Top 9 Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng mới 2021

Top 9 Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng

01-02-2021 9 41 0 0

Báo lỗi

Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) là nhà văn chủ chốt của nền văn học Việt Nam. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996. Vở kịch “Bắc Sơn” được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác và đưa lên sân khấu vào đầu xuân năm mới 1946 trong không khí sôi sục của những năm đầu nhữngh mạng. Đoạn trích trong sách giáo khoa thể hiện những xung đột ra mắt trong nội tâm nhân vật Thơm, thúc đẩy diễn biến tâm trạng nhân vật để đi tới bước ngoặt quan trọng, làm nổi trội vẻ đẹp và sự chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Thơm. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài văn phân tích đoạn trích mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

123456789

1


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 1

Chủ đề nhữngh mạng in đậm trong kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng. Xung đột kịch thể hiện triệu tập trong hồi IV đã dựng nên một hình tượng bi tráng về người phụ nữ dân tộc Tày, tiêu biểu cho hàng nghìn, hàng vạn quần chúng được giác ngộ trong đấu tranh, trong mất mát đau thương đã đứng hẳn về phía nhữngh mạng.

Ta hoàn toàn có thể lấy câu nói này của Thơm để làm nhan đề cho hồi IV kịch Bắc Sơn: “Tôi chết thì chết, chứ tôi không báo hai ông đâu”. Sự việc ra mắt, xung đột kịch nổ ra tận nơi vợ anh xã Ngọc, có đủ bốn nhân vật: Ngọc, Thơm, Thái, Cửu.Ngọc dẫn Tây truy đuổi sắp bắt được hai cán bộ nhữngh mạng là anh Cửu và giáo Thái. Bị dồn nguy kịch, Cửu dẫn Thái chạy trốn vào trong nhà anh Điếc người quen, ai ngờ đó là nhà Ngọc mới tậu được. cửu rút súng toan bắn Thơm vì anh cho rằng: “Vợ Việt gian thì cũng tù Việt gian”. Nhưng Thái đã giữ tay lại và bảo: “đừng bắn”, vì anh tin rằng Thơm mang “dòng máu cụ Phương”, đó là dòng máu yêu nước, nhữngh mạng. Khi tiếng chó sủa râm ran, tiếng người chạy rầm rập, Cửu vừa vô vọng vừa hối hận, lo lắng thì Thơm đã nói như thề: “Chết nỗi, hai ông bị chúng nó đuổi phải không ? Làm thế nào lúc này?. Tôi không bảo hai ông đâu. Tôi chết thì chết, chứ tôi không bảo hai ông đâu”.

Ngọc dẫn Tây đi khám nhà bà Lục, nhà bác Chui. Tiếng chân đi, tiếng gậy lộc cộc càng gần. Thái và Cửu định chạy ra thì Thơm đã ngăn lại, đẩy hai cán bộ vào buồng và nói: “Có lối thông ra ngoài đấy, khép cửa buồng lại’’.Tình huống này đầy kịch tính, căng thẳng, hồi hộp. Vợ Việt gian đã che giấu, bảo vệ cán bộ nhữngh mạng. Thơm đã đứng hẳn về phía nhữngh mạng. Đó là thực sự thể hiện tấm lòng của nhân dân đối với nhữngh mạng.Bình diện thứ hai là xung đột giữa Thơm và Ngọc. Ngọc mỗi ngày một lộ nguyên hình một con chó săn đắc lực cho bọn Tây. Đêm nào hắn cũng đi suốt đêm, tay cầm đèn bấm và gậy gộc để lùng bắt cán bộ. Lời đồn đến tai Thơm: “anh thằng Sáng dắt Tây vào đánh Vũ Lăng”.

Ngọc có nhiều tiền. Hắn mơ cái hàm cửu phẩm. Hắn tự than thân: “Chỉ mình là đen, không tồn tại danh phận gì, lép vế trong làng quá!”. Ông Thái, đối với Thơm, là một người rất tốt: “bỏ cả cửa nhà đi làm nhữngh mạng”, “cả vùng này, có ai ghét ông ấy đâu!”. Trái lại, lúc thì Ngọc bịa đặt vu khống ông Thái là: “mật thám cho Tây đấy “, lúc thì lại bảo, anh Cửu và ông Thái là “hai cái thằng tướng cướp. Bắt được hai thằng ấy thì cũng được vài Nghìn đồng”… Hắn đi suốt đêm, hắn đi lùng sục bắt ông Thái, bắt anh Cửu nộp cho Tây là để được thưởng nhiều tiền mà mua nhà, mà tậu mấy mẫu ruộng nữa, mà chạy cái hàm cửu phẩm, mà ăn khao một chuyến “thế mới thích”!

Trong lúc ông Thái, anh cửu đang trốn trong buồng nhà Thơm thì ở dưới chân cầu thang lại có lí trưởng, bọn tay sai, bọn lính Tây đang lùng sục, đang chờ Ngọc. Ngọc đi đi về về. Hắn cứ ngồi nán lại mải nói với Thơm đủ chuyện, hắn đếm tiền, hay tính toán, hắn cười, ngắm vợ. Có lúc nó thốt lên: “Chắc là nó còn ở đấy, nhất định là nó còn ở đấy!…”. Thơm nhìn trộm anh xã, cực kì sốt ruột nhưng chị đã khéo dấu kín tâm trạng lo lắng của tớ. Thơm ăn nói nhẹ nhàng, tình cảm lúc thì nhắc anh xã: “Mai thì ở nhà mà ngủ cho nó lại sức”, lúc thì giục giã: “Thế nào có đi không?”. Lúc Ngọc nghe tiếng quan gọi, chạy ra khỏi nhà thì Thơm thở dài, khoan khoái nhìn theo phía Ngọc ra, mỉm cười, thầm nghĩ: “May thế!”. Đúng là Thơm đóng kịch giỏi, đã qua mắt được tên Việt gian, mà tên Việt gian ấy lại là anh xã mình.

Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện một tính nhữngh tinh ý tâm trạng nhân vật Thơm đầy tính kịch tính kịch của một lâm trạng thảm kịch.Nhân vật Thơm là một hình tượng bi tráng về người phụ nữ Tây hơn 60 năm về trước. Vượt qua mọi cảnh ngộ đau thương, Thơm đã đi vào với nhữngh mạng, sẵn sàng xả thân vì nhữngh mạng. Tinh thần của những chiến sĩ trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn đời đời bất tử. Hình tượng nhân vật Thơm trong kịch Bắc sơn cực kì chói lọi, một thành công đặc sắc của Nguyễn Huy Tưởng khi viết về nhữngh mạng và người phụ nữ Việt Nam.

Cũng Cần nhắc lại, nghe lại lời của Thơm vạch mặt Ngọc trước khi chị bị tên Việt gian này bắn:… “Thôi, đến lúc này tôi cũng chẳng cần úp mở làm gì nữa. Tôi biết anh lắm rồi. Tôi biết anh từ khi em tôi chết, chú tôi chết, từ hôm mẹ tôi dở người. Anh giấu ai, chứ giấu tôi thế nào được? Ba tháng nay, tôi ăn chung, ở chung với anh, tôi khổ sở biết là chừng nào! Anh biết chú tôi, anh giết em tôi, anh làm tan cửa nát nhà tôi, anh làm hại bao nhiêu người, anh tưởng tôi không biết nhục ư? Vợ một thằng chó săn! (…) Tôi đố anh phá nổi quân du kích, tôi thách thằng Tây phá nổi quân du kích! Mà mắt ra: Nó sai như con chó, nó khinh như con chó, mà không biết đời ư? Các ông đồng chí đâu! Bắt lấy nó! Nó đây rồi! Bắt cả tôi nữa, mà trả thù cho những đồng chí Bắc Sơn. Nó đây rồi, đừng thương nó!”.

Đối lập với Ngọc là nhân vật Cửu và Thái. Thái bình tĩnh sáng suốt bao nhiêu thì Cứu nóng nảy và hăng hái bấy nhiêu. Họ là những người tận trung với tổ quốc, dù trong cuộc trốn chạy cũng nhất định không thể khuất phục.

Qua đoạn trích ta hoàn toàn có thể thấy rằng, sức mạnh của tình yêu nước, sức mạnh của nhữngh mạng sẽ không khi nào bị dập tắt. Ngay cả những người ở vị trí trung gian khó sử như Thơm cũng sẽ quyết định lựa nhữngh mạng. Những tên bán nước cầu vinh sẽ không khi nào có kết cục tốt.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 2

Nguyễn Huy Tưởng là một nhà viết kịch tài ba của Việt Nam, ông đã để lại rất nhiều vở kịch hay, có giá trị về nội dung cũng như tư tưởng như vở kịch “Vĩnh biệt cửu trùng đài”… nhưng tác phẩm kịch mở đầu cho sự nghiệp sáng tác kịch về đề tài chiến tranh phải nói tới vở kịch “Bắc Sơn”, đây là vở kịch viết về đề tài nhữngh mạng, qua đó cũng thể hiện được nhiều xung đột kịch được nhà văn hé mở và giải quyết một nhữngh khéo léo và sau cuối, qua những xung đột ấy đã khắc họa được thành công vẻ đẹp của nhân Thơm, người đã đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, bỏ qua những tình cảm cá nhân mà một lòng đi theo và ủng hộ Cách mạng.

Đoạn trích trong sách giáo khoa thuộc hồi bốn của vở kịch “Bắc Sơn”. Ở trong hồi này, nhân vật trung tâm của những xung đột và hành động kịch xoay quanh cuộc đối thoại của hai nhân vật Thơm và Ngọc. Và sau cuối, sau sự đấu tranh nội tâm dữ dội cùng với sự day dứt,đau khổ khôn nguôi thì Thơm cũng quyết định đi theo và tin tưởng nhữngh mạng, một lòng ủng hộ trào lưu Bắc Sơn, đứng về phía Cách mạng thay cho bênh vực người anh xã đầu gối tay ấp nhưng lại là tên Việt gian bán nước của tớ. Ta hoàn toàn có thể thấy qua tác phẩm quyết định này của Thơm không hề dễ dàng chút nào, và xoay quanh bao nhiêu xung đột kịch thì Nguyễn Huy Tưởng cũng đã giải quyết một nhữngh khéo léo, để cho nhân vật Thơm đi theo nhữngh mạng cũng là tư tưởng, niềm tin của ông giành cho cuộc khởi nghĩa này.

Cái tạo ra sự hấp dẫn của những vở kịch không những là những nhân vật kịch, tình huống kịch mà còn là những xung đột kịch mà những nhà viết kịch khéo léo lồng vào, tạo ra sự đấu tranh của những nhân vật sau đó thì gỡ nút thắt của những xug đột kịch ấy bằng những giải quyết, những lựa chọn sáng suốt, qua đó để làm nổi trội vẻ đẹp của nhân vật kịch cũng như thể hiện được ý niệm, quan điểm của nhà văn trong đó. Trong vở kịch Bắc Sơn, cụ thể ở hồi mười bốn này thể hiện được những xung đột kịch gay cấn, đẩy nhân vật Thơm vào những sự đau khổ, day dứt và sau cuối phải đưa ra những lựa chọn đầy khó khăn, theo ai và bỏ ai, theo anh xã phản Cách mạng hay theo nhữngh mạng mà phản bội lại tình cảm vợ anh xã.

Thơm là con gái của cụ Phương và là chị gái của Sáng, đây là hai người chiến sĩ nhữngh mạng kiên trung, hết mình chiến đấu trong trào lưu Bắc Sơn, họ là những người anh hùng thực sự. Nhưng thật éo le thay khi Thơm cũng là vợ của Ngọc, một tên Việt gian bán nước, vì tiền bạc, lợi ích cá nhân mà Ngọc đã phản bội lại Cách mạng, hắn ta đầu hàng giặc, làm tay sai cho chúng. Hắn cũng là tên chỉ điểm cho bọn thực dân Pháp địa điểm làng Vũ Lăng, là nơi triệu tập, là căn cứ điểm của trào lưu Bắc Sơn, cũng vì sự phản bội này mà bao nhiêu tình nhân nước đã bị hắn gián tiếp sát hại, trào lưu nhữngh mạng lao đao bởi sự truy lùng dáo diết của quân Pháp.

Như vậy, ta hoàn toàn có thể thấy ngay phần đầu thì nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã đặt Thơm vào những xung đột, nhưng điều đáng nói là Thơm không hề biết bộ mặt thật của Ngọc, không biết anh xã mình là một tên Việt gian bán nước mà vẫn một lòng yêu thương cũng như tin tưởng anh xã. Vì vậy, trước những hành động và lời nói đáng nghi ngờ của Ngọc cùng với những dự cảm bất an về con người thật của anh xã thì Thơm đã có những đấu tranh nội tâm gay gắt, đó cũng là khi xung đột kịch được bắt đầu. Tình huống mà Thơm biết rõ về thực sự nghiệt ngã về Ngọc, đó là khi Ngọc dẫn người truy bắt hai chiến sĩ nhữngh mạng là Thái và Cửu. Nhưng trùng hợp thay, Thái và Cửu lại chạy trốn, ấp nấp vào trong chính ngôi nhà của Thơm và Ngọc, trong cuộc truy bắt, Ngọc đã có cuộc đối thoại với Thơm, ở đây thì xung đột chính thức diến ra. Dù đã nghe rất nhiều lời không hay về Ngọc nhưng với tấm lòng của một người vợ thủy chung, luôn yêu thương, tin tưởng anh xã thì Thơm vẫn không tin rằng anh xã mình là kẻ bán nước. Trong cuộc đối thoại với anh xã, Thơm đã nảy sinh những nghi ngờ, che giấu cho Thái và Cửu. Nhưng những hoài nghi của Thơm đều bị cho những lời lẽ ngon ngọt của Ngọc làm cho lung lay, Ngọc nới với Thơm rằng Thái và Cửu là những kẻ mật thám, và mình cũng không phải kẻ phản bội. Khi ấy Thơm đã cực kì bấn loạn, cô không biết phải suy nghĩ sao cho đúng, mặc dù không muốn tin là anh xã là kẻ bán nước nhưng linh tính lại mách bảo những điều ngược lại. Đây đúng là xung đột thứ nhất của vở kịch.

Xung đột thứ hai của vở kịch, đó là khi Thơm quyết định tin và đi theo Cách mạng, xung đột này ra mắt giữa ba nhân vật, đó chín là Thơm, Cửu và Thái. Trước sự lưỡng lự của Thơm, Cửu đã rút súng định bắn thơm vì cho rằng Thơm cũng như tên việt gian bán nước anh xã mình, nhưng lúc đó Thái đã ngăn cản kịp thời, chính hành động của Thái ấy đã tác động, cảm hóa đến Thơm, cô quyết tâm ủng hộ nhữngh mạng, dùng lời nói của tớ để đánh lạc hướng để ý của Ngọc đến Cửu và Thái, bảo vệ những người chiến sĩ Cách mạng ấy.

Như vậy, vở kịch “Bắc Sơn” là một vở kịch viết về đề tài chiến tranh, với những tình huống, xung đột kịch mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng xây dựng, chân dung của con người Cách mạng đã xuất hiện rõ nét, đứng trước những sự lựa chọn khó khăn, sau cuối Thơm vẫn theo và tin tưởng nhữngh mạng, gác bỏ tình cảm cá nhân mà theo tình cảm tổ quốc. Đây cũng là nhân vật tư tưởng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, thể hiện lấy được niềm tin của nhà văn vào Cách mạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 3

Nói đến kịch là nói tới một dạng thức đặc biệt nhằm phản ánh cuộc sống của văn học. Đối tượng của nó là những xích míc, những xung đột không thể dung hoà giữa những lực lượng đối lập nhau. Nhân vật kịch do đó phản ánh những xích míc khách quan, tức là có những xung đột cần phải giải quyết. Chỉ có điều: nhữngh thể hiện của kịch thường trải qua đối thoại (cũng có thể có khi độc thoại) cùng với hành động. Những tính chất khái quát trên đây bộc lộ khá đầy đủ trong vở kịch Bắc Sơn, vở kịch được xem là một thành công của văn học nhữngh mạng những ngày đầu trong phạm vi sân khấu. Ở đây là hồi bốn của vở kịch.

Tình huống kịch (còn gọi là xung đột kịch) bắt đầu từ lớp I, khi Ngọc (anh xã Thơm) đột ngột ra đi (“khuya thế đi đâu?”). Hành động khác thường này không những làm cho Thơm không thể yên lòng mà còn phải chăng nó xác nhận những nghi vấn của chị, của dư luận : Ngọc làm tay sai, làm chó săn cho Tây? (“Người ta bảo anh thằng Sáng dắt Tây vào đánh Vũ Lăng”). Mặc dù Ngọc che giấu và tìm mọi nhữngh để thanh minh, nhưng toàn bộ lí lẽ mà hắn đưa ra đều chống lại hắn: không làm tay sai cho giặc thì làm sao lại có nhiều tiền, ông Thái có tội gì mà sục lùng tìm bắt? Lại còn mơ ước có danh phận, được phẩm hàm (cửu phẩm) như ông lí nếu không theo giặc thì lấy đâu ra? Tâm trạng của Thơm thật ngổn ngang : vừa khẳng định (“Chỉ tại con thôi ! Con có biết đâu ?”) vừa nghi ngờ (“Đã chắc gì những lời đồn ?… Nhưng tiền thì lấy đâu mà lắm thế ?”…), vừa ân hận (“Thà con cứ ở nhà lại rảnh”) vừa lo lắng (“Không khéo thì ông Thái bị bắt mất, sao cứ lúng túng mãi không trốn được đi ?”).

Sang lớp II, xung đột kịch đột ngột được tăng cường. Đối tượng bị Ngọc và đồng bọn truy lùng lại rơi đúng vào trong nhà của vợ anh xã hắn. Tình huống này một mặt xác nhận động cơ mà Ngọc bỏ nhà ra đi vào lúc đêm khuya đúng như Thơm đã nghi ngờ, nhưng mặt khác, chị phải đối phó ra sao, giải quyết ra sao với hai người chiến sĩ nhữngh mạng? Chính sự thông minh và thái độ yêu ghét dứt khoát của Thơm đã tìm ra một giải pháp: đưa Thái, Cửu vào nơi mà chính Ngọc không ngờ (buồng ngủ của hai vợ anh xã). Nơi ấy vừa bịt mắt được kẻ thù, vừa dễ dàng có lối thoát.

Hứng thú của người xem lên tới đỉnh điểm của sự hồi hộp, ấy là khi xích míc lên đến cao trào : lớp III của Hồi bốn. Lúc này gian ngoài có Thơm và Ngọc, buồng trong có Thái, Cửu ; phía bên ngoài có quan Tây và đồng bọn của Ngọc vây hãm đúng ở lối buồng đi ra. Tình trạng nguy ngập của hai chiến sĩ nhữngh mạng phản ánh trong thái độ cuống quýt của Thơm (“Sao lại đợi ở đấy? Sao không mời những ông ấy lên chơi cả cho vui có được không ?”) May mà sự nghi ngờ của Ngọc (“Chắc là nó còn ở đấy, lúc nãy, mình trông nhầm nó chạy về đây thì phải”) không giữ chân bọn chúng. Còn nếu không, chẳng biết sự thể sẽ diễn biến ra sao?

Về nhân vật kịch, ở Hồi bốn có nhiều người. Nhân vật đúng là Thơm, Ngọc (chổng Thơm) và Thái, Cửu. Tính nhữngh của Thơm là tính nhữngh của người phụ nữ có phần bị ràng buộc, an phận theo anh xã. Nhưng tình thế nhữngh mạng sục sôi làm cho Thơm không thể ngủ yên trong hạnh phúc, nhất là một thứ hạnh phúc mong manh. Nếu anh xã Thơm làm tay sai cho giặc thì hạnh phúc đó chắc chắn không thể, và hơn thế, sự đồng loã vô tình của Thơm (với Ngọc) còn là một hành vi phản bội, phản bội với nhữngh mạng và với chính người thân: cha Thơm, em Sáng của Thơm, cả mẹ Thơm khi biết Ngọc là ai đó đã bỏ vợ anh xã hắn ra đi. Những giằng xé ấy buộc người phụ nữ phải chọn lấy một thái độ, một con đường. Chưa biết nhữngh mạng là gì, nhưng biết cha và em mình là ai, biết Thái và Cửu là người tốt, Thơm đứng hẳn về phía nhữngh mạng. Cái cần đối với Thơm lúc này không những có thế. Cùng với sự quyết đoán, Thơm cần phải tỉnh táo, thông minh. Sự thăm dò với anh xã (…) ở lớp I (…) đối phó kịp thời (…) ở lớp II (…), giả vờ vui vẻ (…) ở lớp III (…) đã làm cho người anh xã phản bội không tìm ra dấu vết. Hành động của Thơm, nhất là ở lớp II cực kì nguy hiểm. Điều này không phải chị không tự nhủ. Nhưng không thể một nhữngh nào hơn. Đúng như Thái nghĩ “Tôi biết cô Thơm. Anh đừng nghi dòng máu cụ Phương. Tôi tin như thế”. Người cán bộ ấy có một niềm tin đặt vào đúng chỗ.

Tuy với quan hệ vợ anh xã nhưng điều đáng buồn ở chỗ: nếu Thơm là một nhân vật chính diện (tích cực) thì Ngọc lại là một điển hình phản diện (tiêu cực). Về lí tướng, lẽ sống, Ngọc là một kẻ tầm thường. Vì cái danh, cái lợi cá nhân, hắn hoàn toàn có thể bán linh hồn cho quỷ, làm chó săn cho giặc để vinh thân phì gia. Hạnh phúc đối với hắn là tìm kiếm được nhiều tiên để tậu ruộng và để như hắn nói nửa đùa nửa thật với Thơm: “Còn tiền, thì hỏi tôi kiếm về cho ai tiêu? Cho một minh tôi à? Ai đánh nhẫn, ai may áo?”. Còn cái danh mà hắn hậm hực với ông lí: “Ông ấy thế mà cửu phẩm rồi đó… Chỉ mình là đen, không danh phận gì, lép vế trong làng quá !”. Bị vợ truy hỏi gắt gao, hắn biết dánh lạc hướng cũng là để hạ bộ một thần tượng của Thơm: “Em phục giáo Thái thế à ?… giáo Thái đúng là mật thám cho Tây đấy”. Đáng ghét hơn nữa, hắn có thứ triết lí hai giọng thật tàn nhẫn đến lạnh lùng đối với việc lùng sục những người nhữngh mạng: “Đàng nào thì chúng nó cũng bị bắt, mình chả bắt thì cũng người khác bắt, bắt sớm lại đỡ khổ, dân lại được yên ổn làm ăn, thế lại hơn”. Vừa tự thú vừa che giấu, bộ mặt thật của y, tức là tâm địa của y thật là đê tiện.

Các nhân vật khác như Thái và Cửu trong hồi kịch này không phải là nhân vật chính. Cả hai chỉ xuất hiện ở lớp II. Tuy đều là những người nhữngh mạng, ở họ cũng có thể có những nét riêng. Cửu tuy là người tốt nhưng còn bồng bột, đơn giản đến ngây thơ (anh cho rằng không thể tin được ở Thơm vì vợ Việt gian thì cũng là Việt gian), rơi vào tình trạng hiểm nghèo dễ hoang mang vô vọng (“Tôi giết anh rồi”). Còn trái lại, Thái là một con người già dặn, đầy bản lĩnh, đối phó với tình hình có nghĩ trước nghĩ sau. Biết là bước ra khỏi buồng của vợ anh xã Thơm là rơi vào vòng vây của cái chết, nhưng ở lại thì không đành lòng vì “liên luỵ đến cô Thơm”. Phải nghe theo mệnh lệnh của Thơm, đó là nhữngh lựa chọn duy nhất dúng lúc này.

Thành công của vờ kịch nói chung và Hồi bốn nói riêng đúng là ở chỗ: Bắc Sơn đã phản ánh được một không khí đầy căng thẳng trong trận chiến đấu giữa nhữngh mạng với kẻ thù. Trong cuộc đấu tranh ấy, nhữngh mạng là vì dân, biết dựa vào dân, được dân đùm bọc, thương yêu, bảo vệ, sự nghiệp của nhữngh mạng nhất định thắne lợi vẻ vang. Chân lí ấy đến với người đọc chúng ta đầy sức thuyết phục bới nó gắn với những hoàn cảnh cụ thể, những số phận con người cụ thế trải qua những xung đột dữ dội mà có được sự trưởng thành. Bài học về nhữngh mạng dầy máu và nước mắt do đó không thể giản đơn, hời hợt.

Trong toàn bộ sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, có sự hiện diện đủ những thể loại: Thơ, kịch, tiểu thuyết, truyện ngắn, ký, tùy bút, truyện phim, truyện lịch sử, truyện viết cho thiếu nhi, thư từ, ghi chép… Tuy ở thể loại nào ông cũng để lại những tác phẩm được biết đến như những sáng tạo nghệ thuật độc đáo, nhưng có lẽ, kịch là một thể loại có những tác phẩm để lại dấu ấn quan trọng nhất, không những trong quy trình sáng tác của ông mà cả trong quy trình lịch sử văn học hiện đại. Bắc Sơn là vở kịch thứ nhất về đề tài nhữngh mạng của Nguyễn Huy Tưởng, được công diễn năm 1946, những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám…

Tác phẩm đã giúp chúng ta hiểu về ý nghĩa sâu sắc cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và sức mạnh cảm hoá của nhữngh mạng với quần chúng . Đoạn trích đã tạo được những xung đột kịch , qua đó tái hiện sinh động chân dung những chiến sĩ nhữngh mạng và tấm lòng của Thơm – nhân vật trung tâm của vở kịch.Thơm là con của cụ Phương và là chị của Sáng, hai chiến sĩ tham gia vào khởi nghĩa Bắc Sơn. Nhưng cô còn là vợ của Ngọc, một tên Việt gian đã dẫn quân Pháp về tiến công làng Vũ Lăng, đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa, gây thiệt hại nặng nề cho nhữngh mạng . Và trong trận chiến đấu không cân sức ấy, cụ Phương và Sáng đã hy sinh anh dũng. Còn Ngọc cố tình che giấu vợ về hành động theo giặc vì hắn sợ bị trừng trị.

Mặt khác, vì những tham vọng của tớ, chính Ngọc đã tự biến mình thành tay sai cho Pháp, là kẻ đã tự dắt Pháp đi lùng giết đồng bào máu thịt củ mình. Một tình huống trớ trêu đầy bất ngờ khi những người bị hắn lùng bắt là Thái và Cửu lại lọt vào chính ngôi nhà của vợ anh xã Thơm – Ngọc. Chính trong thời điểm này, người xem được chứng kiến một sự chuyển biến dứt khoát của Thơm, mưu trí đánh lừa Ngọc, bảo về an toàn cho những chiến sĩ nhữngh mạng. Màn kịch bắt đầu bằng những đối thoại giữa Thơm và Ngọc . Lúc này, qua lời đồn đãi, Thơm đã bắt đầu nghi ngờ Ngọc làm tay sai cho giặc Pháp. Bản tính của một người vợ yêu anh xã, nhẹ dạ cả tin và trong sáng khiến cho tới tận lúc ấy cô không hề tin vào những dư luận chung quanh.

Cộng vào đó, Ngọc vốn là kẻ xảo trá và khéo nịnh vợ nên cô nàng không tồn tại cơ sở để nghi cho Ngọc là kẻ phản động . Những lời nói lấp lửng của Ngọc cho thấy hắn cố tình che giấu và chột dạ lo sợ hành động gian manh của tớ bị phát giác. Khi Thơm nhìn, hắn đã hoảng hốt :”Mắt cứ như mắt chú đấy !” (chú tức là cụ Phương – bố của Thơm). Khi Thơm tỏ ý nghi Ngọc đi bắt giáo Thái – chiến sĩ Bắc Sơn đang bị giặc truy lùng, hắn đã lu loa lấp liếm đánh trống lảng. Nhưng hắn không ngờ rằng chính thái độ của hắn đã vạch trần thực chất hèn nhát và gian xảo :”Thơm nhìn anh xã, vô ý thức y quay mặt nhìn đi chỗ khác”. Dù từ trước đó, Thơm cũng là con người thờ ơ với thời cuộc , an phận thủ thường, nhưng bản thân cô không thể không chịu sự tác động của cha và em trai cũng như cái chết của họ. Bởi thế, gặp ánh nhìn của Ngọc lảng tránh, cô nói thẳng :”Đã làm rồi, thì thôi đi, hay ho gì cái việc ấy”.

Lời nói ấy cho thấy Thơm là một con người sẵn sàng khoan dung, tha thứ nhưng không chấp thuận anh xã là một kẻ xấu xa. Ngọc là kẻ có nhiều tham vọng, bị đồng tiền làm mờ mắt và dựa vào quyền lực của Pháp hòng kiếm chác danh vị giàu sang. Có lúc, Thơm đã tận hưởng những cám dỗ vật chất Ngọc đem lại, nhưng giờ phút này, nàng đã dần dần thấy rõ hơn bộ mặt thật của Ngọc và những đồng tiền nhơ nhuốc hắn đem về. Bởi vậy, cô rất dứt khoát :”Làm việc ấy để có tiền thì chết đói, chết rách rưới còn hơn. Anh thằng Sáng đừng cho tôi tiền nữa, tôi không cần tiền ấy”.

Nhưng Ngọc cũng thể hiện sự gian xảo, mập mờ khi tung hoả mù lừa Thơm bằng việc vu khống trắng trợn giáo Thái là mật thám. Bởi thế, lòng Thơm hoang mang vẫn chưa quyết, lẫn lộn trắng đen. Bản thân cô hẳn phải mong muốn lời đồn không là thực sự, nhưng lương tâm và linh tính mách bảo lại khiến cô đau khổ trăm phần. Kết lại lớp kịch thứ nhất của hồi này, ta thấy Thơm cầm trên tay kỷ vật là khẩu súng lục của cha mà khóc. Đó là thái độ ân hận và báo hiệu một sự chuyển biến tích cực cho tính nhữngh nhân vật :”Chú ơi ! Mé ơi ! Chỉ tại con thôi ! Con có biết đâu !”. Những xung đột kịch hình thành từ chính sự giằng xé nội tâm của nhân vật, đòi hỏi phải được làm sáng tỏ: “Đã chắc gì những lời đồn !…Nhưng tiền thì lấy đâu mà lắm thế!”.

Tình huống đầy bất ngờ mở đầu lớp hai của hồi bốn như bổ sung thêm vào cho thái độ ngả về phía nhữngh mạng của thơm. Màn đối thoại giữa ba nhân vật :Thơm – Thái – Cửu đã làm nên tình huống thử thách. Chính vào thời điểm này, ta nhận thấy vai trò của Thái khi ngăn Cửu manh động định rút súng bắn Thơm, khi biết vào nhầm nhà của kẻ đang lùng bắt mình. Sự bình tĩnh của người cán bộ dạn dày ấy đã cảm hoá được Thơm. Vì đây là lần thứ nhất cô được tiếp xúc với nhân vật rất được mọi người tin yêu, ca tụng. Những gì cô chứng kiến càng khẳng định cho niềm tin vào ngừời nhữngh mạng.

Mặc dù Thơm vẫn chưa hiểu hết về công việc nhữngh mạng nhưng dẫu sao cô cũng là con của một liệt sĩ Bắc Sơn, đó cũng là cơ sở để giáo Thái khẳng định niềm tin :”Tôi biết cô Thơm. Anh đừng nghi ngờ dòng máu cụ Phương. Tôi tin như thế. Nghe giọng nói thì biết là thật hay không thật chứ.”. Nhưng điều trớ trêu, vào chính thời điểm ấy, Ngọc đã dắt quân Pháp lùng bắt Thái và Cửu. Tình thế khẩn cấp không được chấp nhận do dự và cũng là lúc Thơm chứng tỏ cho tấm lòng ngay thẳng của tớ. Trong hoàn cảnh ấy, Thơm thể hiện thái độ hốt hoảng, cuống quýt gần như khóc, nghẹn ngào. Tâm trạng ấy không phải là do sợ cho bản thân mà đúng là đan xen nỗi lo lắng về sinh mạng những chiến sĩ đang ở trong nhà mình, cùng nỗi uất ức khi thấy tận mắt :”Có cả Tây. Ngọc cũng đi vào đấy”. Thơm đã đứng hẳn về phía nhữngh mạng khi hành động ngoan ngoãn và mau lẹ, thân thương như một người em gái để quyết tâm bảo vệ họ.

Không chỉ che giấu cho những người nhữngh mạng, Thơm còn phải thể hiện hết sự khôn khéo và bình tĩnh để đánh lạc hướng Ngọc. Trong giờ phút này, khi biết rõ bộ mặt thật của Ngọc, cô đã đóng một vai kịch bất đắc dĩ nhưng cũng rất tỉnh táo như nhằm vạch rõ chân tướng của Ngọc. Màn đối thoại lần thứ hai giữa Thơm và Ngọc tạo được sự hồi hộp căng thẳng của một cuộc đấu trí. Giờ phút này, không những tìm nhữngh che chở cho những cán bộ nhữngh mạng đang ẩn nấp ngay trong buồng của tớ, nói to nhằm đánh động cảnh báo để họ đề phòng kẻ địch, Thơm cong muốn Ngọc bộc lộ chân tướng Việt gian nên cô vờ như muốn níu giữ, vừa tìm nhữngh vuốt nhẹ lòng tự ái của Ngọc.

Quả thật, giờ phút này, Ngọc bộc lộ rõ động cơ theo giặc của tớ. Hoá ra, chỉ vì những tính toán ích kỷ, cá nhân : mua nhà, tậu ruộng, chạy hàm cửu phẩm để vênh vang với thiên hạ nên Ngọc trở thành nô lệ cho chính những tham vọng của tớ. Anh ta quả là một con người đáng giận hơn đáng thương. Bởi lẽ, đã có những lúc anh ta tự độc thoại để như đáp lại một sự bứt rứt trong lòng, có lẽ vì ân hận trước việc làm của tớ đã gây nên cái chết của những người thân yêu của vợ, làm tan cửa nát nhà, nhưng lời lẽ của Ngọc lại là một sự nguỵ biện :”Đằng nào chúng nó cũng bị bắt, mình chả bắt thì cũng người khác bắt, bắt sớm lại đỡ khổ”. Để rồi sau cuối, những toan tính nhỏ nhen đã thắng thế trước tình cảm, hắn không thèm đếm xỉa đến sự quyên tâm lo lắng thực sự của Thơm mà sấp ngửa chạy theo ảo vọng giàu sang.

Bởi thế, dù lời lẽ của Thơm có xa xăm, bóng gió, nhằm cảm hoá Ngọc cũng không ngăn cản nổi anh ta, sau cuối, cô phải bộc lộ thái độ sốt ruột cùng lời nói sẵng như muốn tách xa khỏi Ngọc. Dù vậy, bề ngoài vẫn phải tỏ ra vui vẻ để tránh sự sinh nghi. Có thể nhận thấy trong màn đối thoại này, những lời của Thơm không hề bày tỏ cảm xúc của người vợ thương anh xã như lúc đầu mà cô đang phải gắng gượng chịu đựng vai trò người vợ trước một tên Việt gian đầy tham vọng . Kết lại hồi kịch là khoảnh khắc thở phào sung sướng như trút được gánh nặng của Thơm :”May thế!”. Đó cũng là tín hiệu cho ta biết cô đã thực sự đứng về phía nhữngh mạng, không thể là người thờ ơ đứng ngoài cuộc như trước.

Màn kịch với những tình huống đột biến liên tục trong bối cảnh ngôi nhà của Thơm đã tạo ra những bước ngoặc tâm trạng dứt khoát của nhân vật. Qua đó, chúng ta nhận thấy một con người có lòng tự trọng, ngay thẳng, tuy còn có những lúc ngây thơ, cả tin nhưng khi biết rõ thực sự đã lột xác để trở thành một con người bình tĩnh, dũng cảm, quyết tâm bảo vệ nhữngh mạng đến cùng. Nguyễn Huy Tưởng đã thành công trong việc khắc hoạ tính nhữngh nhân vật kịch qua ngôn ngữ và hành động kịch rất tự nhiên.

Bắc Sơn đã có sức thu hút công chúng bởi lẽ tác phẩm đem lại hình ảnh chân thực về những chiến sĩ nhữngh mạng trong những ngày sục sôi của khởi nghĩa Bắc Sơn. Qua đó, nhà văn còn khẳng định tấm lòng của nhân dân không rời xa nhữngh mạng trong cả trong giờ phút nguy nan nhất . Qua hình tượng nhân vật Thơm, công chúng còn có dịp chứng kiến sức cảm hoá của nhữngh mạng với quần chúng. Chính mối quan hệ này đã làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 4

Vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng viết về cuộc đấu tranh giữa những người dân yêu nước, ủng hộ nhữngh mạng với những kẻ phản động, bán rẻ lương tâm, sẵn sàng quỳ gối làm tay sai cho giặc thời nhữngh mạng Việt Nam còn trong trứng nước.

Trong vở kịch, tác giả đã phản ánh, lí giải con đường đến với nhữngh mạng một nhữngh tự nhiên, tất yếu của những người dân đất Việt chân chính. Qua nhân vật Thơm trong hồi bốn của vở kịch, người đọc hoàn toàn có thể thấy được diễn biến sinh động trong tâm lí của một bộ phận nhân dân như vậy.

Thơm là nhân vật chính của hồi kịch này. Các sự việc trong đoạn trích này cũng ra mắt chủ yếu ở gia đình của cô. Trước cái chết của cha, Thơm dần dần nhận thấy bộ mặt phản bội của Ngọc. Cô cực kì đau xót, ân hận. Khi Thái và Cửu bị giặc truy bắt cô đã tìm nhữngh cứu hai anh.

Trong lớp kịch này, sức hấp dẫn từ nhân vật Thơm không phải là cuộc đấu tranh giữa cái sống và cái chết, cũng không ở sự đắn đo nên che giấu hay khai báo việc hai người cán bộ đang ở trong nhà mình. Khi Cửu và Thái mới xuất hiện, Thơm có hoảng hốt nhưng chủ yếu là do bị bất ngờ. Qua phút hốt hoảng lúc đầu, Thơm đã quyết bảo vệ hai người cán bộ. Cô không do dự đến mối nguy hiểm khi cả gan che giấu cán bộ nhữngh mạng mà chỉ lo lắng vì không biết bảo vệ họ ra sao. Hoàn cảnh bức bách đã làm bật lên hành động cao đẹp của một quần chúng yêu nước. Cô nhanh trí đẩy họ vào buồng trong (theo phong tục của nhiều dân tộc thiểu số, gian buồng là nơi kiêng kị đối với người lạ). Bằng nhữngh táo bạo ấy, cô đã khiến cho Ngọc không mảy may nghi ngờ.

Ở lớp III, tính chất khốc liệt và éo le của hoàn cảnh đã đẩy xích míc kịch phát triển đến đỉnh cao. Một bên là Thơm, người đã cả gan vượt khỏi tập tục, chống lại anh xã, che giấu cán bộ nhữngh mạng ngay trong buồng nhà mình. Một bên là Ngọc, đang trong cuộc vây bắt cán bộ để lập công với kẻ thù. Ngọc hoàn toàn không biết những người cán bộ mà hắn rắp tâm truy bắt để lập công lại đang ở ngay trong buồng nhà mình. Hắn nấn ná ở lại, không chịu đi ngay chỉ vì ham quấn quýt với người vợ tươi trẻ của tớ.

Hoàn cảnh trớ trêu đó đã làm cho tính kịch được tô đậm. Ngọc chỉ vô tình nhưng hắn càng nấn ná thì Thơm lại càng sốt ruột. Diễn biến tâm lí của nhân vật ra mắt khá phức tạp, hoàn toàn có thể hình dung theo những giai đoạn liên tiếp nhau. Ban đầu, Thơm giả bộ ngọt ngào với anh xã, lại còn tỏ ra ân hận về những lời nói không phải với anh xã trước đó, mục đích để Ngọc không nghi ngờ gì. Khi biết lối ra vườn đã vô tình bị chặn (do đồng bọn của Ngọc đợi hắn ngoài đó), Thơm cố tình nói to lên để cán bộ biết mà đề phòng, không ra theo lối ấy.

Thơm tìm nhữngh đẩy anh xã đi để nhanh gọn giải thoát cho hai người cán bộ. Điều này hoàn toàn xích míc với thái độ của Thơm lúc đầu (cố giữ anh xã ở nhà). Mặc dù tỏ vẻ ngạc nhiên nhưng rất may là Ngọc không nhận thấy sự bất thường đó có nghĩa gì.

Trong lớp này, mọi lời nói, hành động của Ngọc chỉ vô tình nhưng sự vô tình đó lại làm cho vở kịch thêm hấp dẫn. Người nghe, người xem hồi hộp theo dõi mọi lời nói, hành động của nhân vật Thơm. Thơm ở trong tình cảnh rất khó xử: nếu đẩy anh xã đi lộ liễu quá sẽ làm cho hắn nghi ngờ. Nếu giữ anh xã lại như lúc đầu, biết đâu hắn chẳng ở lại thật, như thế hai người cán bộ sẽ gặp phải nguy hiểm. Bởi vậy, một mặt Thơm phải khéo nói dựa theo những lời của anh xã khiến hắn không nghi ngờ gì, mặt khác lại phải tìm nhữngh đẩy hắn đi thật nhanh.

Lòng tin và quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ nhữngh mạng đã khiến Thơm trở thành nhanh trí, chính xác trong lời nói cũng như việc làm. Cô không những đã cứu cho hai người cán bộ khỏi bị địch bắt mà còn mang đến cho họ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng.Miêu tả nhân vật Thơm trong hồi bốn, Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện tài năng xây dựng tình huống kịch, tổ chức đối thoại, thể hiện tâm lí nhân vật. Từ đó, giúp nhân vật bộc lộ tính nhữngh.

Có thể nói, con đường đến với nhữngh mạng của Thơm tiêu biểu cho một bộ phận không nhỏ nhân dân giai đoạn đó: đi từ nỗi đau cá nhân đến sự ghét bỏ bọn bán nước, cướp nước; nhận thấy thực chất đẹp đẽ của nhữngh mạng và ủng hộ nhữngh mạng. Qua nhân vật Thơm, Nguyễn Huy Tưởng đã bày tỏ niềm tin yêu, sự biết ơn đối với nhân dân: Nhân dân là cái nôi nuôi dưỡng và bảo vệ nhữngh mạng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 5

Nguyễn Huy Tưởng là một trong những nhà viết kịch tài ba. Tác phẩm của ông đều thể hiện được hiện thực một nhữngh cực kì khéo léo và chân thực. Trong số đó Bắc Sơn là vở kịch thứ nhất viết về đề tài nhữngh mạng của ông, giúp cho người xem hoàn toàn có thể hiểu được sức mạnh của nhữngh mạng đối với nhân dân trong cuộc khời nghĩa Bắc Sơn. Trong đoạn trích là những xung đột kịch điển hình, tái hiện cả cuộc đời của nhân vật Thơm trong truyện.

Thơm là con gái của cụ Phương và là chị gái của Sáng. Đây đều là hai chiến sĩ tham gia vào cuộc khời nghĩa Bắc Sơn. Thế nhưng hoàn cảnh mới thật trái ngang làm sao khi cô lại là vợ của một tên việt gian tên là Ngọc. Chính hắn là kẻ đã chỉ điểm cho quân Pháp khiến cho chúng tiến công vào đại bản doanh của quân khởi nghĩa, gây những thiệt hại cực kì to lớn cho quân khơi nghĩa. Và thật không may mắn khi bố của Thơm và em trao đều đã hi sinh trong cuộc đàn áp ấy. Ngọc là kẻ ích kỉ và tham lam nên lúc nào cũng chỉ muốn tìm những cán bộ để tố cáo với thực dân Pháp nhằm lấy được khoản tiền thưởng của tớ. Tình huống đã bất ngờ xảy ra khi hai chiến sĩ mà Ngọc đang lùng bắt là Thái và Cửu lại lọt vào trong chính ngôi nhà của Thơm và Ngọc. Chính trong hoàn cảnh này, xung đột đã được đưa lên cao trào khi Thơm đã mưu trí đánh lừa Ngọc để giấu cán bộ, bảo về tính mạng của những người theo Đảng.

Màn kịch được bắt đầu bằng cuộc đối thoại của hai vợ anh xã. Tuy Ngọc bao che thân phận là tay sai chỉ điểm cho giặc của tớ. Thế nhưng, Thơm vẫn nghi ngờ về thân phận của hắn do những lời đồn của những người xung quanh. Thế nhưng, Ngọc lại là một kẻ gian manh, xảo trá. Hắn lừa dối người vợ nhẹ dạ và trong sáng của tớ, dùng những lời lẽ nịnh bợ để khiến cho Thơm mất đi sự cảnh giác và tin vào những lời nói của hắn. Thậm chí, khi Thơm nhìn, hắn đã hoảng hốt “ Mắt cứ như mắt chú ấy”. Ngay lúc Thơm ngỏ ý nghi ngờ Ngọc đi bắt Thái và Cửu- hai chiến sĩ của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn giống như cha và em trai của Thơm thì cô đã thấy Ngọc tỏ thái độ muốn bao che, láp liếm bằng những lời nói dối của tớ. Thế nhưng, bằng con mắt quan sát, cô đã nhìn thấy được thực chất của hắn qua những thể hiện và lời nói của hắn. Trước đây, vốn là một người luôn an phận thủ thường, thế nhưng, sau khi được cha và em trai phân tích thì cô cũng hiểu được đâu là việc đúng đắn, thấy được ánh nhìn giả dối của anh xã cô cũng khuyên anh xã nên dừng lại vì cô hiểu đó đúng là một việc làm sai trái và không tồn tại lợi ích cả hơn nữa đó đúng là một hành vi bán nước mà thôi.

Biết không thể thay đổi được suy nghĩ của Thơm, Ngọc đã lừa dối Thơm bằng phương pháp nói rằng Thái đúng là mật thám khiến cho Thơm bị lẫn lộn và không thể tìm ra được thực sự. Đó đúng là những thảm kịch và xung đột trong lòng của cô, cô không muốn tin anh xã mình là kẻ bán nước, nhưng linh tính lại mách bảo cho cô điều đó mà cô cũng không biết phải làm thế nào khi những nghi ngờ của tớ được sáng tỏ.

Tình huống thứ hai ra mắt khi Thơm đã tin tưởng vào đoàn quân Bắc Sơn. Cũng đúng là lúc này, xung đột thứ hai lại xảy ra giữa ba nhân vật: Cửu- Thơm và Thái. Lúc ấy Cửu rút súng ra định bắn Thơm vì cho rằng Thơm cũng như người chông ham hư vinh của tớ. Thế nhưng ngay lập tức, Thái đã ngăn hành động ấy lại chính điều đó đã làm cho Thơm được cảm hóa hoàn toàn, đứng về phía những người nhữngh mạng. cũng nhờ có điều ấy mà Thơm đã cố gắng giúp đỡ, giải thoát thành công cả hai người chiến sĩ thoát khỏi vòng vây của kẻ địch, lừa được Ngọc và những kẻ đi cùng để bắt hai người chiến sĩ.

Vở kịch với những chi tiết kịch tính và tình huống biến đổi liên tục gây sức hút cho người xem tạo cảm giác sống động và thích thú. Qua đó, chúng ta khẳng định được tình cảm của nhân dân giành cho nhữngh mạng dù trong bất kì hoàn cảnh nào đều như vậy.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 6

Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Thành, viết văn, làm báo từ trước 1945. Sau Cách mạng tháng Tám, ông có nhiều đóng góp cho nhữngh mạng và kháng chiến. Các tác phẩm của ông phản ánh hiện thực, đậm chất anh hùng và không khí lịch sử. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Vở kịch Bắc Sơn được ông sáng tác và đưa lên sân khấu đầu xuân năm mới 1946, trong khí thế sôi sục mở đầu kháng chiến. Bối cảnh của vở kịch là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (1940/1941) và nội dung xoay quanh những biến cố xảy ra trong gia đình cụ Phương, dân tộc Tày. Cụ Phương cùng con trai là Sáng hăng hái tham gia chiến đấu. Còn bà cụ và cô con gái là Thơm lại ngại ngần, xa lánh.

Cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi bước đầu. Tổ chức cử ông giáo Thái là cán bộ Đảng đến giúp nhân dân củng cố trào lưu. Quân Pháp do Ngọc (anh xã của Thơm) dẫn đường đã kéo vào chiếm lại Vũ Lăng, đàn áp dã man quần chúng và truy lùng những cán bộ lãnh đạo. Quân khởi nghĩa phải rút vào rừng. Cụ Phương trong lúc dẫn đường, bị giặc Pháp bắn đã hi sinh. Trước cái chết của cha và em trai Thơm, bộ mặt Việt gian bán nước của tên Ngọc dần dần lộ rõ. Thơm cực kì đau xót và ân hận.

Phân tích đoạn trích hồi 4 vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy TưởngỞ hồi 4 của vở kịch Bắc Sơn Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng một tình huống đặc biệt để thể hiện xung đột gay gắt giữa lực lượng nhữngh mạng và kẻ thù; đồng thời phản ánh diễn biến nội tâm phức tạp của nhân vật Thơm – một cô nàng có anh xã theo giặc, từ chỗ thờ ơ đến chỗ đứng hẳn về phía nhữngh mạng. Qua đó, tác giả khẳng định sức thuyết phục to lớn của chính nghĩa.

Sự kiện chính của hồi 4 như sau:Thái cùng một cán bộ trào lưu là Cửu bị giặc truy lùng ráo riết, vô tình chạy nhầm vào trong nhà Thơm, mà Ngọc – anh xã Thơm lại đang dẫn lính đuổi bắt hai người. Thơm nhanh trí che giấu và cứu thoát họ. Bằng hành động ấy, Thơm đã dứt khoát đứng hẳn sang hàng ngũ nhữngh mạng. Sau đó, biết tin Ngọc dẫn đường cho quân Pháp lên đánh úp lực lượng du kích, Thơm đã luồn rừng đi suốt đêm đến báo để họ kịp thời đối phố. Lúc quay về, bất ngờ gặp Ngọc, Thơm đã bị y bắn; nhưng chính Ngọc lại chết vì trúng đạn của quân Pháp.

Nội dung hồi 4 cho thấy nghệ thuật viết kịch rất già dặn của Nguyễn Huy Tưởng. Thành công nổi trội là tác giả đã tạo dựng nên tình huống bất ngờ, gay cấn để đẩy xích míc lên tới đỉnh điểm, bộc lộ tâm lí và tính nhữngh nhân vật.

Thơm là vợ Ngọc – một tên tay sai đắc lực cho thực dân Pháp. Đã quen với cuộc sống an nhàn và ngại gian khổ nên Thơm không tham gia vào trào lưu khởi nghĩa, mặc dù cha và em trai là những quần chúng tích cực. Tuy thế, ở Thơm vẫn vẫn chưa mất đi thực chất trung thực, lòng tự trọng và tính thương người. Thơm quý trọng ông giáo Thái là cán bộ được tổ chức cử đến giúp dân đẩy mạnh trào lưu khởi nghĩa. Vì lực lượng yếu và thiếu kinh nghiệm nên trào lưu nhữngh mạng bị giặc đàn áp, cha và em trai Thơm đều hi sinh. Thơm ân hận và đau đớn khi biết anh xã mình vì hám tiền, hám danh mà sẵn sàng làm tay sai cho Pháp, dẫn giặc về đốt phá bản làng, giết hại đồng bào.

Tâm trạng và hành động của Thơm được tác giả mô tả trong hoàn cảnh éo le: cuộc khởi nghĩa bị khủng bố, cha và em trai đó đã hi sinh, mẹ đau đớn đến điên dại bỏ nhà đi. Thơm chỉ còn người thân duy nhất là Ngọc, nhưng y đã dần dần lộ rõ bộ mặt Việt gian bán nước. Bằng số tiền thưởng của bọn Pháp, Ngọc đã thỏa mãn những nhu cầu vật chất của vợ anh xã hắn như tậu nhà mới, mua sắm nữ trang, quần áo… Tuy thế, Thơm vẫn sống trong day dứt và ân hận. Hình ảnh người cha lúc hi sinh, những lời trăng trối sau cuối của ông, khẩu súng trao lại cho Thơm, sự hi sinh của đứa em trai, nhất là tình cảnh thương tâm của người mẹ. Tất cả những hình ảnh ấy luôn ám ảnh, giày vò tâm trí cô.

Sự nghi ngờ của Thơm đối với Ngọc ngày càng tăng. Trong những lần trò chuyện với anh xã, Thơm luôn tìm nhữngh dò xét ý nghĩ và hành động của anh xã để tìm hiểu thực sự, còn Ngọc thì luôn kiếm cớ lảng tránh. Tuy thế, Thơm yẫn cố níu lấy một chút hy vọng: Đã chắc gì những lời đồn?… Nhưng tiền thì lấy đâu mà lắm thế?….

Một tình huống xảy ra hoàn toàn bất ngờ đối với Thơm, buộc cô phải lựa chọn thái độ dứt khoát: Thái và Cửu là hai cán bộ nhữngh mạng bị bọn giặc truy lùng, đã chạy nhầm vào chính nhà Thơm, tức là nhà Ngọc. Ban đầu, Thơm hoảng sợ khi nghe tiếng súng nổ rất gần và sự xuất hiện đột ngột của Thái và Cửu. Nhưng với thực chất trung thực và lương thiện, cùng với sự quý mến sẵn có giành cho Thái và cả sự hối hận, toàn bộ những điều đó đã thôi thúc Thơm hành động một nhữngh mau lẹ và khôn ngoan, không sợ nguy hiểm để che giấu Thái và Cửu ngay trong buồng ngủ của tớ. Thơm nói với hai cán bộ nhữngh mạng bằng giọng tự tin và quyết đoán: “Hai ông đừng nói nữa. Ngọc nó về. Hai ông đừng đi đâu, hãy tạm ở đây, may ra…” Khi Ngọc về đến nhà, Thơm đã khôn ngoan, bình tĩnh che mắt Ngọc để bảo vệ họ. Lúc đầu, Thơm giả vờ ngủ gật để hướng sự để ý của Ngọc sang việc khác.

Tiếp đến Thơm kể chuyện ở nhà nhớ Ngọc ra sao rồi bảo Ngọc mời những kẻ đang lùng bắt cán bộ lên nhà chơi. Thơm khéo léo nói những lời tình cảm để Ngọc ra lệnh cho bọn truy lùng rút lui. Đồng thời cũng chính lúc này, Thơm đã nhận được rõ bộ mặt Việt gian cùng sự xấu xa bỉ ổi của anh xã. Điều đó sẽ dẫn đến hành động chủ động của cô ở hồi cuối: khi biết Ngọc sẽ dẫn đường cho quân Pháp vào rừng lùng bắt những người khởi nghĩa, cô đã luồn tắt rừng suốt đêm để báo tin cho du kích kịp thời đối phó.

Bằng nhữngh đặt nhân vật vào hoàn cảnh căng thẳng và tình huống gay cấn, tác giả đã thể hiện đời sống nội tâm phức tạp với những nỗi day dứt, đau xót và ân hận của Thơm, để rồi cô đã hành động dứt khoát, đứng hẳn về phía nhữngh mạng. Qua nhân vật Thơm, Nguyễn Huy Tưởng khẳng định rằng trong cả khi gặp khó khăn, bị kẻ thù đàn áp khốc liệt, trào lưu nhữngh mạng vẫn không thể bị tiêu diệt và nó vẫn có khả năng thức tỉnh quần chúng, trong cả với những người ở vị trí trung gian.

Trong hồi 4, thực chất xấu xa của nhân vật Ngọc đã được tác giả mô tả đầy đủ. Vốn chỉ là một gã thư kí quèn, địa vị thấp kém trong bộ máy cai trị của thực dân, Ngọc nuôi tham vọng ngoi lên để thỏa mãn ham muốn địa vị, quyền lực và tiền tài. Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, bộ máy cai trị của thực dân ở châu Bắc Sơn bị lật đổ, Ngọc thù hận nhữngh mạng. Y cam tâm làm tay sai cho giặc, trực tiếp dẫn quân Pháp về đánh Vũ Lăng – căn cứ của lực lượng khởi nghĩa.

Càng ngày, Ngọc càng bộc lộ thực chất tàn bạo. Y ra sức truy lùng cán bộ nhữngh mạng, đặc biệt là Thái và Cửu. Để che giấu hành động xấu xa của tớ, Ngọc ra sức chiều chuộng vợ. Tuy thế, tâm địa và tham vọng đen tối của Ngọc vẫn cứ lộ ra trước mắt Thơm, đặc biệt là khi Ngọc không giấu diếm thái độ ghen tức và ý đồ thẳng tay trừng trị “thằng Tốn” nào đó ở trong làng. Xây dựng một nhân vật phản diện như Ngọc, tác giả không đơn thuần triệu tập vào hắn những cái xấu, cái ác mà bên cạnh đó vẫn để ý khắc họa tính nhữngh riêng.

Thái và Cửu chỉ là nhân vật phụ, xuất hiện trong chốc lát. Lâm vào tình thế nguy kịch, bị giặc truy đuổi, lại chạy nhầm vào chính nhà Ngọc, Thái vẫn bình tĩnh, sáng suốt, khơi dậy niềm tin của Thơm vào những người nhữngh mạng và bày tỏ niềm tin vào thực chất đẹp đẽ của cô. Còn Cửu thì hăng hái nhưng nóng nảy, thiếu chín chắn. Anh đã nghi ngờ Thơm và còn định bắn cô. Mãi đến lúc đã được Thơm cứu thoát, Cửu mới hiểu và tin Thơm là người tốt.

Với vở kịch Bắc Sơn, Nguyễn Huy Tưởng đã đạt được những thành công bước đầu trong nghệ thuật viết kịch. Tác giả đã xây dựng tình huống kịch, những xung đột cơ bản của vở kịch và phát triển xích míc lên tới đỉnh điểm, sau đố có nhữngh giải quyết hợp tình, hợp lí. Tác giả đã thể hiện sự đối đầu gay gắt giữa Ngọc và Thái, Cửu trong hoàn cảnh cuộc khởi nghĩa bị đàn áp và Ngọc cùng đồng bọn đang truy lùng những người nhữngh mạng. Đồng thời, xung đột kịch cũng ra mắt trong nội tâm nhân vật Thơm, thúc đẩy diễn biến tâm trạng nhân vật để đi tới bước ngoặt quan trọng là có đứng hẳn về phía nhữngh mạng.

Bắc Sơn được đánh giá là vở kịch mở màn cho nền kịch nhữngh mạng trên sân khấu nước nhà từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Với vở kịch này, lần thứ nhất hiện thực nhữngh mạng và những con người mới của thời đại đã được tác giả đưa lên sân khấu một nhữngh thành công, gây được ấn tượng đẹp đẽ trong lòng khán giả.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 7

Kịch Bắc Sơn là một trong những tác phẩm tạo ra tên tuổi của Nguyễn Huy Tưởng. Viết về chủ đề nhữngh mang, vở kịch ca tụng tinh thần chiến đấu và vai trò của những cán bộ nhữngh mạng trong việc định hướng tư tưởng đấu tranh của nhân dân. Qua đó, tác giả biểu dương tinh thần yêu nước và ý chiến quật cường chiến đấu của quần chúng. Hồi IV của vở kịch là một trong những đoạn nổi trội nhất với tình huống gấp gáp, thể hiện bước ngoặt kịch tính về cả tâm lý nhân vật và diễn biến sự kiện. Tính bi tráng là hơi thở nổi trội của hồi kịch này, được thể hiện qua hình tượng người phụ nữ dân tộc Tày tiêu biểu cho hàng nghìn quần chúng nhân dân đã và đang trên con đường giác ngộ nhữngh mạng.

Tính bi tráng, bi là bi ai, buồn bã, còn tráng là hùng tráng, thể hiện vẻ đẹp lý tưởng. Bi tráng là đau thương, mất mát về một thời quá khứ oai hùng, vừa có tính bi thương, lại không kém phần gân guốc, hùng dũng. Trong vở kịch Bắc Sơn, tính bi tráng được thể hiện ở tinh thần nhữngh mạng. bộc lộ qua những nút thắt tâm lý nhân vật và hình tượng nhân vật người phụ nữ đang trên con đường giác ngộ – cô Thơm. Chất anh hùng ca không được mô tả trực tiếp, nhưng qua những cử chỉ, hành động, lời nói của nhân vật, cái bi tráng được bộc lộ một nhữngh rõ nét và ngày càng có Xu thế tăng tiến.

Hồi năm của vở kịch kể về cảnh Ngọc dẫn Tây truy đuổi hai cán bộ Cách mạng là anh Cửu và giáo Thái. Rơi vào tình huống nguy kịch, hai người chạy trốn vào trong nhà anh Đốc người quen, ai ngờ lại đúng phải nhà tên Ngọc mới mua được. Cửu rút súng định bắn Thơm, vợ Ngọc vì cho rằng cô cũng là Việt gian nhưng Thái đã kịp ngăn cản vì tin rằng Thơm mang dòng máu yêu nước của cha cô. Đúng lúc ấy, Ngọc ghé qua nhà sau khi đã lùng sục nhà bà Lục bác Chui,… Thơm nhanh trí đẩy hai cán bộ vào buồng và chỉ chỗ trốn, đồng thời tỏ ra bình thản trước mặt Ngọc để hắn không nghi ngờ và nhanh gọn rời đi.

Tính bi tráng của vở kịch nằm ở mặt tình huống. Tình huống kịch tính, căng thẳng và hồi hộp. Thơm mang tiếng là vợ Việt gian, nhưng cô lại là người che giấu, bảo vệ cán bộ Cách mạng. Trái với suy nghĩ “Vợ Việt gian thì cũng là Việt gian” của anh Cửu, đứng trước áp lực Ngọc chuẩn bị vào trong nhà, tiếng chó săn sủa râm ran, tiếng chân người rầm rập, Thơm lo lắng: “Chết nỗi, hai ông bị chúng nó đuổi phải không? Làm thế nào lúc này?”. Bản thân cô thực sự lo lắng, cố gắng tìm nhữngh giúp đỡ hại cán bộ nhữngh mạng. Bị đẩy vào tình huống nguy cấp, Thơm bộc lộ tính nhữngh quyết liệt, khéo léo và có bước ngoặt tâm lý rõ ràng trên con đường giác ngộ Cách mạng. Lời nói như lời thề: “Tôi không bảo hai ông đâu. Tôi chết thì chết, chứ tôi không bảo hai ông đâu” là đỉnh cao của tính bi tráng về mặt tình huống của vở kịch. Cái bi tráng ở đây là chất anh hùng trong sự cùng khổ, trong tình huống khó khăn ngàn cân treo sợi tóc, những con người một lòng vì Cách mạng đã thể hiện tinh thần quả cảm, không đầu hàng trước khó khăn thử thách. “Có lối thông ra ngoài đấy, khép cửa buồng lại”. khép lại tình huống đầy căng thẳng, kịch tính. Vợ một tên Việt gian sừng sỏ đã che giấu, bảo vệ cán bộ Cách mạng cho thấy, Thơm đã hoàn toàn giác ngộ, thể hiện tấm lòng của nhân dân với đường lối của Đảng.

Tính bi tráng cũng thể hiện ở xung đột giữa Thơm và Ngọc. Trong từng hành động và lời nói, Ngọc dần bộc lộ bản mặt bán nước, một tay sai đắc lực cho bọn Tây. Đêm nào hắn cũng đi lùng bắt cán bộ. Hắn được thưởng rất nhiều tiền từ những việc làm bất nhân tính của hắn, hắn mơ hàm cửu phẩm, lúc nào cũng nghĩ đến danh tính: “”Chỉ mình là đen, không tồn tại danh phận gì, lép vế trong làng quá!”. NGoài ra, hắn còn đặt điều bôi nhọ anh Thái, phá bỏ hình tượng về anh Thái trong mắt Thơm. Với Thơm, anh Thái là người “bỏ cả cửa nhà đi làm nhữngh mạng”, “cả vùng này, có ai ghét ông ấy đâu!”, như Ngọc lại bịa đặt: “mật thám cho Tây đấy “, lúc thì lại bảo anh Cửu và ông Thái là “hai cái thằng tướng cướp. Bắt được hai thằng ấy thì cũng được vài Nghìn đồng”. Chính từ những xích míc về mặt tư tưởng giữa Thơm và Ngọc như vậy đã gây ra những xung đột tâm lí từ phía Thơm.

Khi ông Thái và anh Cửu đang trốn trong buồng nhà Thơm, ở dưới là lí trưởng, bọn tay sai, bọn lính Tây đang lùng sục và cả Ngọc, anh xã của Thơm, tình huống này đã thể hiện tính bi tráng điển hình. Ngọc chần chừ trong nhà, nán lại nói chuyện với Thơm, đếm tiền, cười cợt, ngắm vợ, rồi còn thốt lên: “Chắc là nó còn ở đấy, nhất định là nó còn ở đấy!…”. Đứng trước tình huống như vậy, Thơm không tỏ ra sốt ruột dù trong lòng như lửa đốt mà tỏ ra rất nhẹ nhàng, tình cảm, dùng lời nói ngọt ngào:”Mai thì ở nhà mà ngủ cho nó lại sức” thể hiện thái độ ân cần, quyên tâm, đồng thời khéo léo thúc đẩy Ngọc đi: “Thế nào có đi không?” lúc nghe tiếng quan gọi. Thơm đóng kịch giỏi hay là vì quá lo lắng cho hai cán bộ mà cô đã dìm nỗi sợ hãi của tớ xuống. Qua mắt được tên Việt gian khôn ngoan, mà người đó còn là anh xã mình, tác giả đã thể hiện tâm trạng nhân vật đầy tính bi tráng, trong khó khăn, gian khổ nhưng luôn ứng biến kịp thời, lộ rõ chất anh hùng, dũng cảm chảy trong huyết thống.

Tính bi tráng thể hiện rõ nhất qua hình tượng nhân vật Thơm, người phụ nữ hơn sáu chục năm về trước. Vượt qua cảnh ngộ đau thương mất mát, mất cha mẹ, Thơm được con đường nhữngh mạng soi sáng, sẵn sàng hi sinh vì nhữngh mạng. Tinh thần của những nhân vật trong vở kịch giống như tinh thần của những người lính ra trận, sáng chói, quyết tâm. Nhân vật Thơm là một sự thành công của tác giả trong việc xây dựng hình tượng nhân vật, qua đó thể hiện tính bi tráng của tác phẩm. Trong khổ đau, gian khó, họ vẫn bộc lộ tính thần cao quý, hùng tráng của người con nhân dân trung thực, quả cảm. Tính bi tráng trong hồi IV vở kịch Bắc Sơn được thể hiện qua nhiều khía cạnh, từ nhân vật đến tình huống. Nói về tính bi tráng trong khuôn khổ Vũ Lăng nói riêng hay đúng là toàn thể lãnh thổ Việt Nam, những người chiến sĩ nhân dân dũng cảm, không ngại xả thân vì tổ quốc.

Bằng ngòi bút sắc sảo và nhữngh xây dựng tình huống truyện kịch tính, Nguyễn Huy Tưởng thể hiện sự tin tưởng vào con đường nhữngh mạng – con đường duy nhất để đi tới độc lập dân tộc, đồng thời thể hiện sự thương yêu và trân trọng với những người thật thà, chân phương mà giàu sức sống, giàu lòng quyết chiến quyết thắng.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 8

Có một người con của quê nhà Dục Tú đã đưa vào tác phẩm của tớ một hiện thực nhữngh mạng và kháng chiến với đậm chất anh hùng và không khí lịch sử. Con người ấy cùng với vở kịch Bắc Sơn đã mở đầu cho nền văn học kịch nhữngh mạng của nước nhà. Đó là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, người luôn tôn vinh tinh thần dân tộc và cảm hứng lịch sử mà đoạn trích vở kịch Bắc Sơn với diễn biến nội tâm của nhân vật Thơm khi đứng trước những lựa chọn là một minh chứng tiêu biểu. Quả đúng như nhận định: “Ai cũng phải đối diện với lựa chọn khó khăn ít nhất một lấn trong đời. Nhưng khi đã vượt qua sự lựa chọn, người ta sẽ hiểu mình là ai và có được sự thanh thản”

Cuộc sống luôn đặt chúng ta giữa nhiểu lựa chọn và không dễ gì đưa ra quyết định đúng đắn. Đó là quy trình của sự đấu tranh nội tâm gian khổ nhưng khi đưa ra lựa chọn, con người không những hiểu vê’ bản thân mình mà í còn có được thú vui sống, sự yên tĩnh trong tầm hồn. Nhân vật Thơm – nhân vật trung tâm của đoạn trích, là con gái của cụ Phương và là chị của Sáng – hai người chiến sĩ nhữngh mạng đã chiến đấu và hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dần tộc. Nhưng Thơm cũng là vợ của Ngọc – một tên Việt gian, tay sai đớn hèn dẫn Pháp về tiến công làng Vũ Lăng, gây đau thương cho chính đổng bào mình, gây thiệt hại nặng nê’ cho nhữngh mạng. Thái và Cửu, hai chiến sĩ nhữngh mạng trong những khi bị Ngọc lùng bắt đã chạy nhẩm vào trong nhà hắn, may thay chỉ có Thơm ở nhà. Chính lúc này, chúng ta được chứng kiến sự chuyển biến mạnh mẽ, dứt khoát về cả tâm trạng và hành động của nhân vật Thơm.

Thơm, từ chỗ thờ ơ, sợ liên lụy, đến sự ân hận khi cha và em hi sinh cho nhữngh mạng. Và rồi, cô càng bị giày vò khi chổng làm tay sai cho giặc. Chính lúc ấy, nhân vật được đặt vào tình huống cực kì gay cấn, căng thẳng. Thái và Cửu, hai chiến sĩ nhữngh mạng bị Pháp truy lùng gắt gao chạy thẳng đến trước cửa nhà của cô, trong những khi Ngọc – anh xã cô lại đang lùng bắt những anh và hoàn toàn có thể trở về nhà bất kể lúc nào. Tình huống ấy yêu cấu Thơm phải nhanh gọn suy tính và đưa ra lựa chọn dứt khoát. Hai lựa chọn trước mắt cô lúc này là đứng vể phía nhữngh ; mạng, cứu hai người chiến sĩ hay tiếp tục đứng ngoài mà để mặc Thái và Cửu bị bắt. Sau này cô sẽ sống trong sự day dứt lương tâm. Đây quả thực là “lựa chọn khó khăn” trong cuộc đời Thơm.

Đứng trước lựa chọn ấy, Thơm luống cuống, hốt hoảng: “Chết nỗi, hai ông bị chúng nó đuổi phải không? Làm thế nào lúc này? Ngọc nó vừa mới đi, chắc… Tôi không báo hai ông đâu. Tôi chết thì chết, chứ tôi không báo hai ông ý đâu. Nhưng làm thế nào hai ông đi được lúc này?”. Vậy là cô đã đưa ra quyết định sẽ đứng vê’ phía nhữngh mạng, sẽ cứu Thái và Cửu. Nhưng một cô nàng vốn yếu ớt, quen sống an nhàn như Thơm khi đưa ra lựa chọn này cũng vẫn chưa nghĩ ra nhữngh giúp hai chiến sĩ nhữngh mạng trốn thoát, vì thế cô càng hoảng sợ và lo lắng.

Ngay lúc ấy, Ngọc lại về, tình huống càng cam go, nguy hiểm. Chính lúc này, Thơm quyết định hành động “chỉ vào buồng” và nói: “Hai ông đừng đi đâu, hãy tạm vào đó, may ra…”. Mặc dù lối xưng hô vẫn đầy xa nhữngh nhưng ta đã thấy có sự thân quen, gần gũi hơn “ngoan ngoãn và mau lẹ, thân thương như một người em gái” với hai anh trong gia đình.

Cùng với lựa chọn này, Thơm thoát khỏi tình trạng day dứt để đứng hẳn về phía hàng ngũ quần chúng có cảm tình với nhữngh mạng. Đây không phải lựa chọn ngẫu nhiên, may rủi. Nguyễn Huy Tưởng cũng không xây dựng tâm lí nhân vật gò ép, gượng gạo mà có sự biến chuyển dẩn dần và có những tác nhân thúc đẩy. Quyết định đứng vê’ phía nhữngh mạng không những với sự ăn năn, hối hận vê’ sự hi sinh anh dũng của cha và em, nối tiếp truyền thống của gia đình mà còn bởi lòng thương người, sự kính phục đối với Thái. Nếu như trước đầy, Thơm chỉ biết đến Thái qua lời kể thì ngay từ lần gặp thứ nhất này, sự dũng cảm, sáng suốt, bình tĩnh của Thái đã cảm hóa, thức tỉnh Thơm. Cũng như những chiến sĩ nhữngh mạng khác, đặt niềm tin nơi nhân dần, Thái tin tưởng Thơm, tin vào dòng máu cụ Phương. Mà cũng nhờ niềm tin ấy, Thơm mới đưa ra lựa chọn và quyết định dứt khoát, mau lẹ và đúng đắn như vậy.

Quyết định ấy càng được khẳng định khi Ngọc trở về. Để che giấu, bằng sự thông minh, nhanh nhạy của tớ, Thơm nói chuyện với Ngọc hết sức thân thương, dịu dàng để đánh lạc hướng. Trong cuộc hội thoại với Ngọc, Thơm càng nhận rõ bộ mặt gian xảo, tham quyền chức địa vị, lòng thâm thù của chổng. Từ chỗ khéo léo: “Chỉ thương anh thẳng Sáng vất vả” đến chỗ tài trí, nói to: “Đẳng sau nhà! Ở chỗ buồng đi ra đấy à” như một nhữngh báo tin cho hai người chiến sĩ, cũng thể hiện sự lo lắng thực sự của cô, lo lắng đến cuống quýt: “Sao lại đợi ở đấy? Sao không mời những ông ấy lên chơi cả cho vui có được không?”. Nhận ra bộ mặt thật của Ngọc, Thơm càng hiểu rằng lựa chọn của tớ là đúng đắn. Ngay cả trong gian nguy, khó khăn, bị kẻ thù đàn áp khốc liệt thì tình cảm nhữngh mạng vẫn nhen nhóm trong lòng mỗi người như một ngọn lửa, chỉ đợi gió vể là cháy sáng rực rỡ. Cách mạng không thể bị tiêu diệt chính vì nó luôn tiềm tàng khả năng cảm hóa, thức tỉnh quần chúng nhân dân và luôn được nuôi dưỡng bởi tinh thần đoàn kết, tình quần dân cá nước.

Thể hiện nhân vật Thơm trong sự chuyển biến tâm lí tài tình, hợp lí và bước ngoặt quan trọng khi đưa ra lựa chọn là nghệ thuật viết kịch tài tình của Nguyễn Huy Tưởng. Xây dựng xích míc, xung đột kịch trong chính nội tâm Thơm, tổ chức đối thoại khắc họa rõ nét tính nhữngh nổi trội của từng nhân vật: Cửu anh dũng, quả cảm, kiên quyết loại trừ Việt gian nhưng nóng nảy, bộc trực; Thái bình tĩnh, sáng suốt, luôn đặt niềm tin ở quần chúng nhân dân, có sức mạnh cảm hóa con người; Ngọc gian xảo, thâm thù, tham lam quyền thế.

Qua đó, tính nhữngh nhân vật Thơm càng nổi trội là một người phụ nữ Tày được nhữngh mạng cảm hóa, soi đường, vượt qua những đau thương trong quá khứ đến với nhữngh mạng và hết lòng vì nhữngh mạng. Người phụ nữ can trường ngay trước khi bị xử bắn vẫn dõng dạc: “Tôi đố anh phá nổi quân du kích, tôi thách thằng Tây phá nổi quân du kích”. Đó là niềm tin mãnh liệt và tình cảm của nhân dân với nhữngh mạng. Ở Thơm là vẻ đẹp của quần chúng nhân dân và cũng là vẻ đẹp của người phụ nữ, là một hình tượng “cực kì chói lọi, một thành công đặc sắc của Nguyễn Huy Tưởng khi viết về nhữngh mạng và người phụ nữ Việt Nam”.

Cuộc kháng chiến bi tráng, hào hùng của dân tộc đã qua đi, nhưng trong từng câu văn, trang viết, ta vẫn thấy thấm đượm tình người, sâu sắc tình quân dân. Đó là những người dân áo vải “không ai nhớ mặt đặt tên. Nhưng họ đã làm nên Đất nước” là đổng bào Tây Nguyên đã quật cường, mạnh mẽ chống Pháp được khắc họa qua nhân vật Núp trong Đất nước đứng lên; những con người “mang theo tên làng, tên xã trong những chuyến di dân” bằng tình cảm và niềm tin vào nhữngh mạng như ông Hai trong truyện ngắn Làng hay những cảnh đời nghèo khổ, bị nạn đói bủa vầy đã nhìn thấy hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trong Vợ nhặt. Là những “bát cơm nuôi quân em giấu giữa rừng”, là người phụ nữ “dịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”, những người mẹ Việt Nam anh hùng, bà mẹ Vệ quốc quân “yêu con, yêu luôn đồng chí/ Bầm quý con, Bấm quý anh em”. Nền văn học kháng chiến với những tượng đài bằng chữ về nhân dân, về cội nguồn nhữngh mạng đã phản ảnh hiện thực đấu tranh của một thời với nhiều khó khăn, nguy hiểm nhưng ấm cúng tình đời, mạnh mẽ tinh thần đại đoàn kết toàn dần.

Những lời đối thoại sau cuối của hai lớp kịch hổi bốn vở Bắc Sơn hoàn toàn có thể khép lại, nhưng sự kiện nhữngh mạng và những nhân vật mới của thời đại là quẩn chúng và người chiến sĩ nhữngh mạng còn sống mãi trong lòng ta. Nhân vật Thơm là đại diện cho cả một xã hội đang chuyển mình mạnh mẽ, dứt khoát đi theo con đường nhữngh mạng, giành lấy sự an yên trong tâm hổn, tiếp nối và phát huy truyền thống yêu nước của mỗi gia đình, mỗi vùng miền, góp phẩn làm nên thành công của cả một dân tộc anh dũng, kiên trì.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” số 9

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (1912-1960) quê ở xã Dục Tú, huyện Đông Anh – Hà Thành. Ông bắt đầu viết văn từ trước 1945. Sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng tôn vinh tinh thần dân tộc và giàu cảm hứng lịch sử. Từ sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Huy Tưởng là một trong những nhà văn chủ chốt của nền văn học nhữngh mạng. Văn bản Bắc Sơn được trích từ vở kịch cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng, viết về cuộc đấu tranh giữa những người dân yêu nước, ủng hộ nhữngh mạng với những kẻ phản động, bán rẻ lương tâm, sẵn sàng quỳ gối làm tay sai cho giặc thời nhữngh mạng Việt Nam còn trong trứng nước.

Các sự việc trong đoạn trích này ra mắt chủ yếu ở gia đình Thơm – Ngọc. Trước cái chết của cha, Thơm dần dần nhận thấy bộ mặt phản bội của Ngọc. Cô cực kì đau xót, ân hận. Thái và Cửu bị giặc truy bắt đã chạy nhầm vào trong nhà Thơm, được Thơm che giấu và cứu thoát.

Trong một vở kịch, tình huống đóng vai trò hết sức quan trọng. Nó thúc đẩy nhanh diễn biến sự việc, buộc những nhân vật phải hành động, qua đó bộc lộ tính nhữngh, phẩm chất cũng như tư tưởng, quan điểm… Xung đột kịch trong hồi bốn được bộc lộ qua tình huống hết sức căng thẳng. Ngọc dẫn bọn lính đi lùng bắt cán bộ và du kích. Thái và Cửu bị Ngọc và đồng bọn đuổi bắt lại chạy đúng vào trong nhà Ngọc. Tình huống ấy buộc Thơm phải có sự lựa chọn dứt khoát: hoặc là để cho Ngọc bắt cán bộ thì được yên thân, hoặc là che giấu họ ngay trong nhà mình thì sẽ cực kì nguy hiểm. Bằng việc che giấu cho hai người, Thơm đã đứng hẳn về phía nhữngh mạng.

Sự xuất hiện của hai người cán bộ nhữngh mạng ở Lớp II đã đẩy xích míc kịch phát triển theo một chiều hướng khác. Trong hoàn cảnh bị địch truy bắt, niềm tin của những người cán bộ nhữngh mạng đối với quần chúng nhân dân có ý nghĩa sâu sắc cực kì quan trọng, liên quan đến sinh mệnh của mỗi người, rộng hơn nữa là liên quan đến sự thành bại của nhữngh mạng.

Trong lớp kịch này, sức hấp dẫn từ nhân vật Thơm không phải là cuộc đấu tranh giữa cái sống và cái chết, cũng không ở sự đắn đo nên che giấu hay khai báo việc hai người cán bộ đang ở trong nhà mình. Khi Cửu và Thái mới xuất hiện, Thơm có hoảng hốt nhưng chủ yếu là do bị bất ngờ. Qua phút hốt hoảng lúc đầu, Thơm đã quyết bảo vệ hai người cán bộ. Cô không do dự đến mối nguy hiểm khi cả gan che giấu cán bộ nhữngh mạng mà chỉ lo lắng vì không biết bảo vệ họ ra sao. Hoàn cảnh bức bách đã làm bật lên hành động cao đẹp của một quần chúng yêu nước. Cô nhanh trí đẩy họ vào buồng trong (theo phong tục của nhiều dân tộc thiểu số, gian buồng là nơi kiêng kị đối với người lạ). Bằng nhữngh táo bạo ấy, cô đã khiến cho Ngọc không mảy may nghi ngờ.

Ở Lớp III, tính chất khốc liệt và éo le của hoàn cảnh đã đẩy xích míc kịch phát triển đến đỉnh cao. Một bên là Thơm, người đã cả gan vượt khỏi tập tục, chống lại anh xã, che giấu cán bộ nhữngh mạng ngay trong buồng nhà mình. Một bên là Ngọc, đang trong cuộc vây bắt cán bộ để lập công với kẻ thù. Ngọc hoàn toàn không biết những người cán bộ mà hắn rắp tâm truy bắt để lập công lại đang ở ngay trong buồng nhà mình. Hắn nấn ná ở lại, không chịu đi ngay chỉ vì ham quấn quýt với người vợ tươi trẻ của tớ.

Hoàn cảnh trớ trêu đó đã làm cho tính kịch được tô đậm. Ngọc chỉ vô tình nhưng hắn càng nấn ná thì Thơm lại càng sốt ruột. Diễn biến tâm lí của nhân vật ra mắt khá phức tạp, hoàn toàn có thể hình dung theo những giai đoạn: Ban đầu, Thơm giả bộ ngọt ngào với anh xã, lại còn tỏ ra ân hận về những lời nói không phải với anh xã trước đó, mục đích để Ngọc không nghi ngờ gì. Khi biết lối ra vườn đã vô tình bị chặn (do đồng bọn của Ngọc đợi hắn ngoài đó), Thơm cố tình nói to lên để cán bộ biết mà đề phòng, không ra theo lối ấy. Thơm tìm nhữngh đẩy anh xã đi để nhanh gọn giải thoát cho hai người cán bộ. Điều này hoàn toàn xích míc với thái độ của Thơm lúc đầu (cố giữ anh xã ở nhà). Mặc dù tỏ vẻ ngạc nhiên nhưng rất may là Ngọc không nhận thấy sự bất thường đó có nghĩa gì.

Trong lớp này, mọi lời nói, hành động của Ngọc chỉ vô tình nhưng sự vô tình đó lại làm cho vở kịch thêm hấp dẫn. Người nghe, người xem hồi hộp theo dõi mọi lời nói, hành động của nhân vật Thơm. Thơm ở trong tình cảnh rất khó xử: nếu đẩy anh xã đi lộ liễu quá sẽ làm cho hắn nghi ngờ. Nếu giữ anh xã lại như lúc đầu, biết đâu hắn chẳng ở lại thật, như thế hai người cán bộ sẽ gặp phải nguy hiểm. Bởi vậy, một mặt Thơm phải khéo nói dựa theo những lời của anh xã khiến hắn không nghi ngờ gì, mặt khác lại phải tìm nhữngh đẩy hắn đi thật nhanh. Lòng tin và quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ nhữngh mạng đã khiến Thơm trở thành nhanh trí, chính xác trong lời nói cũng như việc làm. Cô không những đã cứu cho hai người cán bộ khỏi bị địch bắt mà còn mang đến cho họ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng.

Trong hồi bốn, Ngọc đã bộc lộ đầy đủ thực chất cua một tên Việt gian bán nước. Vốn chỉ là một anh nho lại có địa vị thấp kém, Ngọc nuôi tham vọng ngoi lên để thoảm mãn lòng ham muốn địa vị và tiền bạc. Khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, Ngọc đã rắp tâm làm tay sai cho giặc. Hắn dẫn quân Pháp về đánh Vũ Lăng – căn cứ của lực lượng khởi nghĩa, sau đó lại ra sức truy lùng những người nhữngh mạng, đặc biệt là Thái và Cửu. Tuy Ngọc cố che giấu nhưng dần dần thực chất xấu xa của Ngọc đã bị lộ ra, điều đó càng thúc đẩy Thơm dứt khoát đứng về phía nhữngh mạng.

Trong hổi bốn, Thái và Cửu chỉ là những nhân vật phụ, xuất hiện trong chốc lát. Bị giặc truy đuổi, lại chạy nhầm vào chính nhà tên Ngọc nhưng Thái đã hết sức bình tĩnh, sáng suốt, đồng thời rất tin tưởng vào sự ủng hộ của quần chúng, trong cả khi đó là vợ cua rmột tên Việt gian. Khác với Thái, Cửu có phần nôn nóng, thiếu chín chắn. Anh nghi ngờ Thơm, thậm chí còn định bắn cô…Việc tác giả xây dựng những tính nhữngh vừa đối lập vừa khác lạ ấy cũng là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy hành động kịch, đồng thời tạo được sức thu hút đối với bạn đọc.

Tuy xích míc vẫn chưa được đẩy đến mức gay gắt, quyết liệt nhưng đoạn trích (và tác phẩm nói chung) đã tạo ra được sức hấp dẫn lớn đối với người đọc, người xem chính vì nó đã đưa ra và giải quyết được những vấn đề lớn của nhữngh mạng: đó là mối quan hệ giữa nhữngh mạng và nhân dân, là niềm tin của người cán bộ nhữngh mạng vào tình cảm yêu nước cũng như lòng nhiệt tình nhữngh mạng của quần chúng. Vở kịch đã chứng tỏ rằng: khi đã được nhân dân tin yêu và bảo vệ, những người chiến sĩ nhữngh mạng hoàn toàn có thể vượt qua bất kể trở ngại, khó khăn nào.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 9 Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng, Top 9 Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng, Top 9 Bài văn phân tích đoạn trích vở kịch “Bắc Sơn” của Nguyễn Huy Tưởng

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể, SEO web site cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, kết quả.

Nguồn: toplistUSD

Scores: 5 (130 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn