Top 6 Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn lớp 10 hay nhất mới 2021

Top 6 Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn lớp 10 hay nhất

23-12-2020 6 173 0 0

Báo lỗi

Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm “Chính phụ ngâm” nguyên tác Đặng Trần Côn, bản diễn nôm: Đoàn Thị Điểm. Đoạn trích mô tả những cung bậc và sắc thái không giống nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Mời những bạn xem thêm một số bài soạn hay nhất mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết tiếp sau này.

123456

1


Bình An

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 1

I. LÍ THUYẾT TRỌNG TÂM
1.Tám câu đầu : Nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ
– Nỗi cô đơn thể hiện qua hành động một mình dạo hiên vắng, buông, cuốn rèm nhiều lần, mong tin vui mà “Ngoài rèm thước chẳng mách tin”.
– Nỗi cô đơn thể hiện qua sự đối bóng giữa người chinh phụ và ngọn đèn khuya ; vẫn chỉ là “Một mình mình biết, một mình mình hay”.
Hai khổ thơ đầu vẽ lên hình ảnh người chinh phụ lẻ loi ở mọi nơi, mọi lúc: lẻ loi trong căn phòng vắng, lẻ loi cả khi bước ra ngoài, lẻ loi ban ngày và lẻ loi, cô độc hơn trong cảnh đêm khuya… Người chinh phụ hết đứng lại ngồi, dạo quanh “hiên vắng”, “gieo” từng bước nặng nề, tấm rèm thưa hết buông xuống (rủ) lại cuốn lên (thác) nhiều lần, đặc biệt hình ảnh đối bóng với ngọn đèn trong căn phòng vắng đã cực tả cảnh lẻ loi, đơn chiếc. Hai khổ thơ kết thúc bằng một câu cảm thán với hai hình ảnh: “hoa đèn” và “bóng người”:
“Hoa đèn kia với bóng người khá thương !”

Có thể bạn quan tâm  Top 14 phim về ngày tận thế hấp dẫn nhất mọi thời đại mới 2021

2. Tám câu tiếp : Nỗi sầu muộn triền miên
Nỗi sầu muộn được thể hiện qua cảm nhận về thời giyên tâm lí. Người chinh phụ như đếm từng bước thời gian nặng nề trôi mà cảm nhận một khắc giờ “đằng đẵng như niên”.
Điều đó càng được tô đậm hơn bằng hai hình ảnh so sánh. “Khắc chờ đằng đẵng như niên” và “mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Một so sánh với chiều dài thời gian và một so sánh với chiều rộng không gian. Hai từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” càng như nối dài, mở rộng nỗi cô đơn sầu muộn đến muôn trùng.
– Tiếng gà gáy : tăng thêm ấn tượng đìu hiu, tịch mịch.
– Bóng cây hòe: cô đơn, hoang vắng.
– Để giải toả nỗi sầu, nàng cố tìm tới những thú vui như : soi gương, đốt hương, gảy đàn nhưng việc gì cũng chỉ là “gượng”. Sầu chẳng những không được giải toả mà còn nặng nề hơn.
Khổ thơ thứ tư diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây cô đơn nhưng không thoát nổi (gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy khúc “sắt cầm”), nước mắt cứ đầm đìa. Những chữ “gượng” thật nặng nề, nghe thật xót xa, tội nghiệp.

3. Tám câu cuối : Nỗi nhớ thương đau đáu
– Nỗi nhớ được thể hiện qua một khao khát cháy bỏng – gửi lòng mình đến non Yên- mong được ông xã thấu hiểu, sẻ chia. Mức độ của nỗi nhớ được gợi lên qua những từ láy thăm thẳm, đau đáu,…
– Hình ảnh thiên nhiên:
+ Non Yên, đường lên trời: vô tận, xa xôi, bát ngát
nỗi nhớ khôn nguôi.
+ Sương gió, mưa, tiếng côn trùng: lạnh lẽo, buồn nhớ, cô đơn.
+Từ láy: “thăm thẳm, đau đáu”
– Điệp ngữ bắc cầu: non Yên, trời thăm thẳm buồn nhớ triền miên, nối dài.
– Khao khát của nàng không được đền đáp vì sự xa nhữngh về không gian quá lớn (đường lên bằng trời).
Đề cao quyền sống, trân trọng khát vọng hạnh phúc lứa đôi của con người. (giá trị nhân đạo) gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

Có thể bạn quan tâm  Top 16 Mẹo Giúp Bạn Gia Tăng Doanh Số Bán Hàng Hiệu Quả Nhất


II. Trả lời câu hỏi sgk

Câu 1 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

– Ngọn đèn: Trong những đêm đơn lẻ, buồn khổ người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác sẻ chia ưu tư

– Chim thước: không tồn tại tin tức của người nơi biên viễn

– Trong rèm, ngoài rèm: không gian cô quạnh dàn trải mênh mông

– Thời gian: trôi người thiếu phụ rơi vào vô vọng và nỗi buồn mênh mang, cô đơn của con người.

– Tiếng gà: là âm thanh xuất hiện trong cái cô tịch của đêm

– Bóng cây hòe: gợi ra cảm giác hoang vắng, cô quạnh, bóng người sầu tê tái vì mong nhớ, khát khao

→ Nỗi cô đơn, buồn tủi chiếm lấy tâm trí người chinh phụ. Cảnh vật xung quanh dường như tô đậm hơn nỗi sầu kim cổ ấy.


Câu 2 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ:

– Người chinh phụ không lúc nào nguôi ngóng trông ông xã, nỗi nhớ, nỗi đau khổ ra mắt mọi nơi, mọi lúc

+ Nỗi nhớ ông xã dàn trải theo thời gian và không gian

+ Nhìn cảnh vật phản chiếu sự cô đơn, lẻ loi của bản thân

+ Nỗi cô đơn trùm lên ngoại cảnh, len vào sự vật, khiến nàng thốt lên lời sầu tủi

+ Người chinh phụ khát khao đoàn viên nhưng lại rơi vào vô vọng, xấu số

– Cuộc chiến tranh phi nghĩa đã chia rẽ tình vợ ông xã, gây ra thảm kịch cho người chinh phụ

Có thể bạn quan tâm  Top 10 Món ăn Giáng sinh (Noel) ngon và ý nghĩa nhất mới 2021

– Người chinh phụ không thể thiết tha với bản thân, mọi hành động chỉ là “gượng” trong đau khổ, buồn tủi.

Câu 3 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

Người chinh phụ buồn đau vô vọng:

– Lo lắng cho sự an nguy của ông xã nơi chiến trận

– Tuổi trẻ trôi qua trong hiu quạnh, hạnh phúc, tình yêu đôi lứa cũng mất theo

– Niềm tin vào cuộc sống mỏng manh, mờ nhạt

Câu 4 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

– Ngôn ngữ nhân vật, chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm, nửa trực tiếp (vừa là nhân vật, vừa của tác giả

– Nhân vật bộc lộ gián tiếp trải qua cảnh vật, sự bồn chồn trong hành động thấy nhân vật đang buồn da diết, oán trách rưới, than vãn cho hiện thực phũ phàng.

– Tâm trạng người chinh phụ thấy rõ sự vô vọng, vô vọng

Câu 5 (trang 88 sgk ngữ văn 10 tập 2):

Nhạc điệu thể thơ lục bát:

– Dồi dào, có cái chắc khỏe, réo rắt của thể thơ thất ngôn

– Sự du dương, mềm mại của thể lục bát

– Có thể nhận thấy qua khổ “trời thăm thẳm… tiếng trùng mưa phun”

LUYỆN TẬP

Các biện pháp nghệ thuật được mô tả trong đoạn thơ trên:

– Tả ngoại cảnh biểu lộ nội tâm

– Tả nội tâm qua ngoại hình

– Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ

Các tình huống thể hiện thú vui như:

– Được tham gia kì thi học viên giỏi toàn quốc

– Nhận được sự yêu mến của bè bạn, thầy cô

– Được tặng món quà yêu thích trong lần sinh nhật

Tình huống thể hiện nỗi buồn:

– Bị điểm kém

– Đánh mất đồ vật yêu quý

– Chia tay người thân, bè bạn tri kỷ quý

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 2

Câu 1 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Hiên vắng (không gian mênh mông, vắng lặng)

– Trong những đêm cô đơn, buồn hổ, người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác sẻ chia bao nỗi ưu tư. Nhà thơ tả ngọn đèn leo lét nhưng đúng là để tả không gian mênh mang và sự cô đơn trầm lặng của con người.

– Tiếng gà là âm thanh duy nhất trong đêm nhưng nó ngay lập tức bị chìm đi trong cái cô tich của đêm.

– Bóng cây hòe gợi ra thêm cảm giác hoang vắng và đáng sợ mà thôi.

=vàgt; Cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng.


Câu 2 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ là những hành động lặp đi lặp lại, ngồi rủ rèm chờ đón; thức cùng ngọn đèn leo lét trong đêm, hành động gượng gạo, chán chường.

– Trong đoạn trích này, hình ảnh người chinh phụ từng bước thầm lặng ngoài hiên vắng, và đặc biệt là hình ảnh con người ấy một mình ngồi với ngọn đèn trong phòng riêng vắng lặng là những dấu hiệu cực tả nỗi cô đơn trong cảnh lẻ lo của người chinh phụ.

– Từ ngữ trầm buồn : bi thiết, buồn rầu nói chẳng nên lời, đằng đẵng, mối sầu dằng dặc, hương gượng đốt, gương gượng soi, gượng gảy ngón đàn,… Cùng với câu hỏi tu từ : đèn biết chăng?


Câu 3 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Người chinh phụ buồn đau vô vọng, vì:

– Người chinh phụ càng khao khát đoàn viên, khao khát cuộc sống vợ ông xã bao nhiêu lại càng rơi vào tình cảnh vô vọng bấy nhiêu. Đó là thảm kịch khiến người chinh phụ đau khổ, xấu số.

– Nguyên nhân sâu xa dẫn đến nỗi đau khổ của người chinh phụ đúng là trận chiến tranh phi nghĩa.


Câu 4 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Trong đoạn trích, người chinh phụ hầu như không nói. Vì thế ngôn ngữ của nhân vật chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm hoặc là thứ ngôn ngữ kiểu nửa trực tiếp. Dù không trực tiếp bộc lộ tâm trạng của tớ qua lời nói nhưng trải qua cảnh vật và sự bồn chồn trong hành động.


Câu 5 (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Với thể thơ song thất lục bát, toàn bộ tiếng lòng sầu thương ai oán của người chinh phụ đã được tấu lên với giọng cao thấp, bổng trầm mà khó rất có thể thơ nào rất có thể diễn tả được như thế.

– Ngoài nhạc điệu vốn có của thể thơ song thất lục bát, giọng sầu thương bi thiết còn được tạo ra bởi nhữngh sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh có giá trị gợi tả nỗi buồn, tình cảnh lẻ loi; những từ láy cùng với biện pháp điệp từ ngữ, lối đối cũng góp một phần không nhỏ vào việc tạo ra giọng điệu sầu bi ấy.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 88 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

Các biện pháp nghệ thuật được mô tả trong đoạn thơ trên:

– Tả ngoại cảnh biểu lộ nội tâm

– Tả nội tâm qua ngoại hình

– Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ

HS cần vận dụng những biện pháp nghệ thuật trên một nhữngh linh hoạt. Nếu là tả tâm trạng vui thì toàn bộ đều phải ngược lại với tả tâm trạng buồn: ngoại cảnh sẽ tươi sáng, sinh động, tràn ngập màu sắc và ánh sáng, ngoại hình cũng như mọi cử chỉ, hành động phải tràn đầy sức sống, nhanh nhẹn, hoạt bát…

Bố cục

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (16 câu đầu): Nỗi cô đơn của người chinh phụ

– Phần 2 (còn sót lại): Nỗi thương nhớ ông xã nơi xa

Nội dung chính

Những cung bậc và sắc thái không giống nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 3

TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM

I. Tác giả

– Đặng Trần Côn ( vẫn chưa rõ năm sinh, năm mất) người làng Nhẫn Mục, tên nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành Phố Hà Nội, sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.

– Về sáng tác, ngoài tác phẩm đúng là Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán.

– Theo những tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ gia người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm.

II. Tác phẩm

– Chinh phụ ngâm là một trong tác phẩm xuất sắc nói về người phụ nữ xưa và trích đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đúng là điểm nhấn sâu sắc nhất để khắc họa hình ảnh người chinh phụ có ông xã đi chinh chiến.

– Chinh phụ ngâm, nguyên văn chữ Hán, do Đặng Trần Côn sáng tác, gồm 476 câu thơ làm theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn không đều nhau).

– Chinh phụ ngâm nói lên sự oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa, đặc biệt là thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi vốn ít được thơ văn những giai đoạn trước để ý.

– Khúc ngâm đã được dịch sang thơ Nôm (tức thơ tiếng Việt) và được truyền bá rộng rãi hơn.

– Bản Nôm hiện hành là bản dịch thành công nhất, dùng thể thơ song thất lục bát song vấn đề dịch giả của bản này vẫn vẫn chưa rõ.

– Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ thuộc bản dịch hiện hành, viết về tình cảnh và tâm trạng người chính phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người ông xã đi đánh trận, không tồn tại tin tức, không rõ ngày trở về.


ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1 – Trang 88 SGK

Phân tích diễn biến tâm trạng của người chinh phụ và nghệ thuật khắc hoạ tâm trạng của tác giả (Những dấu hiệu cho thấy sự cô đơn; ngôn ngữ của người chinh phụ và giá trị biểu cảm của nó; những yếu tố ngoại cảnh có tương quan với tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa sâu sắc diễn tả nội tâm của những yếu tố đó…).

Trả lời:

Hai khổ thơ đầu vẽ lên hình ảnh người chinh phụ lẻ loi ở mọi nơi, mọi lúc: lẻ loi trong căn phòng vắng, lẻ loi cả khi bước ra ngoài, lẻ loi ban ngày và lẻ loi, cô độc hơn trong cảnh đêm khuya. Người chinh phụ hết đứng lại ngồi, dạo quanh “hiên vắng”, “gieo” từng bước nặng nề, tấm rèm thưa hết buông xuống (rủ) lại cuộn lên (thác) nhiều lần, đặc biệt hình ảnh đối bóng với ngọn đèn trong căn phòng vắng đã cực tả cảnh lẻ loi, đơn chiếc. Hai khổ thơ kết thúc bằng một câu cảm thán với hai hình ảnh: “hoa đèn’’ và “bóng người”.

“Hoa đèn kia với bóng người khá thương”

Hai khổ thơ: khổ ba và bốn tiếp tục khắc họa diễn biến tâm trạng người chinh phụ. Tác giả xếp hai cảnh lẻ loi: đêm tối (Gà eo óc gáy sương năm trống) và ban ngày (Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên) cạnh nhau gợi cảnh lẻ loi, nỗi vô vọng triền miên, dằng dặc. Điều đó càng được tô đậm hơn bằng hai hình ảnh so sánh. “Khắc chờ đằng đẵng như niên” và “mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa”. Một so sánh với chiều dài thời gian và một so sánh với chiều rộng không gian. Hai từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” càng như nối dài, mở rộng nỗi cô đơn sầu muộn đến muôn trùng.

Khổ thơ thứ tư diễn tả những gắng gượng của người chinh phụ mong thoát khỏi vòng vây cô đơn nhưng không thoát nổi (gượng đốt hương, gượng soi gương, gượng gảy khúc “sắt cầm”), nước mắt cứ đầm đìa. Những chữ “gượng” thật nặng nề, nghe thật xót xa, tội nghiệp.

Bước sang khổ thơ thứ năm và sáu, tác giả đặt nhân vật trữ tình trong không gian có ý nghĩa sâu sắc phóng dụ “gió đông”, “non yên”, “đường lên bằng trời”… Tứ thơ toát ra khỏi căn phòng nhỏ hẹp, vươn ra không gian bát ngát, “thăm thẳm”. Những vần thơ “mênh mông vô tận như khối sầu tựa ngàn xưa” (Đặng Thai Mai). Thần sắc đoạn thơ triệu tập ở những từ láy “đằng đẵng”, “thăm thẳm”, “đau đáu”, “thiết tha”, nỗi nhớ vì thế có chiều dài, độ cao, độ sâu, có mệt mỏi héo mòn, có vời vợi mênh mang, có lo lắng day dứt và có cọ xát, cắt cứa đến đau đớn. Đoạn thơ diễn tả trực tiếp nội tâm nhân vật trữ tình. Cách điệp vần, điệp liên hoàn cộng hưởng với không gian và tâm trạng tạo âm hưởng lan toả triền miên, không dứt, nỗi buồn như ôm trùm cả vũ trụ khôn cùng…

Hai câu cuối đoạn mô tả cảnh cành cây ướt sũng sương đêm, tiếng côn trùng rên rỉ phun lên từ ruột đất. Người chinh phụ lọt thỏm vào đêm. Cảnh sương tuyết gió mưa buốt giá đồng hành với nỗi buốt giá lạnh lẽo của lòng người.


Câu 2 – Trang 88 SGK

Hãy cho biết vì sao người chinh phụ đau khổ?

Trả lời:

Đoạn trích diễn tả nỗi đau khổ tột đỉnh của người chinh phụ, đau khổ ở mọi nơi, mọi lúc, đau khổ trải ra trong không gian và dằng dặc theo thời gian. Nàng nhìn đâu cũng chỉ thấy tình cảnh lẻ loi của bản thân mình. Nỗi lạnh lẽo buốt giá từ cõi lòng người chinh phụ đã trùm lên ngoại cảnh, len lỏi vào những sự vật,… khiến nàng thốt lên những lời sầu tủi bi thiết. Nguyên nhân dẫn tới nỗi đau khổ của người chinh phụ thật dễ hiểu. Chồng nàng đi chinh chiến nơi chiến địa sa trường đã mấy mùa xuân bặt vô âm tín. Người chinh phụ đã phải chờ đón… chờ đón,…và chờ đón đến héo mòn tuổi xuân, tưởng có những lúc vô vọng hoàn toàn. Người chinh phụ càng khao khát đoàn viên, khao khát cuộc sống vợ ông xã bao nhiêu lại càng rơi vào tình cảnh vô vọng bấy nhiêu. Đó là thảm kịch khiến người chinh phụ đau khổ, xấu số.

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến nỗi đau khổ của người chinh phụ đúng là trận chiến tranh phi nghĩa mà vì nó vợ ông xã nàng phải xa nhau, ông xã “dãi thây trăm họ nên công một người” đã làm cho bao gia đình tan nát, bao tổ ấm trở thành lạnh lẽo. Bi kịch của người chinh phụ, vì thế là thảm kịch có ý nghĩa sâu sắc tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa một nhữngh mạnh mẽ, đồng thời qua đó cũng toát lên tiếng nói nhân đạo lớn lao của tác phẩm.

Câu 3 – Trang 88 SGK

Xác định những câu thơ là lời nói của người chinh phụ và cho biết giá trị biểu lộ của nó.

Trả lời:

Lời nói của người chinh phụ được thể hiện qua những câu thơ sau:

– Đèn có biết dường bằng chẳng biết

– Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

– Lòng này gửi gió đông có tiện

– … Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.

Việc đưa những lời trực tiếp vì vậy làm cho lời văn trở thành sinh động hơn và góp phần làm nổi trội thảm kịch tinh thần của người chinh phụ.

Câu 4 – Trang 88 SGK

Đọc diễn cảm đoạn trích (nếu ngâm được càng tốt). Hãy nhận xét về nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát (có so sánh với những thể thơ mà anh (chị) biết).

Trả lời:

Thể thơ song thất lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc ta. Bản thân nhữngh cấu trúc câu thơ và vần luật của nó cũng đã tạo ra một thứ nhạc điệu lên bổng xuống trầm một nhữngh linh hoạt, có khả năng diễn tả tài tình những cung bậc không giống nhau của tâm trạng con người, Phan Huy Thực cũng đã dịch Tì bà hành của Bạch Cư Dị sang thể thơ này. Nguyễn Du dùng thể thơ này để khóc cho “thập loại chúng sinh” trong Văn chiêu hồn…

Chinh phụ ngâm là khúc ngâm dài (diễn tả mọi cung bậc của nỗi buồn triền miên ở người chinh phụ. Nguyên tác của Đặng Trần Côn được viết bằng chữ Hán, theo thể đoản trường cú (câu ngắn, câu dài xen nhau). Người dịch giả tài hoa Đoàn Thị Điểm – với một nỗi cảm thông kì lạ với nỗi lòng người chinh phụ đã dịch tác phẩm của Đặng Trần Côn sang bản chữ Nôm với thể thơ song thất lục bát cực kì đắc địa. Có thể nói, chính nội dung tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình và sự đồng cảm cao độ của người nghệ sĩ đã bắt gập thể thơ song thất lục bát như một định mệnh để rồi toàn bộ tiếng lòng sầu thương ai oán của người chinh phụ đã được tấu lên với giọng cao thấp, bổng trầm mà khó rất có thể thơ nào rất có thể diễn tả được như thế.

Nếu khúc ngâm được viết bằng thể thơ khác thì chắc chắn tác dụng diễn đạt sẽ không bằng thể song thất lục bát. Gần hơn cả với thể thơ này là thể thơ lục bát. Truyện Kiều của Nguyễn Du được viết bằng thể thơ này vì đó là một tiểu thuyết bằng thơ. Chinh phụ ngâm là một khúc ngâm có tính “độc diễn” tâm trạng. Nếu sử dụng thể thơ lục bát sẽ không tránh khỏi giọng đều đều bằng phẳng. Thể song thất lục bát đã khắc phục được điều đó.

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ngoài nhạc điệu vốn có của thể thơ song thất lục bát, giọng sầu thương bi thiết còn được tạo ra bởi nhữngh sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh có giá trị gợi tả nỗi buồn, tình cảnh lẻ loi; những từ láy cùng với biện pháp điệp từ ngữ, lối đối cũng góp một phần không nhỏ vào việc tạo ra giọng điệu sầu bi ấy.


LUYỆN TẬP

Câu hỏi: Hãy vận dụng những biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoan trích để viết một đoạn văn (hoặc thơ) ngắn mô tả một nỗi nhớ hay thú vui của bản thân anh (chị).

Gợi ý:

Đoạn trích Tình cánh lẻ loi của người chinh phụ khắc họa tâm trạng buồn. Bài tập gợi mở cho người viết rất có thể khắc họa tâm trạng trong đoạn trích. Nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích rất có thể khái quát thành những ý cơ bản sau:

– Tả ngoại cảnh để biểu lộ nội tâm

– Tả nội tâm qua ngoại hình

– Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ

Học sinh cần vận dụng những biện pháp nghệ thuật trên một nhữngh linh hoạt. Nếu là tả tâm trạng vui thì toàn bộ đều phải ngược lại với tả tâm trạng buồn: ngoại cảnh sẽ tươi sáng, sinh động, tràn ngập màu sắc và ánh sáng, ngoại hình cũng như mọi cử chỉ, hành động phải tràn đầy sức sống, nhanh nhẹn, hoạt bát…

Ví dụ minh họa:

Tôi sung sướng hết đứng lại ngồi. Tôi chạy lại tủ sách, nhìn và thầm cảm ơn những cuốn sách đã giúp tôi thành công. Tôi chạy vội ra sân để ngắm nhìn một chân trời mới đang rộng mở đối với tôi. Tôi chạy vội sang nhà Nam báo cho bạn biết. Tôi sang nhà dì Hoa để khoe và lấy phần thưởng dì đã hứa cho tôi trước ngày thi. Tôi không thể nào ngồi yên được một chỗ…

GHI NHỚ

Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ mô tả những cung bậc và sắc thái không giống nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 4

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn
Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm
2. Tác phẩm

* Thể thơ: song thất lục bát

* Bố cục: Văn bản rất có thể được chia làm 2 phần:

Phần 1: 16 câu thơ đầu: Nỗi cô đơn của người chinh phụ
Phần 2: 8 câu cuối: Nỗi nhớ thương của người chinh phụ với người ông xã nơi xa.


II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Các yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ:

Hiên vắng: gợi ra một không gian mênh mang, vắng lặng
Ngọn đèn: chỉ thời gian là đêm khuya
Ban đêm tiếng gà eo óc, ban ngày hòe phất phơ
=vàgt; Ý nghĩa diễn tả nội tâm của những yếu tố trên: cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng, hay nói khác đi là cảnh vật như tô đậm thêm nỗi cô đơn, lẻ bóng của người chinh phụ.


Câu 2:

Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ:

Không gian, thời gian, hành động cứ lặp đi lặp lại trong hiên vắng, ngồi rủ rèm chờ đón
Thức cùng ngọn đèn leo lắt trong đêm, hành động trở thành gượng gạo, chán chường
Từ ngữ ra mắt trầm buồn: bi thiết, buồn rầu nói chẳng nên lời, đằng đẵng, mối sầu dằng dặc, hương gượng đốt, gương gượng soi, gượng gảy ngón đàn,… Cùng với đó là câu hỏi tu từ: đèn biết chăng?
=vàgt; Nỗi cô đơn ghê gớm bủa vây lấy người chinh phụ.

Câu 3:

Người chinh phụ đau khổ chính vì:

Chồng của nàng đã đi chinh chiến trên sa trường đã mấy năm, nàng chỉ biết chờ đón và lo lắng cho sự an nguy của ông xã.
Tuổi trẻ của nàng đang trôi qua vội vã và vô nghĩa, niềm tin vào cuộc sống của nàng đang dần mỏng manh và mờ nhạt hơn.
Tất cả những buồn đau mà người chinh phụ phải chịu đựng xuất phát từ nguyên nhân sâu xa đúng là trận chiến tranh phi nghĩa khiến cho vợ ông xã nàng phải chia nhữngh.

Câu 4:

* Những câu thơ là lời của người chinh phụ:

Trong đoạn thơ, người chinh phụ hầu như không nói, ngôn ngữ nhân vật chủ yếu là ngôn ngữ nội tâm hoặc là ngôn ngữ nửa trực tiếp (vừa nhân vật vừa tác giả):

Đèn có biết… bi thiết mà thôi.
Lòng này gửi gió đông… đau đáu nào xong.
* Giá trị biểu lộ của những câu thơ đó: giúp cho lời văn trở thành sinh động, góp phần làm nổi trội tâm trạng đau buồn da diết, than vãn hiện thực của người chinh phụ.

Câu 5:

Nhạc điệu của thể thơ song thất lục bát: dồi dào, lên bổng xuống trầm linh hoạt, vừa chắc khỏe, réo rắt của thể thơ thất ngôn, vừa có sự du dương, mềm mại của thể lục bát.

III, Luyện tập
Các biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích rất có thể sử dụng để mô tả nỗi buồn hay thú vui của bản thân :
Tả ngoại cảnh để biểu lộ nội tâm.
Tả nội tâm qua ngoại hình.
Tả nội tâm qua hành động, cử chỉ, điệu bộ và từ ngữ mang sắc thái chỉ tâm trạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 5

I. Đôi nét về tác giả
– Đặng Trần Côn hiện vẫn chưa rõ năm sinh, năm mất
– Quê quán: làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành Phố Hà Nội
– Ông sống vào khoảng nửa dầu thế kỉ XVIII
– Sáng tác: Ngoài sáng tác đúng là tác phẩm Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán

II. Đôi nét về tác phẩm Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)
1. Tác phẩm Chinh phụ ngâm
a) Hoàn cảnh phát hành
Đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”
b) Giá trị nội dung và nghệ thuật
– Giá trị nội dung
+ Là tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa
+ Thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi
– Giá trị nghệ thuật
+ Thể thơ: trường đoản cú (nguyên tác), song thất lục bát (bản dịch)
+ Hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng
+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
+ Bản dịch đã đưa ngôn ngữ dân tộc lên một tầm cao mới, phong phú, uyển chuyển
2. Vị trí đoạn trích
Đoạn trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm
3. Bố cục (2 phần)
– Phần 1 (16 câu đầu): Nỗi cô đơn của người chinh phụ
– Phần 2 (còn sót lại): Nỗi thương nhớ ông xã nơi xa
4. Giá trị nội dung
Đoạn trích mô tả những cung bậc và sắc thái không giống nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.
5. Giá trị nghệ thuật
– Miêu tả tâm lí nhân vật (tả cảnh ngụ tình, độc thoại nội tâm…
– Các biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, so sánh, từ láy, câu hỏi tu từ…


III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1

Sống trong cảnh xa nhữngh người chinh phu (người ông xã đi trận), người chinh phụ đau khổ vì cô đơn, vì mong muốn tha thiết được sống trong tình yêu lứa đôi, nhưng người ông xã cứ mãi xa vắng biền biệt, lúc này người chinh phụ chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn là vật thể vô tri vô giác.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,

Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.

Buồn rầu nói chẳng nên lòi,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Ở đây nhà thơ mượn hình ảnh đèn để nói lên cái không gian mênh mông và cái cô đơn của người chinh phụ. Trong thơ xưa, biện pháp đêm tàn đối bóng này sử dụng khá phổ biến.

Ngoài ngọn đèn còn có tiếng gà eo óc gáy khuya:

Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hòe phất phơ rủ hóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.

Mượn tiếng gà gáy, nhà thơ nhằm làm ngày càng tăng thêm ấn tượng quạnh hiu đìu hiu. Bóng cây hòe trong đêm cũng gợi được cảm giác hoang vắng khôn cùng thật đáng sợ.

Câu 2

Những dấu hiệu cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ là những hành động lặp đi lặp lại, những hành động ra mắt trong phòng khuê: “Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”.

Người chinh phụ hết rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại trong hiên vắng như để đợi chờ nhưng không nhận được một tin lành nào cả. Chỉ có ngọn đèn là bạn duy nhất.

Người chinh phụ lại gượng đốt hương, lại gượng soi gương:

Hương gượng đốt hồn đà mê mải

Gương gượng soi lệ lại chứa chan.

Mong tìm được sự thanh thản nhờ làn hương gượng nhưng tâm hồn lại như mê man. Gượng soi gương để trang điểm nhưng nhìn thấy qua gương dáng vẻ tiều tụy xộc xệch thì lệ lại ứa ra. Gượng gảy đàn sắt cầm vì không thấy thích hợp, nhất là sợ dây đàn bị chùng hay đứt, vì theo cố nhân đó điềm gở chẳng tốt chút nào.

Trong đoạn trích này, hình ảnh người chinh phụ từng bước thầm lặng ngoài hiên vắng, và đặc biệt là hình ảnh con người ấy một mình ngồi với ngọn đèn trong phòng riêng vắng lặng là những dấu hiệu cực tả nỗi cô đơn trong cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Câu 3

Ngôn ngữ của người chinh phụ trong đoạn trích trên là giọng điệu than thở, than vãn, oán trách rưới.

Đoạn thơ song thất lục bát – thể thơ thích hợp với việc diễn tả nội tâm đau khổ sầu muộn của con người, đúng là lời than trực tiếp của nhân vật trữ tình, ở đây là người chinh phụ, càng khiến cho hoàn cảnh thảm kịch của người chinh phụ thêm đậm nét và có tính chất khách quan.

Câu 4

Người chinh phụ đau khổ vì cô đơn, phải sống trong cảnh xa nhữngh ông xã, người ông xã đi trận. Hơn thế nữa, người chinh phụ đau khổ vì mong muốn tha thiết được sống trong hạnh phúc tình yêu lứa đôi nhưng người ông xã thì cứ xa vắng biền biệt…

Ý nghĩa chống chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã toát lên một khách quan chính từ thảm kịch này.

Câu 5

Thể thơ song thất lục bát có cấu trúc khá đặc biệt là đối xứng ở hai câu thất, tiêu đối ở cchâu âu và câu bát. Thể thơ này có vần chân (cước vận) lẫn vần lưng (yêu vận), nên đã tạo thành nhạc điệu dồi dào phong phú rất thích hợp với việc diễn tả, việc thể hiện nội tâm buồn bã, đau đớn với những âm điệu sầu thương, oán trách rưới thở than.

Vì vậy bản dịch Chinh phụ ngâm hiện lưu hành dùng thể song thất lục bát là rất thích hợp và đúng điệu.

II. Luyện tập
Để rất có thể viết được đoạn văn hay đoạn thơ mô tả một thú vui hay nỗi buồn của bản thân mình cần đọc xem thêm kĩ những đoạn thơ có sử dụng biện pháp nghệ thuật mô tả nội tâm trong sách này để nắm vững đặc trưng của nghệ thuật. Sau khi nắm được nhữngh thức, cần định hướng nội dung của đoạn văn (ví dụ thú vui khi được đặt chân vào trường PTTH, nỗi buồn khi một người thân qua đời hay khi phải chia tay một người bạn tri kỷ vì bạn chuyển đến ngôi trường mới, …), lập ý và lựa lựa nhữngh trình diễn rồi mới tiến hành công việc viết. Sau khi viết xong, cần đối chiếu lại với yêu cầu xem đoạn văn (đoạn thơ).

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” số 6

A- KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả:

Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn

Là người làng Nhân Mục, huyện Thanh trì, thành phố Thành Phố Hà Nội
Ông sống vào những năm đầu thế kỉ XVIII
Ông là một người tài hoa và thông minh tuy nhiên lại không thích thi cử cho nên ông đã không đi thi
Tác phẩm tiêu biểu của ông đúng là Chinh phụ ngâm khúc
Bản diễn chữ Nôm:

Phan Huy Ích (1750 – 1822): Quê ở Thiên Lộc thành phố Nghệ An, năm 26 tuổi ông đỗ tiến sỹ, tác phẩm tiêu biểu như Dụ Am văn tập, dụ am ngâm lục
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748): Quê ở Văn Giang Kinh bắc nay thuộc tỉnh Hưng Yên, bà là người phụ nữ vừa tài năng vừa có sắc, tác phẩm tiêu biểu: dịch bản chinh phụ ngâm, truyền kì tấn phả


2. Tác phẩm:

Hoàn cảnh sáng tác: được viết vào những năm 40 của thế kỉ XVIII, dịch giả đã có sự sáng tạo khi dịch bản ngâm khúc chữ hán theo thể ngâm khúc, thể trường đoản cú thành thể thơ song thất lục bát
Vị trí đoạn trích: từ câu 193 đến 216
Nội dung: Đoạn trích mô tả những cung bậc và sắc thái không giống nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2

Hãy chỉ ra những yếu tố ngoại cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa sâu sắc diễn tả nội tâm của những yêu tố đó

Bài làm:
Các yếu tố ngoại cảnh:
Ngọn đèn: Trong những đêm cô đơn, buồn khổ người thiếu phụ chỉ có ngọn đèn vô tri vô giác sẻ chia bao nỗi ưu tư. Đêm đêm, người thiếu phụ ngồi bên ngọn đèn mong ngóng, nhớ nhung, sầu muộn cho đền khi cái bấc đèn cháy rụi thành than hồng rực như hoa. Thời gian cứ thế trôi qua trong nỗi vô vọng của người thiếu phụ. Nhà thơ tả ngọn đèn leo lét nhưng đúng là để tả không gian mênh mang và sự cô đơn trầm lặng của con người và khao khát được đồng cảm sẻ chia nỗi lòng của tớ.
Tiếng gà: Tiếng gà là âm thanh duy nhất trong đêm, phá vỡ sự tĩnh mịch của cảnh đêm nhưng nó ngay lập tức bị chìm đi trong cái cô tịch của đêm.
Bóng cây hòe: gợi ra thêm cảm giác hoang vắng và đáng sợ mà thôi. Cảnh vật quạnh hiu bởi lòng người đang sầu đau tê tái vì nỗi nhớ mong và sự khát khao hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng.

Câu 2: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Theo ông chị những dấu hiệu nào cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ? Hãy cho biết vì sao người chinh phụ lại đau khổ
Bài làm:
Dấu hiệu thể hiện sự cô đơn của người chinh phụ là:
Người chinh phụ ngày ngày không lúc nào nguôi ngóng trông ông xã (rủ rèm rồi lại cuốn rèm, đi đi lại lại trong hiên vắng để chờ đón một tin tốt lành nào đó báo người ông xã sắp về) nhưng vẫn bặt tin.
Đêm đêm, nàng lại thức cùng ngọn đèn leo lét với màn đêm hoang vắng và cô tịch trong sự đợi mong đến tiều tụy.
Vì quá buồn đau, người chinh phụ cũng chẳng thiết tha gì với bản thân mình (hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gảy).

Câu 3: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Hãy cho biết vì sao người chinh phụ gian khổ
Bài làm:
Người chinh phụ buồn đau vô vọng, đau khổ vì:
Lo lắng cho sự an nguy của người ông xã nơi chiến trận không biết rằng ông xã mình có bình an trở về không
Tuổi trẻ qua đi vội vã (hạnh phúc và tình yêu cũng sẽ mất theo – khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi).
Niềm tin vào cuộc sống tương lai mỏng manh và mờ nhạt.

Câu 4*: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Xác định những câu thơ là lời thơ của người chinh phụ cho biết giá trị biểu lộ của nó
Bài làm:
Trong đoạn trích hầu như không tồn tại lời nói của nhân vật mà chỉ có lời bộc bạch nội tâm nhân vật. Dù không trực tiếp bộc lộ tâm trạng của tớ qua lời nói nhưng trải qua cảnh vật và sự bồn chồn trong hành động, rất có thể nhân vật đang buồn đau da diết, oán trách rưới, than vãn cho hiện thực phũ phàng. Tâm trạng của người chinh phụ hiện rõ sự vô vọng và vô vọng.

Câu 5: trang 88 sgk Ngữ văn 10 tập 2
Đọc diễn cảm đoạn trích( nếu ngâm được càng tốt). Hãy nhận xét về nhạc điêu của thể thơ song thất lục bát( có so sánh với những thể thơ mà anh ( chị) biết)
Bài làm:
Nhạc điệu thể thơ: dồi dào, vừa có cái chắc khỏe, réo rắt của thể thơ thất ngôn, vừa có được sự du dương, mềm mại của thể thơ lục bát tạo lên sự khác lạ đối với những thể thơ của những bài thơ khác

III- LUYỆN TẬP
Hãy vận dụng những biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích để viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh.
Bài làm:
Tôi còn nhớ mãi ngày hôm đó, ngày tôi nhận được kết quả thông báo tôi đỗ THPT. Cầm kết quả trên tay tôi như không tin nỗi bào mắt mình, thầm nghĩ :” Mình có nằm mơ không, thật không thể tin nổi”. Tôi đỗ vào ngôi trường chuyên với số điểm cao hơn mong đợi. Tôi vỡ òa hạnh phúc. Tôi sung sướng hết đứng lại ngồi. Tôi chạy vội ra sân để ngắm nhìn một chân trời mới đang rộng mở đối với tôi. Không kìm nén được hạnh phúc, tôi chạy tìm mẹ, tôi sung sướng đưa kết quả điểm thi cho mẹ tôi. Mẹ nhìn kết quả của tôi cười và nói với tôi rằng mẹ tôi rất tự hào về tôi. Ngày hôm đó là ngày tôi hạnh phúc, hạnh phúc vui mừng vì chính thành quả cực nhọc bao ngày của tôi nay đã được đền đáp xứng đáng. Đúng là có công mài sắt có ngày nên kim

Đề bài: Giá trị nội dung và nghệ thuật của Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
Bài làm:
Giá trị nội dung
Tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ phải sống cô đơn, buồn khổ trong thời gian dài người ông xã đi đánh trận, không tồn tại tin tức, không rõ ngày trở về. Nỗi buồn ấy là sự vô vọng, khắc khoải của người phụ nữ, dù biết chắc ông xã sẽ khó rất có thể quay về nhưng trong thâm tâm vẫn mong muốn. Hi vọng càng lớn thì vô vọng càng đau đớn, quằn quại.
Đoạn trích cũng mô tả những cung bậc và sắc thái không giống nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Khao khát ấy đã bị chính xã hội phong kiến thối nát, đồi bại vùi dập, chà đạp.
Giá trị nghệ thuật:
Thể thơ song thất lục bát – thể thơ do người Việt sáng tạo, rất giàu nhạc tính thích hợp với việc bộc bạch, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích
Đồng thời, hệ thống những từ láy phối hợp với lối thơ vắt dòng và biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở thành nặng trĩu tâm trạng, mở ra một một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 6 Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn lớp 10 hay nhất, Top 6 Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn lớp 10 hay nhất, Top 6 Bài soạn “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” của Đặng Trần Côn lớp 10 hay nhất

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể, SEO website cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, tác dụng.

Nguồn: toplistUSD

Scores: 4.8 (90 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn




    Mã giảm giá
    SHOPEE 100K