu, tên của tác phẩm đã gây ấn tượng với độc giả “sống chết mặc bay”. Tên tác phẩm được lấy từ vế trước của câu tục ngữ “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Đây là câu tục ngữ dùng để chỉ thái độ của bạn thầy lang, thầy cúng trong xã hội cũ. Nó còn dùng để chỉ những người vô trách nát nhiệm chỉ biết hưởng lợi, chỉ biết đến bản thân mình, làm sao cho mình vui vẻ mà không quyên tâm đến người khác ra sao, họ chỉ quyên tâm đến bản.

 

Tác giả cố tình chọn phần đầu của câu tục ngữ mà không sử dụng cả câu bởi ông muốn kích thích trí tò mò của người đọc, lôi cuốn người đọc nhắm tới mẩu chuyện của tớ. Tác phẩm được mở ra với cùng một không gian rộng lớn, tối om nhưng không khí lại rất vội vàng, khẩn trương, trong đó còn có cả sự gấp gáp của con người nơi đây: “Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đê thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.”

 

Ngược lại, là không khí nhỏ hẹp, sáng trưng với đèn đuốc trong đình, con người lại ung dung, nhẹ nhàng không hề ăn nhập với không khí ngoài kia của dân con: “Bên cạnh ngài, bên tay trái bát yến hấp phèn, để trong khay khảm, khói bay nghi ngút…hai bên nào là ống thuốc bạc, trông mà thích mắt”.

 

Phạm Duy Tốn dường như đã hóa thân thành người đạo diễn tài ba hơn người. Ông làm nên một đoạn phim với hai đoạn phim song song nhưng đối lập nhau hoàn toàn ở mọi phương diện. Với cảnh ngoài đê, nhân vật đó là dân chúng; không khí nơi đây khẩn trương, vội vã, con người chật vật để chống chọi lại với thiên nhiên. Mặt khác, cảnh trong đình, nhân vật đó là quan phụ mẫu; không khí lại rất nhẹ nhàng, con người vui vẻ với việc ăn chơi đàn điếm.

 

Hai cảnh tuy là song song nhưng lại rất cần tới nhau, cái này cần cái kia tới cứu giúp. Người trong đình là nơi rất có thể giải quyết mọi việc giúp nhân dân phía bên ngoài nhưng dường như họ chỉ bận tâm bất kể điều gì ngoài tổ tôm, bài bạc. Có lẽ, chính thiên nhiên cũng biết người dân nơi đây không tồn tại quan phụ mẫu quyên tâm nên càng ra sức bắt nạt, làm khó dân con nơi đây.

 

Ngược lại hoàn toàn với cảnh đó nhữngh vài trăm thước, trong đình đèn điện sáng trưng sôi động người đi lại, quan phụ mẫu chễm chệ có lính gãi chân, có lính quạt hầu, thản nhiên đánh bài: “Một người quan phụ mẫu uy nghi, chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên cầm quạt lông chốc chốc sẽ phẩy. Tên đứng khoanh tay trực hầu điếu đóm…”.

 

Buồn cười làm sao, có những con người đang phải chống chọi để giành lấy sự sống từ thiên nhiên ngược lại là người an nhàn, ngồi chơi như không phải việc của tớ. Hai hình ảnh tương phản làm sao: sự khốn khổ, điêu đứng của người dân và sự ung dung, an nhàn vô trách nát nhiệm của tên quan “phụ mẫu”.

 

Bộ mặt thật của quan phụ mẫu nơi đây đã lộ, thực chất vô nhân đạo, lối sống “sống chết mặc bay” của quan huyện cũng đã lộ rõ dưới ngòi bút sắc sảo của Phạm Duy Tốn. Mưa bão và sinh mạng hàng nghìn con dân không bằng một trăm hai mươi lá bài. Không khí trong đình vẫn im lặng, chẳng có chút không khí vỡ đê, đắp đê nào cả chỉ đôi khi nghe tiếng quan gọi “điếu mày”, tiếng “dạ”, tiếng “bốc”, “Bát sách! Ăn…” Quan sung sướng, cười hả hê, đắc chí và cũng chính lúc ấy “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết”…

 

Với việc sử dụng thủ pháp đối lập tương phản và nghệ thuật xây dựng tình huống truyện; cùng giọng văn thay đổi liên tục khi thiết tha xúc động, khi cay độc, mỉa mai. Tác phẩm là lời tố cáo đanh thép nhất cho sự thối nát của bọn chính quyền phong kiến chèn ép, đàn áp con dân của tớ. Để cho dân chúng tự sinh tự diệt, sống chết mặc bay. Qua đó, tác giả đã bày tỏ thái độ chán ghét lên án với cơ chế đương thời và niềm thương xót nhân dân vô tội.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 5

Phạm Duy Tốn là một trong những cây bút mở đầu cho thể loại truyện ngắn hiện đại, trong đó có tác phẩm “Sống chết mặc bay”. Tác phẩm đã thể hiện rõ nét nỗi khổ của người dân trong thời kỳ xã hội thối nát, bọn quan lại cường hào thì ăn chơi phè phỡn, không quyên tâm tới vận mệnh của người dân.

 

Tác phẩm đã đem lại sự tò mò của người đọc ở ngay title. Nhan đề bắt nguồn từ một câu tục ngữ nổi tiếng và rất quen thuộc của dân gian ta “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Câu tục ngữ phê phán, lên án trước thái độ của những kẻ chỉ biết vun vén, lo cho lợi riêng mình trong những khi đó lại thản nhiên, lãnh đạm, thờ ơ thậm chí vô lương tâm trước tính mạng của những người con người mà mình phải có trách nát nhiệm.

 

Tác giả chỉ chọn phần đầu của câu tục ngữ mà không chọn cả câu bởi ông muốn tạo ra sự tò mò, hấp dẫn người đọc. Bởi trong mẩu chuyện này thì chỉ có phần đầu mới tương thích với nội dung, cốt truyện. Và như ý kiến nhận xét trên đây đã đề cập, “Sống chết mặc bay” không phải để “tiền thầy bỏ túi” mà để những quan thoái thác trách nát nhiệm, “tự do” với cuộc ăn chơi của tớ.

 

Xuyên suốt tác phẩm, tác giả đã lấy bối cảnh là một cuộc hộ đê của dân làng XX… giữa mùa nước dâng cao. Không gian tác phẩm chỉ gồm hai địa điểm: đê và đình. Ngoài đê, dân tình hối hả, cực nhọc hộ đê. Trong đình, quan phụ mẫu và nha lại chơi đánh bài tổ tôm. Không gian truyện quả thực rất hẹp nhưng hai đối tượng xã hội mà tác phẩm dựng lên lại là hai giai cấp tiêu biểu, vốn có những xích míc gay gắt trong lòng xã hội đương thời: nông dân và quan lại phong kiến.

 

Và qua công việc hộ đê trong phạm vi một làng nhỏ, tác phẩm đã đề cùa tới những vấn đề xã hội to lớn: đó là sự khốn khổ của người dân quê trong cơn lụt lội; thói vô trách nát nhiệm của bọn quan lại…”. Trong hoàn cảnh cực kì khắc nghiệt, trời tối đen như mực, nước sông Nhị Hà đang dâng lên, thế mà hàng trăm con người đang phải đội đất, vác tre, bì bõm dưới bùn lầy, trong mưa gió để cố giữ lấy đê.

 

Ngược lại hoàn toàn với cảnh đó nhữngh đó vài trăm thước, trong đình đèn điện sáng trưng sôi động người đi lại, “quan phụ mẫu” uy nghi chễm chệ có lính gãi chân, có lính quạt hầu, thản nhiên đánh bài: “Một người quan phụ mẫu uy nghi, chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên cầm quạt lông chốc chốc sẽ phẩy. Tên đứng khoanh tay trực hầu điếu đóm.

 

Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, tráp đồi mồi, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng và cơ man những vật dụng quý phái sang trọng khác”. Nhà văn đã dùng thủ pháp tương phản để đan xen hai hoàn cảnh: sự khốn khổ, điêu đứng của người dân và sự ung dung, an nhàn vô trách nát nhiệm của tên quan “phụ mẫu”.

 

Sự tài tình khéo léo trong ngòi bút của tác giả thể hiện ở chỗ, hai hình ảnh hoàn toàn đối ngược với nhau tạo ra hai nghịch cảnh. Chính điều này càng gây ra nỗi phẫn nộ trong lòng người đọc. Trời càng lúc càng mưa to, đê càng lúc càng sụt lở nhiều, dân càng lúc càng đuối sức. Thì ở trong đình, ván bài của quan càng lúc càng hồi hộp, càng gần đến hồi “gay cấn”.

 

Kết hợp với nghệ thuật tương phản là thủ pháp tăng cấp, Phạm Duy Tốn ép không gian truyện đến nghẹt thở. Cao trào của tác phẩm dâng lên khi có người nhà quê chạy vào run rẩy báo: “Đê vỡ mất rồi”, quan phụ mẫu không những không lo lắng mà còn lớn tiếng quát: “Đê vỡ rồi, thời ông nhữngh cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày” rồi tiếp tục thản nhiên đánh bài!

 

Với ngòi bút sắc sảo khi nhà văn mô tả cảnh dân – quan, ta thấy cuộc sống nhân dân khổ đến cùng cực, sự sống mong manh, bè lũ quan lại tiêu biểu là tên quan phụ mẫu thì vô trách nát nhiệm và lòng lang dạ thú đến tận cùng. Hiện thực ấy được thu nhỏ qua bức tranh hộ đê cực kì gian khổ. Nhà văn cảm thông san sẻ với cuộc sống thê thảm của người dân trong cảnh hộ đê và cảnh điêu linh của dân sau khi đê vỡ.

 

Đó là sự tố cáo phê phán thái độ thờ ơ vô trách nát nhiệm của bè lũ quan lại. Thái độ vô trách nát nhiệm ấy trở thành một tội ác đối với dân. Trong xã hội lúc bấy giờ, không phải chỉ có một mình tên quan phụ mẫu sống vô trách nát nhiệm với dân mà còn rất nhiều tên quan cũng thờ ơ với số phận của nhân dân giống tên quan phụ mẫu này. Xây dựng hình ảnh một tên quan phụ mẫu nhưng tác giả đã thay lời nhân dân tố cáo những tên quan lại vô lại làm hại dân hại nước đang tồn tại trong xã hội mà tác giả đang sống.

 

“Xung quanh một không gian hẹp nhưng “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn lại đề cùa tới những vấn đề xã hội to lớn: đó là sự khốn khổ của người dân quê trong cơn lụt lội; thói vô trách nát nhiệm của bọn quan lại…”. Ý kiến nhận xét đó đã khái quát được thành công về mặt nội dung tư tưởng của truyện ngắn hiện đại trước tiên trong nền văn học nước nhà.

 

Trong cuộc sống xã hội phong kiến xưa có rất nhiều những kẻ vô lương tâm, lòng lang dạ thú như tên quan phụ mẫu. Trong xã hội này thì khác, nhà nước đã rất chú trọng đến đời sống nhân dân nhưng vẫn không ít kẻ vì lợi riêng mà mặc cho số phận, sinh mạng của nhân dân. Và bởi vậy, rất có thể khẳng định rằng, giá trị hiện thực của truyện ngắn này vẫn còn đó đấy nguyên vẹn ý nghĩa sâu sắc tới ngày nay.

 

Có thể nói tác phẩm Sống chết mặc bay là lời tố cáo của nhân dân với xã hội phong kiến thối nát, tạo điều kiện cho những kẻ mất nhân tính tồn tại và gieo rắc nỗi khổ cho nhân dân. Tác giả đã thương cảm cho số phận của nhân dân phải chịu nhiều áp bức bóc lột.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 6

Phạm Duy Tốn là một trong những nhà văn trước tiên sáng tác văn học theo chủ nghĩa hiện thực. Ông triệu tập vào những tác phẩm văn học mang tính chất hiện thực và viết về những con người trong giai đoạn này. Nổi bật trong số những tác phẩm của ông đó là tác phẩm “ Sống chết mặc bay”. Qua tác phẩm, chúng ta thấy được xã hội thối nát của giai đoạn lúc bấy giờ cùng những khó khăn của những người nông dân luôn phải đối mặt với bão lũ nhưng lại không nhận được sự chăm sóc của quan phụ mẫu- những người đáng lẽ phải chăm sóc cho cuộc sống của người dân nhiều nhất.

 

Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh của những người nông dân đang cùng nhau chống lũ trên con sông Nhị Hà. Nước sông cuồn cuộn dâng ngày một cao. Thậm chí, dù lúc đó đang là nửa đêm nhưng mọi người vẫn cố gắng thay phiên nhau canh cho nước không bị vỡ. Khí thể lúc đó được mọi người mô tả là cực kì khí thế. Đủ mọi dụng cụ được mọi người mang hết ra để cùng nhau chống lũ: nào cuốc, nào thuổng, gậy gộc,…

 

Thế nhưng, dù cho toàn bộ mọi người đang cố gắng thì sức người có hạn, những thứ mà mọi người tiêu dùng chỉ là những phương tiện thô sơ mà thôi. Thế cho nên, dù đã rất cố gắng, nhưng nước sông Nhị Hà vẫn đang dâng lên không ngừng, đe dọa tới cuộc sống của nhân dân quanh vùng nếu như đê bị vỡ. Mọi người ai nấy đều đang trông chờ vào sự giúp đỡ của quan.

 

Nếu như có quan ở đây thì mọi thứ có lẽ sẽ khác. Thế nhưng, toàn bộ những mong chờ của người dân đều là vô vọng.

Ngay lúc này, trái ngược với khí thế khẩn trương và căng thẳng của người dân ở trên đê. Lúc này, quan đang ở trong đình ngồi chơi tổ tôm. Những ván bài đen đỏ đang lôi kéo sự để ý của quan. Bên cạnh quan là biết bao nhiêu người hầu quan chơi đánh bài: nào thầy đề, thầy thông, phán quan,…

 

Mọi người đều hầu quan chơi. Tác giả đã sử dụng biện pháp mô tả trái ngược giữa cuộc sống của quan và của những người dân thấp hèn lúc bấy giờ. Khi những người dân đang cố gắng chống lại lũ lụt thì quan đang hưởng thụ sự sung sướng ở trong đình đầy sơn son thếp vàng. Khi những người dân đang khẩn trương, lo sợ nước sông Nhị Hà bị vỡ thì quan đang sung sướng vì đã ù được mấy ván bài liên tiếp.

 

Hình ảnh của viên quan hiện lên làm cho toàn bộ chúng ta cùng cảm thấy phẫn nộ. Đáng lẽ, quan phải là cha, là mẹ của những người nông dân chân yếu tay mềm thì quan lại không hề để ý tới cuộc sống của con dân mình. Hắn là một kẻ vô tâm, ích kỉ, chỉ biết nghĩ tới bản thân mình. Trong những lúc nước sôi lửa bỏng như vậy mà hắn lại không hề nghĩ tới những con người ngoài kia, hắn đang chờ cho ván bài tới của hắn.

 

Khi có người báo đê sắp vỡ, hắn cũng bỏ ngoài tai toàn bộ, không hề quyên tâm chút nào, chỉ mải giục những người đang chơi cùng ra ván bài nhanh lên. Ngay cả những kẻ vốn cũng là những người có học như thầy đồ, thầy phán cũng không hề can gián quan mà chỉ hùa nhau nịnh bợ quan, giúp cho quan vui vẻ. Thế mới thấy đắng cay làm sao cho số phận của những người dân.

 

Tới lần thứ hai, tên nô tài bẩm báo, quan vẫn không hề lay chuyển, thậm chí còn mắng tên nô tài. Đoạn trích này, tác giả Phạm Duy Tốn đã thể hiện một nhữngh tinh ý biện pháp tăng tiến giữa tình trạng cấp bách của những người nông dân và mức độ bài đỏ của quan. Nước sông Nhị Hà càng dâng cao, cuộc sống của người dân càng khó khăn thì những ván bài của quan lại càng trở thành đỏ hơn lúc nào hết.

 

Và để rồi sau cuối, khi đê không thể chịu được nữa, bị vỡ hoàn toàn khiến cho nước sông tràn vào phía trong làm cho toàn bộ hoa màu, thú nuôi của người dân bị cuốn đi hết, tiếng than khóc vang lên khắp nơi thì cũng là khi quan ù những ván bài to nhất. Tên nô tài run rẩy báo cho quan thì bị quan nạt nộ:” ông bỏ tù chúng mày”. Mọi thứ bị đưa lên dần dần và rồi sau cuối, tức nước vỡ bờ, không thể gì rất có thể giữ lại được nữa.

 

Tóm lại, tác phẩm đã phản ánh hiện thực lúc bấy giờ với những điều mà văn học giai đoạn đó vẫn chưa phản ánh hết được. Đó đó là một xã hội thối nát, mục ruỗng, quan không chăm sóc cho cuộc sống của nhân dân khiến cho nhân dân phải rơi vào cảnh lầm than mà không biết nương tựa vào đâu. Qua đây tác giả cũng nhẹ nhàng phê phán xã hội, nhữngh cai trị của những người bậc trên đối với quan lại.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 7

Phạm Duy Tốn (1883 – 1924), nguyên quán làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây; sinh quán thôn Đông Thọ (nay là phố Hàng Dầu, Thủ Đô Hà Nội),ông là một trong số ít người có thành tựu trước tiên về thể loại truyện ngắn hiện đại. Và một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là “Sống chết mặc bay”.

 

Với hai bức tranh đời tương phản, tác giả đã phản ánh rõ nét toàn cảnh xã hội phong kiến thời xưa. Hai hình ảnh trái lập nhau đã làm càng tăng thêm ý nghĩa sâu sắc, lên án, tố cáo những kẻ cầm đầu độc ác, không biết quyên tâm đến đời sống nhân dân hay nói đúng hơn là tên quan phủ – một viên quan vô trách nát nhiệm lòng lang dạ sói trong tác phẩm. Văn bản này vào đề bằng một hình ảnh hết sức căng thẳng, gay cấn, khó khăn.

 

Đó là vào một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông dâng cao đe doạ vỡ đê. Với công cụ thô sơ, những người dân chân lấm tay bùn với hàng nghìn tư thế không giống nhau: người vác cuốc, người vác tre, kẻ bì bõm ướt như chuột lột cùng nhau gắng sức chống lại thiên tai, bão lụt. Hình ảnh muôn sầu nghìn thảm ấy làm bất kể ai được đọc, được nghe đều không khỏi xót thương.

 

Sự vất vả của người dân nối dài tới mãi đêm khuya vẫn vẫn chưa chấm hết. Tiếng hò, tiếng gọi, í ới, gấp gấp, sự căng thẳng ấy được bộc lộ qua nét mặt của từng người. Trước tình cảnh như vậy thì bất kì ai cũng đưa ra câu hỏi: Vậy trước thế cùng sức kiệt như vậy thì quan phụ mẫu, những người có chức quyền ở đâu. Thì ra những vị quan phụ mẫu đang hộ đê trong đình, một khung cảnh hoàn toàn trái ngược.

 

Bầu không khí ấm cúng không chút lo âu. Sự bình thản của mỗi người trên từng quân bài. Quan phụ mẫu đang hộ đê trong tư thế ung dung, rảnh rỗi, tay cầm bát yến, ngồi khểnh vuốt râu. Sự oai phong của quan được thể hiện ở lời nói. Những tên xu nịnh vây quanh nịnh hót, quan thắng bài đó là niềm hạnh phúc. Từng khung cảnh cũng được đề cùa tới trong văn bản càng bộc lộ rõ nét hơn.

 

Than ôi! Xã hội phong kiến bất công biết bao. Bằng những ngôn từ, biện pháp tự sự, phối hợp với mô tả, comment cùng với những cảm xúc chân thực, tác giả đã đưa người đọc vào trong cuộc sống bấy giờ, tái hiện lại những nghịch cảnh trớ trêu, lay động lòng người, đánh thức lên một nỗi niềm xót cảm. Không mảy may một chút vương lòng, những hình ảnh rảnh rỗi, nào quan phủ, nào thầy lí, thầy đề, những tên cường hào, ác bá được lột tả dưới ngòi bút của tác giả.

 

Với những ngôn từ bình dị, cổ xưa, tác giả đã gợi lên một khung cảnh chân thực. Hơn thế nữa, một loạt những nghệ thuật độc đáo được được sử dụng. Khi thời điểm tưởng chừng ngàn cân treo sợi tóc, văng vẳng từ xa tiếng người vào bẩm báo: “Dễ có khi đê vỡ”. Cảnh bình chân như vại của viên quan bằng lời nói: “Mặc kệ” khi đợi bài ù. Không chỉ vậy sự thử thách của hắn còn được bộc lộ bởi câu nói: “Đê có vỡ, nước có dâng lên cao thì cũng không lo đình sập, đình vỡ”.

 

Thật là nghịch chướng. Đó là phép tăng cấp rất độc đáo. Hay nghệ thuật tương phản cũng khá ấn tượng. Hai khung cảnh một trời một vực, một bên ung dung nhàn nhã, một bên gấp gáp lo âu. Sự tương phản này là xích míc quan điểm của hai lớp người trong xã hội xưa.

 

Có thể nói với sự khéo léo trong việc vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn hai biện pháp nghệ thuật cùng với ngôn từ chặt chẽ điêu luyện, tương thích tương tác với nhau, bài văn đã rất thành công trong việc lột tả hai hình tượng đối lập. Đồng thời cũng lên án những tên quan phụ mẫu đại diện chính quyền lại vô trách nát nhiệm hay nói đúng hơn là lòng lang dạ sói cứ ung dung, thoải mái trong nhung lụa, hạnh phúc, bỏ mặc người dân trong cảnh lầm than, cơ cực.

 

Hai bức tranh đời này mang đậm đà chất hiện thực và thắm đượm những cảm xúc nhân văn và gợi lên lòng đồng cảm nơi người đọc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 8

Phạm Duy Tốn sinh ra trong thời đại lịch sử đầy bão tố. Tuy viết ít nhưng những tác phẩm của ông có tầm tác động sâu rộng. Ông trở thành một trong những người tiên phong mở lối cho giai đoạn thành tựu rực rỡ của nền văn học Việt Nam nhữngh tân giai đoạn sau này.

 

Truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của ông được coi là truyện ngắn trước tiên theo lối tây phương của văn học Việt Nam và cũng là truyện ngắn trước tiên của nền văn học mới Việt Nam. Sống chết mặc bay là truyện ngắn tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy Tốn và được coi là một trong những tác phẩm mở đầu cho nền văn học hiện thực phê phán sau này.

Sống chết mặc bay được in lần đầu trên tạp chí Nam Phong, số 18, xuất bản năm 1918. Đây là một trong những truyện ngắn trước tiên của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam được viết bằng chữ quốc ngữ. Nhà văn đã triệu tập tái hiện một nhữngh khá sinh động bức tranh đối lập giữa đời sống khổ cực của nhân dân với cuộc sống phè phỡn, xa hoa, hưởng lạc của lũ quan lại.

 

Qua tác phẩm, Phạm Duy Tốn đã đả kích, tố cáo manh mẽ sự vô lương tâm, thói vô nách nhiệm của bọn quan lại đương thời đã đẩy những người dân vô tội vào cảnh khốn cùng. Phạm Duy Tốn là một trong những nhà văn mở dầu cho văn xuôi hiện đại Việt Nam đầu thế kỉ XX.

 

Nội dung văn chương của ông chủ yếu phơi bày tình trạng thối nát, bất công của xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Ông đã viết nhiều truyện ngắn: Nước đời lắm nỗi, Bực mình, Con người Sở Khanh… Sáng tác của Phạm Duy Tốn làm xúc động lòng người bằng nghệ thuật tả chân những hiện tượng mà ông quan sát được.

Sống chết mặc bay là một truyện ngắn được coi là bông hoa đầu mùa của nền văn xuôi hiên đại Việt Nam. Sự ra mắt của truyện ngắn hiện đại là sự tiếp nối và phát triển thành tựu từ truyện ngắn trung đại. Khác với truyện trung đại chỉ chủ yếu thiên về sự việc ghi chép lại người thật, việc thật.

 

Cốt truyện nhiều khi còn đơn giản, tính nhữngh, tâm lí nhân vật nhiều khi vẫn chưa được triệu tập khắc hoạ. Truyện ngắn hiện đại đã chú trọng đến nghệ thuật xây dựng truyện với tình huống truyện gay cấn, tâm lí, tính nhữngh nhân vật, ngôn ngữ độc thoại, đối thoại phong phú hơn.

Đây là một trong những truyện ngắn hiện đại trước tiên đạt nền móng cho sự hình thành thể loại truyện ngắn hiện đại Việt Nam. Truyện đã lên án gay gắt tên quan phủ “lòng lang dạ thú” và bày tỏ niềm cảm thương trước cảnh “nghìn sầu muôn thảm” của nhân dân do thiên tai và cũng do thái độ vô trách nát nhiệm của kẻ cầm quyền gây nên.

Nhan đề Sống chết mặc bay xuất phát từ câu “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”, một thành ngữ có ý nghĩa sâu sắc sâu sắc. Nó phản ánh thái độ vô trách nát nhiệm của quan phụ mẫu với nhân dân. Dù dân có sống hay cái chết, quan cũng mặc kệ, không hề để ý, không hề quyên tâm.

 

Ngay ở nhan đề, văn bản đã hé mở một phần chủ đề của truyện và có ý nghĩa sâu sắc tố cáo, phê phán sâu sắc. Hình ảnh tên quan phủ đó là điển hình cho những tên quan lại thời phong kiến nửa thực dân. Đây cũng đó là hình ảnh đã từng xuất hiện nhiều trong thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương…

Toàn bộ truyện ngắn triệu tập khắc họa hai cảnh tượng: Cảnh nhân dân hộ đê ngoài trời và cảnh những quan hộ bài trong đình: Ngay mở đầu truyện, tác giả đã đưa ra một tình huống rất căng thẳng: “Gần một giờ đêm. Trời mưa tẩm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá, khúc đê làng X phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất”.

 

Đê còn hay mất tác động đến đời sống của toàn bộ dân chúng và quan lại. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” đó, quan phải là người đứng “đầu sóng ngọn gió” cùng với nhân dân hộ đê. Nhưng sự việc ra mắt lại hoàn toàn đối lập với lẽ thông thường ấy. Vì thế, trong tình huống này, nghệ thuật tương phản đã được Phạm Duy Tốn sử dụng triệt để.

Trong khi dân đang hối hả hộ đê thì quan lại say sưa hộ bài. Sự tương phản tới từng chi tiết nhỏ nhất: Cảnh dân hộ đê: thời gian là gần một giờ đêm. Tình thế cực kì cấp bách, nguy hiểm, “ngàn cân treo sợi tóc”: khúc để làng X đang bị thẩm lậu, không khéo thì vỡ mất. Đê mà vỡ thì nhan dân khốn khổ biết chừng nào.

Mọi người nhốn nháo, thảm hại. Kẻ cuốc, người thuổng, kẻ dội dát, kẻ vác tre… người nào người đấy ướt lướt thướt như chuột lột. Thế nhưng, sức người khó lòng địch nổi với sức trời, thế đê không sao cự lại với thế nước. Không khíhộ đê náo loan, căng thẳng. Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người gọi nhau xao xác.

Trong khi dân chúng lầm than vì thiên tai đang giáng xuống đầu,. Dân cần quan phụ mẫu – quan cha mẹ của dân – vị phúc tinh cứu giúp thì quan đang ở đâu? Cảnh đê vỡ và quan ù to thật trớ trêu và cay đắng biết bao. Đến phần hai này, thủ pháp tương phản, tăng cấp dã đẩy tình huống truyện lên đến đỉnh điểm.

 

Lúc này, dân không hộ đê nữa mà đã kêu cứu thảm thiết. Còn chiếu bài của quan cũng đang ở thời điểm gay cấn nhất. Quan không chỉ có chờ ù mà còn ù rất to bởi thế “ngài chì lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ bài”. Tình thế của dân và quan đều thật căng thẳng.

Thế rồi, ngoài xa, kêu vang dậy trời đất. Tiếng kêu càng lúc càng lớn, lại có tiếng ào ào như thác, tiếng gà, chó, trâu, bà kêu vang tứ bề. Mọi người giật này mình. Duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ.

Quan là người duy nhất thản nhiên, ung dung theo đuổi quân bài. Ngài đặt toàn tâm toàn trí cho ván bài cũng như sẵn sàng đánh đổi nó lấy bao nhiêu sinh mạng của những người dân. Mức độ đam mê bài bạc của ngài càng cao thì sự vô trách nát nhiệm của ngài càng lên tới đỉnh điểm.

Một người nhà quê mình mẩy lấm láp, quần áo ướt đầm, tất tả chạy vào, thở không ra hơi: “Bẩm quan lớn, dễ đê vỡ mất rồi”. Mức độ kêu cứu khẩn cấp của dân tạo thêm. Nếu như ở đoạn trên dân còn ở rất xa dê thi đến đây sự xuất hiện của người nhà quê như một nhăn chứng sống hiện diện cho tình cành nhân dân trước hiện thực đê vỡ. Người nhà quê tìm tới quan như tìm đên một phúc tinh của nhân dân

– “Đê vỡ, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng…người sống không tồn tại chỗ ở, kè chết không tồn tại nơi chôn, tình cảnh thảm sầu”. Mọi người giật nảy mình trước tin dữ. Quan đỏ mặt tía tai quay ra quát rằng: “Đê vỡ rổi! Đê vỡ rồi! Thời ông nhữngh cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày”.

Đôi diện với hiện thực ấy, mức độ vổ trách nát nhiệm của quan càng thể hiện rõ khi quan cho rằng mình đứng ngoài cuộc trong việc hộ đê. Giọng đe dọa của quan đã thể hiện ngài là người quen thói hống hách, quát nạt. Cho nên khi nghe tin đê vỡ, ngay lập tức ngài đổ trách nát nhiệm cho dân: “ông nhữngh cổ, ông bỏ tù chúng mày”. Quan tự cho mình “trắng án”, không tồn tại liên quan gì trong sự việc này. Hơn thế nữa, quan lại tức còn tức giận vì ngườị nhà quê đã làm gián đoạn ván bài của tớ. Ngay khi đuổi được anh ta đi khỏi, quan quay quay về ván bài một nhữngh sốt sắng: “Thầy bốc quân gì thẻ?”

Đến khi ván bài ù, quan vỗ tay xuống sập kêu to. Ngài xòe bài, miệng vừa cười vừa nói: “Ù! Thông tôm, chi chi nảy! Điếu mày!”. Niềm vui của quan là thú vui chà đạp lên bao sinh mạng của nhân dán, bao tiếng kêu cứu. Đam mê cá nhân của quan được thỏa mãn nhưng đánh đổi bằng bao nhân mạng và của cải của người dân. Quả thực, vị quan phủ ấy là kẻ độc ác, phi nhân tính, “lòng lang dạ thú”, mất hết tính người.

Truyện ngắn Sống chết mặc bay chứa đụng giá trị hiện thực và giá tri nhân đạo sâu sắc. Thông qua việc phản ánh sự đối lập hoàn toàn giữa một bên là cuộc sống và sinh hoạt của người dân cực kì cực khổ, một bên là cuộc sống xa hoa của lũ quan lại, đứng đầu là tên quan phủ “lòng lang dạ thú”, nhà văn đã bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc trước cuộc sống lầm than của người dân do thiên tai và do thái độ vô trách nát nhiệm của bọn cầm quyền gây nên.

Phép tương phản và tăng cấp là hai nét đặc sắc trong nghệ thuật của truyện. Phép tương phản và tăng cấp ở đây đã triệu tập thể hiện được sâu sắc hơn giá trị nhân đạo và hiện thực của tác phẩm. Ngoài ra, người đọc còn thấy được nhiều điểm đặc sắc nữa trong nghệ thuật của truyện như tình huống truyện giàu kịch tính, nghệ thuật xây dựng nhân vật sống động, ngôn ngữ nhân vật sinh động, giàu cá tính; ngôn ngữ tác giả giàu cảm xúc, việc sử dụng phép liệt kê đặc sắc… Tuy nhiên, lời văn vẫn còn đó đấy mang ít nhiều dấu ấn của văn học trung đại ờ thể văn biền ngẫu…

Sống chết mặc bay đã khá thành công trong việc vận dụng nghệ thuật truyện ngắn hiện đại, phối hợp khá thuần thục giữa kể chuyện, mô tả, đối thoại, đẩy xung đột cảnh ngộ lên rất cao. Tác giả đã xây dựng dược một tình huống truyện độc đáo, sử dụng triệt để thủ pháp đối lập, tương phản, phép liệt kê, tăng cấp… với lối văn đa giọng diêu, lúc thiết tha, xúc động, lúc cay độc, mỉa mai… Thay vì viết những tác phẩm văn xuôi theo khuôn khổ truyền thống, tác phẩm của Phạm Duy tốn đã mở ra cánh cửa sổ đến một trái đất khác, trái đất không chỉ có gồm có trí thức và những tầng lớp trên, mà cả nông dân và những người kéo xe cần lao.

Trong Sống chết mặc bay, tác giả đã tái hiện khá sinh động bức tranh đối lập giữa đời sống khổ cực của nhân dân với cuộc sống phè phỡn, xa hoa của lũ quan lại. Viết Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn đã mạnh mẽ tố cáo thói vô trách nát nhiệm của bọn quan lại đương thời.

 

Truyện dụng lên hai bức tranh đời tương phản. Quan là kẻ quan liêu vô trách nát nhiệm sung sướng đến tột độ được hưởng thụ một món tiền lớn giữa lúc nhân dân đang đau khổ đến mức độ thẳm sâu, không thể đo được. Tình huống truyện diễn biến đến đây quả là căng thẳng, sự tương phản đối lập quả là gay gắt, xích míc không thể dung hòa được.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 9

Phạm Duy Tốn là nhà văn xã hội tiên phong của nền văn học mới trong nền văn học Việt Nam. Những tác phẩm của ông thường phản ánh rất chân thực và sống động hiện thực. Nổi bật trong số đó là tác phẩm “Sống chết mặc bay” được ông sáng tác trong giai đoạn xã hội đã có nhiều tiến bộ. Câu chuyện tái hiện lại khung cảnh hỗn loạn của những người nông dân và những viên quan lại trong đêm nước lũ dâng cao. Một bức tranh phản diện nhưng lại thể hiện chân thực được cuộc sống lúc bấy giờ.

 

Mở đầu mẩu chuyện là hình ảnh những người dân đang thay nhau chống chọi với cơn lũ trên sông Nhị Hà. Mặc dù không gian đã về đêm thế nhưng họ lại cố gắng ngăn không cho nước vỡ bờ. Khung cảnh bão bùng đáng sợ như muốn nuốt chửng cả khu làng,hàng trăm con người đội mưa,đội đất vác tre bì bõm trong biển nước để tránh bão… Nhưng có lẽ con người không thắng nổi thiên nhiên, họ càng chống cự nước càng dâng cao,ai nấy đều lo sợ đê sẽ vỡ thì người dân sẽ phải sống thế nào?

 

Người mà họ nghĩ tới ngay lúc này có lẽ là những vị quan lại cấp trên rất có thể sẽ giúp được nhưng càng hy vọng nhiều có lẽ nỗi vô vọng sẽ càng lớn.quan phụ mẫu” uy nghi chễm chệ có lính gãi chân, có lính quạt hầu, thản nhiên đánh bài: “Một người quan phụ mẫu uy nghi, chễm chệ ngồi.

 

Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên cầm quạt lông chốc chốc sẽ phẩy. Tên đứng khoanh tay trực hầu điếu đóm. Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn, tráp đồi mồi, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng và cơ man những vật dụng quý phái sang trọng khác”. Nhà văn đã dùng thủ pháp tương phản để đan xen hai hoàn cảnh: sự khốn khổ, điêu đứng của người dân và sự ung dung, an nhàn vô trách nát nhiệm của tên quan “phụ mẫu”.

 

Tác giả đã tạo ra hình huống mẩu chuyện hết sức tài tình và khéo léo,qua việc sử tạo ra hai khung cảnh hoàn toàn đối lập nhau để thấy rõ được những lỗ hổng của xã hội thời xưa. Điều đó càng làm cho mẩu chuyện trở thành kịch tính,người đọc dường như cảm thông cho số phận của người nông dân,cho những số phận địa vị cấp dưới. Đáng nhẽ người làm quan thì phải chăm sóc cho dân,quyên tâm dân đằng này họ chỉ biết mải mê với những ván bài.

 

Sự ích kỉ của bản thân, sự mải mê với những cuộc chơi trong khung cảnh ấy trong cả đến người đọc cũng đều có chút phẫn nộ thay chứ không phải nói tới bản thân tác giả.Ngay cả khi có người báo tin vỡ đê quan vẫn ngồi ung dung thản nhiên mặc ngoài tai,còn những viên quan nha lại cũng chỉ biết nịnh bợ,làm vui cho quan chứ không hề nhắc nhở lo sợ cho những số phận ngoài kia.

 

Câu chuyện không chỉ có dừng ở đó mà nó còn được đưa cao lên đỉnh điểm là khi lần thứ hai khi có người nhà quê chạy vào run rẩy báo: “Đê vỡ mất rồi”, quan phụ mẫu không những không lo lắng mà còn lớn tiếng quát: “Đê vỡ rồi, thời ông nhữngh cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày” rồi tiếp tục thản nhiên đánh bài! Vậy mới thấy rằng sự thờ ơ của quan lại với người dân là cực kì đáng trách nát.

 

Lại một lần nữa tác giả sử dụng phép tăng cấp để mô tả thái độ vô trách nát nhiệm của viên quan lại,nước càng dâng cao thì những ván bài của ông càng lúc kịch tính. Có lẽ sự u mê mù khoáng khiến cho những viên quan chỉ biết ăn không ngồi dồi này trở thành vô tâm đến vậy.

 

Đến khi đê bị vỡ hoàn toàn khiến cho nước sông tràn vào phía trong làm cho toàn bộ hoa màu, thú nuôi của người dân bị cuốn đi hết, tiếng than khóc vang lên khắp nơi thì cũng là khi quan ù những ván bài to nhất. Tên nô tài run rẩy báo cho quan thì bị quan nạt nộ:” ông bỏ tù chúng mày”. Mọi thứ bị đưa lên dần dần và rồi sau cuối, tức nước vỡ bờ, không thể gì rất có thể giữ lại được nữa.

 

Qua tác phẩm trên,tác giả đã cho ta thấy được cuộc sống khốn khổ của những người dân,họ đã phải chịu đựng những áp lực và cơ chế phân biệt của những viên quan lại vô thường không cảm xúc. Lên án cơ chế mục nát của xã hội phong kiến,tác phẩm như một lời tố cáo hết sức lớn lao mà người dân đã phải chịu đựng bao ngày tháng,để thấy được bộ mặt thật của cơ chế thời xưa. Thật cảm thông cho những số phận éo le đến vậy.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tích tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn số 10

“Sống chết mặc bay” là một tác phẩm nổi tiếng, làm nên tên tuổi của tác giả Phạm Duy Tốn. Đây là một tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán đầu những năm 20-30 của thế kỉ XX.

 

Truyện được đăng trên tạp chí Nam Phong số 18 tháng 12 năm 1918, là thể truyện ngắn hiện đại gây ấn tượng mạnh với người đọc ngay từ nhan đề của tác phẩm. Nhan đề “Sống chết mặc bay” đã gợi được sự mới lạ và trí tò mò của người đọc. Tác giả Phạm Duy Tốn đã rất sáng suốt khi sử dụng vế đầu của câu tục ngữ “Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” để làm nhan đề cho tác phẩm này.

 

Ý nghĩa của câu tục ngữ này đó là để ám chỉ đến những người chỉ biết hưởng lợi cho bản thân, ăn không ngồi rồi cũng mong có được lợi lộc. Đây là những người chỉ quyên tâm đến bản thân mình mà không lo đến sự sống chết của người khác. Những loại người này đáng bị toàn xã hội lên án vì thái độ sống vô trách nát nhiệm, ích kỷ của tớ. Nhan đề này đã góp phần phần không nhỏ tạo ra thành công của tác phẩm.

 

Tác phẩm tái hiện lại bối cảnh Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám cũng như hoàn cảnh của nhân dân lúc bấy giờ. Cụ thể là ở vùng nông thôn Việt Nam vào những năm 20 của thế kỉ XX. Truyện kể về một đêm mưa gió bão bùng trên một khúc đê bên sông Nhị Hà, hậu quả là bị vỡ đê khiến dân chúng nơi đây rơi vào hoàn cảnh nghìn cân treo sợi tóc.

 

Ấy thế mà, trong đình quan phụ mẫu vẫn ngồi ung dung chơi tổ tôm cùng những tên quan khác, không hề quyên tâm đến việc đê điều sắp vỡ và nỗi thống khổ của dân chúng. Những tên quan này để mặc cho dân chúng tự xoay sở, tự sinh tự diệt đúng như cái tên “Sống chết mặc bay”.

“Gần một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá, khúc đê làng…thuộc phủ… xem chừng đúng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lâu rồi, không khéo thì vỡ mất”. Bước vào đầu mẩu chuyện, tác giả mở ra cho người đọc không gian đêm khuya đầy tăm tối với cơn mưa bão cùng sự gấp gáp của con người cũng như cảnh vật bên sông Nhị Hà. Theo như cảm nhận của tác giả thì tình cảnh trông thật là thảm hại.

 

Ở một diễn biến khác, đối lập với tình cảnh ngoài đê thì “Trong phủ đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng” quan phụ mẫu cùng những tên quan khác ngồi đánh tổ tôm không quyên tâm thế sự xảy ra phía bên ngoài. Hai hình ảnh đối lập xuất hiện trong cùng một bối cảnh nhưng diễn biến lại không hề giống nhau.

Có thể nói tác giả Phạm Duy Tốn đã vận dụng rất tốt hai hình ảnh đối lập song song trong tác phẩm của tớ. Hai hình ảnh này khi tách nhau ra cũng không hề gì nhưng khi song song xuất hiện với nhau đã tạo được sự đối lập đầy thú vị. Ở phía bên ngoài đê, không gian tối tăm của đêm mưa bão, nhân dân là nhân vật chính đang chật vật chống chọi với sự tức giận của thiên nhiên.

 

Còn bên trong đình với đèn đuốc sáng trưng thì quan phụ mẫu là nhân vật chính đang ung dung, rảnh rỗi hưởng thụ không quyên tâm tới tình hình phía bên ngoài. Một bên là dân chúng, những người đang rất cần sự giúp đỡ của quan trên mà đáng lẽ ra họ – những người phải có trách nát nhiệm giúp đỡ người dân thì lại đang rảnh rỗi hưởng thụ, ăn chơi đàn điếu.

 

Dân chúng thì đang khó khăn giành giật sự sống, những tên quan lại thì coi như không phải việc của tớ chỉ quyên tâm đến ván bài trên tay đúng thật là nực cười. Thế mới thấy tình cảnh khốn khổ của người dân và sự ung dung, vô trách nát nhiệm của tên quan phụ mẫu đã tái hiện lại bối cảnh lúc bấy giờ của làng quê Việt Nam.

Qua lăng kính cùng ngòi bút sắc sảo của Phạm Duy Tốn, những tên quan lại đặc biệt là quan phụ mẫu đã lộ rõ thực chất thật là những người vô nhân đạo, không quyên tâm đến sự sống chết của người dân. “ Trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước trào lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết, kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không chỗ chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết!”. Khi quan sung sướng, cười hả hê thì cũng là lúc đê vỡ, nhân dân lầm than.

Bằng ngòi bút và lời văn sắc bén của tớ tác giả đã sử dụng thành công thủ pháp nghệ thuật tương phản đối lập và xây dựng thành công tình huống truyện. Tác phẩm là lời tố cáo gay gắt đối với tầng lớp thống trị cũng như cảm thông, thương xót với tình cảnh của quần chúng nhân dân lúc bấy giờ.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Đoạn văn chứng minh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Sống chết mặc bay

Được coi là một bông hoa đầu mùa của truyện ngắn hiện đại Việt Nam, tác phẩm “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn là truyện ngắn đặc sắc thể hiện rõ giá trị hiện thực và nhân đạo. Giá trị hiện thực của tác phấm thể hiện qua việc phản ánh cuộc chống chọi ác liệt với thiên tai của nhân dân lao động – những người nông dân quanh năm chân lấm tay bùn – trong khoảnh khắc họ phải đối mặt với sự sống mong manh, cực nhọc điêu linh. Trong khi đó bè lũ quan lại tiêu biểu là tên quan phủ lòng lang dạ thú vô tâm, vô trách nhiệm trước sự sống chết của nhân dân mình. Khi nước sông dâng lên thì hàng trăm con người đội đất, vác tre, bì bõm dưới bùn lầy, trong mưa gió để cô giữ lấy đê; trong khi đó, trong đình “quan phụ mẫu” uy nghi chễm chệ có lính gãi chân, có lính quạt hầu, thản nhiên đánh bài. Khi có người nhà quê chạy vào báo “Đê vỡ mất rồi” quan phụ mẫu quát: “Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày” rồi vẫn cứ thản nhiên đánh bài. Nhà văn cảm thông chia sẻ với cuộc sổng thê thảm của người dân trong cảnh hộ đê và cảnh điêu linh của dân sau khi đê vỡ. Bởi vậy, không dừng lại ở việc tố cáo, phê phán thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của bè lù quan lại, nhà văn còn bày tỏ lòng thương đối với những người nông dân nghèo hèn đơn thương độc mã trong cuộc chiến dữ dội với thiên tai. Và do đó, bên cạnh giá trị hiện thực, tác phẩm còn toát lên một tinh thần nhân đạo cao cả. Giá trị của tác phẩm đã hứa hẹn một bước phát triển mới của văn học Việt Nam.

Chứng minh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Sống chết mặc bay mẫu 1

Truyện ngắn Sống chết mặc bay của nhà văn Phạm Duy Tốn là một tác phẩm mang đậm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.

Trong tác phẩm, hình ảnh người dân nghèo oằn mình trong bão lũ, để chống lại thiên tai đã được khắc họa vô cùng sống động. Đó chính là cách mà suốt bao năm tháng qua người dân ta phải đối mặt với bão lũ. Năm nào cũng thế, mưa bão kéo nhau ồ ạt tiến vào đất liền gây mưa lớn, ngập lụt, sạt lở. Người dân phải dầm mưa lội nước củng cố đê điều, di tản người và tài sản đến nơi cao hơn. Và tất nhiên, nếu con đê mà vỡ thì đó sẽ là một điều vô cùng kinh khủng. Cảnh người dân ướt lướt thướt, kiệt quệ sức lực cố gắng chống chọi đến sức cùng lực kiệt thật đáng thương biết bao.

Nhưng càng đáng thương hơn nữa, chính là việc những người dân nhỏ bé ấy, phải chịu sự lãnh đạo, đàn áp của những bậc quan phụ mẫu vô lương tâm, độc ác, chỉ biết ăn chơi và hưởng lạc. Điều đó thể hiện rõ nét qua hình ảnh viên quan phụ mẫu. Trong khi người dân vật lộn khổ sở với mưa bão, thì hắn ta cùng binh lính, hầu cận, quan nhỏ ngồi trên đình cao khô ráo và ấm áp. Bọn chúng đánh tổ tôm, hút thuốc phiện rồi tâng bốc nhau, ca tụng nhau một cách vô liêm sỉ. Chúng căng thẳng, tập trung nhưng không phải để nghĩ cách cứu giúp người dân mà là để làm sao chiến thắng ván bài. Viên quan lớn cười to sung sướng khi người dân kêu gào tuyệt vọng vì đê vỡ lại vì đã ù một ván tổ tôm. Thật độc ác, táng tận lương tâm. Nhưng đó cũng chính là cái hiện thực tàn khốc mà nhân dân ta phải đối diện lúc bấy giờ. Họ phải gồng mình chống lại thiên tai và chịu đựng cả những quan lại xấu xa, tham lam.

Nhà văn Phạm Duy Tốn với bút pháp miêu tả chân thực, sắc nét đã tái hiện lại một hiện thực đáng buồn của nước ta. Từ đó, ông thể hiện tình yêu thương, thương cảm của mình với những người dân nghèo tội nghiệp. Ông ca ngợi sự kiên cường, dũng cảm của những người dân nhỏ bé đã bất chấp tất cả để củng cố con đê, kiên trì đến giờ phút cuối cùng. Ông thương xót cho những người dân làm lụng chắt bóp vất vả cả năm trời nay bị lũ cuốn trôi hết. Ông đau đớn thay cho những người nông dân thấp cổ bé họng, nay mất hết tài sản, nhà cửa đến cả tính mạng còn khó giữ được nhưng vẫn có nguy cơ bị bỏ tù bởi quan cha quan mẹ. Cũng từ đó, nhà văn thể hiện sự căm ghét, phê phán, lên án nặng nề tới những kẻ làm quan nhưng chẳng làm gì được cho đất nước, chẳng giúp đỡ được gì cho nhân dân, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc. Từ tác phẩm ấy, Phạm Duy Tốn là lan tỏa và đồng điệu với triệu triệu trái tim người đọc những cảm xúc ấy của mình.

Đó chính là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của truyện ngắn Sống chết mặc bay. Hai yếu tố này lồng ghép vào nhau, giúp nhau bộc lộ giá trị và nội dung của mình thêm sắc nét hơn.

Chứng minh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Sống chết mặc bay mẫu 2

Truyện ngắn Sống chết mặc bay của nhà văn Phạm Duy Tốn là một tác phẩm văn chương mang trong mình giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc.

Giá trị hiện thực của tác phẩm được thể hiện rõ nét qua khung cảnh những người dân nghèo đang gồng mình chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt. Nhà văn đã tái hiện lại vô cùng chân thực khung cảnh khốc liệt của những người dân nhỏ bé trước cơn giận giữ của đất nước. Người cuốc đất, người đội đất, kẻ vác tre để đắp lũy chặn dòng lũ dưới cơn mưa ào ào không ngơi nghỉ. Ai cũng mệt, cũng xơ xác, cũng ướt sũng và thấm dần sự tuyệt vọng khi cơn mưa ngày càng nặng hạt hơn. Sự vất vả, bất lực và khốn cùng của những người dân khi đối chọi với bão lũ ấy được truyền tải rõ nét qua từng câu văn. Và đối lập với đó chính là viên quan phụ mẫu và các nha lại ở trong đình. Chúng ngồi ở chỗ khô ráo, ấm cúng, chơi bài tổ tôm trong sung sướng, rồi cả ăn chè yến hấp đường phèn, hít thuốc phiện. Khung cảnh trụy lạc của sự hưởng thụ ấy hoàn toàn đối lập với khung cảnh tuyệt vọng của người dân ngoài kia. Sự lạnh lùng, vô tâm và độc ác của những kẻ cầm quyền ấy chính là một hiện thực chua xót của xã hội bây giờ. Mà tác giả đã lột tả một cách châm biếm về gương mặt giả dối, lòng dạ thối nát của chúng.

Từ hiện thực xã hội phũ phàng ấy, tác giả đã thể hiện sự thương xót, cảm thông cho số phận bất hạnh của những người nông dân bé nhỏ. Khi họ vừa phải chịu sự chà đạp, bóc lột của những kẻ cầm quyền độc ác, lại vừa phải chống chọi lại cơn mưa bão vô tình của tự nhiên. Tất cả đè nặng lên đôi vai gầy của những số phận hèn mọn, không một lối thoát. Cùng với đó, là sự căm phẫn, oán giận và lên án mạnh mẽ đối với những kẻ cầm quyền, những kẻ mang danh là quan cha quan mẹ nhưng lại hành xử lạnh lùng, độc ác. Chúng chỉ quan tâm đến bản thân, chỉ chăm chăm hưởng thụ mà không lo lắng cho người dân của mình. Đó chính là giá trị nhân đạo sâu sắc mà tác phẩm truyền đạt.

Có thể nói Sống chết mặc bay là một truyện ngắn vô cùng ý nghĩa và giá trị. Nó không chỉ giúp chúng ta thấu hiểu được tình cảnh bất lực, khốn khổ của người dân lúc bấy giờ. Mà còn gợi lên trong chúng ta những cảm xúc yêu thương cho những số phận ấy, cùng sự căm phẫn cho thế lực xấu xa, tàn bạo.

Hãy chứng minh giá trị nhân đạo của tác phẩm Sống chết mặc bay

Chứng minh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Sống chết mặc bay mẫu 3

Phạm Duy Tốn là một cây bút viết truyện ngắn xuất sắc nhất của những năm đầu thế kỷ XX. Một trong số những tác phẩm ông để lại, Sống chết mặc bay là truyện ngắn tiêu biểu hơn cả, nó được coi như một trong những tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán sau này. Trong Sống chết mặc bay, tác giả đã tái hiện khá sinh động bức tranh đối lập giữa đời sống khổ cực của nhân dân với cuộc sống phè phỡn xa hoa của lũ quan lại. Viết Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn đã mạnh mẽ tố cáo thói vô trách nhiệm của bọn quan lại đương thời.

Mở đầu tác phẩm, tác giả đã xây dựng một tình huống độc đáo được đặt trong sự đối lập gay gắt. Một bên là tình cảnh vô cùng nguy khốn của dân chúng: “Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đê thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất”. Tính mạng “con dân” cả vùng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Quang cảnh hàng trăm ngàn con người đang ra sức chống chọi lại với cơn lũ thật khẩn trương, vất vả. “Kẻ thì thuổng, người thì cuốc, người đội đất, kẻ vác tre”, “người nào người nấy lướt thướt như chuột lột”. Một bên là cảnh quan huyện “kẻ cha mẹ của dân” có trách nhiệm đốc thúc dân chúng bảo vệ đê thì lại đang chễm chệ trong đình “cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trong mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng chẳng việc gì”. Ngoài kia con dân đang chân lấm tay bùn, đem thân hèn yếu để chống chọi lại với sức nước thì trong đình “đèn thắp sáng trưng”, “nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ đi lại rộn rịp”. Dường như ngoài kia và trong này là cả hai thế giới khác biệt hoàn toàn. Nếu ngoài kia là thảm cảnh thì trong này là thú vui. Ngoài kia gấp gáp khẩn trương, trong này thong dong nhàn nhã. Cái náo loạn đặt bên cạnh cái yên ả. Trái với “con dân” đang “trăm lo ngàn sợ”, quan phụ mẫu “uy nghi chễm chện ngồi” như không hề hay biết đến tình trạng thảm thương của dân chúng. Dựng lên hai cảnh đối lập gay gắt đó, tác giả vạch trần thói vô trách nhiệm của bọn quan lại đương thời. Trong tình cảnh ấy, vô trách nhiệm chính là một tội ác.

Người đọc không thể tưởng tượng được trong tình thế nan nguy của tính mạng hàng ngàn người dân mà quan phụ mẫu vẫn điềm nhiên đánh bạc và hưởng lạc. Trong khi “sức người khó lòng địch nổi sức trời” thì bọn nha lại tay chân chỉ mải lo hầu bài quan.

Bản chất vô nhân đạo, lối sống “sống chết mặc bay” của tên quan huyện đã lộ rõ. Mưa gió và sinh mạng hàng ngàn con người không được quan chú ý bằng một trăm hai mươi lá bài. Không khí trong đình vẫn tĩnh mịch y trang, chỉ đôi khi nghe tiếng quan gọi “điếu mày”, tiếng “dạ”, tiếng “bốc”, “Bát sách! Ăn”, “Thất văn… phỗng”… Thú vui bài bạc, ma lực đỏ đen đã làm bọn quan lại đánh mất lương tri, nhân tính. “Nước sông dầu nguy không bằng nước bài cao thấp”, hình ảnh so sánh thể hiện sự táng tận lương tâm của lũ vô lại. Cuối cùng, đê vỡ. Quan đỏ mặt tía tai “đê vỡ rồi thời ông cách cổ *********”. Đoạn, lại bình thản quay mặt hỏi thầy đề: “Thầy bốc quân gì thế?”. Ván bài “ù to”. Quan sung sướng, cười hả hê, đắc chí và cũng chính lúc ấy “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết”…

Với việc sử dụng triệt để thủ pháp tương phản đối lập và nghệ thuật xây dựng tình huống truyện gay gắt; với giọng văn khi thiết tha xúc động, khi cay độc, mỉa mai,… Phạm Duy Tốn đã trực tiếp bày tỏ thái độ cảm thông sâu sắc của mình trước thảm cảnh của dân chúng và lòng căm uất phẫn nộ bọn quan lại phong kiến.

Chứng minh giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Sống chết mặc bay mẫu 4

Phạm Duy Tốn (1883 – 1924), nguyên quán làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây; sinh quán thôn Đông Thọ (nay là phố Hàng Dầu, Hà Nội), ông là một trong số ít người có thành tựu đầu tiên về thể loại truyện ngắn hiện đại. Và một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là Sống chết mặc bay.

Với hai bức tranh đời tương phản, tác giả đã phản ánh rõ nét toàn cảnh xã hội phong kiến thời xưa. Hai hình ảnh trái lập nhau đã làm càng tăng thêm ý nghĩa, lên án, tố cáo những kẻ cầm đầu độc ác, không biết quan tâm đến đời sống nhân dân hay nói đúng hơn là tên quan phủ – một viên quan vô trách nhiệm lòng lang dạ sói trong tác phẩm. Văn bản này vào đề bằng một hình ảnh hết sức căng thẳng, gay cấn, khó khăn. Đó là vào một giờ đêm, trời mưa tầm tã. Nước sông dâng cao đe doạ vỡ đê. Với công cụ thô sơ, những người dân chân lấm tay bùn với hàng nghìn tư thế khác nhau: người vác cuốc, người vác tre, kẻ bì bõm ướt như chuột lột cùng nhau gắng sức chống lại thiên tai, bão lụt. Hình ảnh muôn sầu nghìn thảm ấy làm bất cứ ai được đọc, được nghe đều không khỏi xót thương. Sự vất vả của người dân kéo dài tới mãi đêm khuya vẫn chưa chấm dứt. Tiếng hò, tiếng gọi, í ới, gấp gấp, sự căng thẳng ấy được bộc lộ qua nét mặt của từng người. Trước tình cảnh như vậy thì bất kì ai cũng đặt ra câu hỏi: Vậy trước thế cùng sức kiệt như vậy thì quan phụ mẫu, những người có chức quyền ở đâu. Thì ra những vị quan phụ mẫu đang hộ đê trong đình, một khung cảnh hoàn toàn trái ngược. Bầu không khí ấm áp không chút lo âu. Sự bình thản của mỗi người trên từng quân bài. Quan phụ mẫu đang hộ đê trong tư thế ung dung, nhàn hạ, tay cầm bát yến, ngồi khểnh vuốt râu. Sự oai phong của quan được thể hiện ở lời nói. Những tên xu nịnh vây quanh nịnh hót, quan thắng bài đó là niềm hạnh phúc. Từng khung cảnh cũng được đề cập đến trong văn bản càng bộc lộ rõ nét hơn. Than ôi! Xã hội phong kiến bất công biết bao. Bằng những ngôn từ, biện pháp tự sự, kết hợp với miêu tả, bình luận cùng với những cảm xúc chân thực, tác giả đã đưa người đọc vào trong cuộc sống bấy giờ, tái hiện lại những nghịch cảnh trớ trêu, lay động lòng người, đánh thức lên một nỗi niềm xót cảm. Không mảy may một chút vương lòng, những hình ảnh nhàn hạ, nào quan phủ, nào thầy lí, thầy đề, những tên cương hào, ác bá được lột tả dưới ngòi bút của tác giả. Với những ngôn từ bình dị, cổ xưa, tác giả đã gợi lên một khung cảnh chân thực. Hơn thế nữa, một loạt những nghệ thuật độc đáo được được sử dụng. Khi thời điểm tưởng chừng ngàn cân treo sợi tóc, văng vẳng từ xa tiếng người vào bẩm báo: “Dễ có khi đê vỡ”. Cảnh bình chân như vại của viên quan bằng lời nói: “Mặc kệ” khi đợi bài ù. Không chỉ vậy sự thách thức của hắn còn được bộc lộ bởi câu nói: “Đê có vỡ, nước có dâng lên cao thì cũng không lo đình sập, đình vỡ” Thật là nghịch chướng. Đó là phép tăng cấp rất độc đáo. Hay nghệ thuật tương phản cũng khá ấn tượng. Hai khung cảnh một trời một vực, một bên ung dung nhàn nhã, một bên gấp gáp lo âu. Sự tương phản này là mâu thuẫn quan điểm của hai lớp người trong xã hội xưa.

Có thể nói với sự khéo léo trong việc vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn hai biện pháp nghệ thuật cùng với ngôn từ chặt chẽ điêu luyện, phù hợp tương tác với nhau, bài văn đã rất thành công trong việc lột tả hai hình tượng đối lập. Đồng thời cũng lên án những tên quan phụ mẫu đại diện chính quyền lại vô trách nhiệm hay nói đúng hơn là lòng lang dạ sói cứ ung dung, thoải mái trong nhung lụa, hạnh phúc, bỏ mặc người dân trong cảnh lầm than, cơ cực. Hai bức tranh đời này mang đậm đà chất hiện thực và thắm đượm những cảm xúc nhân văn và gợi lên lòng đồng cảm nơi người đọc.

Từ khóa:

nhận định về tác phẩm sống chết mặc bay của phạm duy tốn có ý kiến cho rằng

có ý kiến cho rằng: trong truyện ngắn “sống chết mặc bay”, phạm duy tốn đã xây dựng thành công hai bức tranh đời tương phản. em hãy làm sáng tỏ.

sống chết mặc bay full

phạm duy tốn

chứng minh rằng truyện ngắn sống chết mặc bay giàu giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

khi đọc truyện ngắn sống chết mặc bay

thành công nhất về phương diện nghệ thuật của văn bản sống chết mặc bay là gì

trong truyện “sống chết mặc bay”, tác giả đã kết hợp khéo léo phép tương phản và tăng cấp để bộc lộ rõ nét tính cách của quan phụ mẫu. hãy phân tích.

Nguồn: toplistUSDLADIGI – Công ty dịch vụ SEO giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể, SEO website cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, tác dụng.

Scores: 4.74 (59 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn