Lịch sử văn học Nhật Bản qua các thời kì cập nhật mới nhất 2023

Văn học Nhật Bản

Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới[1] nảy sinh trong môi trường nhân dân rộng lớn từ thuở bình minh của các bộ tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập[2]. Những cội rễ của nền văn học này có từ thời tối cổ, và những kiệt tác thành văn đầu tiên có thể được xác định vào thế kỷ thứ 7 thậm chí sớm hơn.

Lịch sử văn học Nhật Bản có thể được chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với cách phân kỳ lịch sử thường gặp trong nhiều nền văn học thế giới nói chung. Tuy nhiên, trong cuốn Nhật Bản văn học toàn sử do Tokyo Kodanshā xuất bản, văn học Nhật Bản được chia làm 6 thời kỳ ứng với 6 tập của cuốn sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại[3].

Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản:

Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới ra đời ngay từ thuở bình minh của các bộ tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập. Những cội rễ của nền văn học này có từ thời tối cổ, và những kiệt tác thành văn đầu tiên cũng được chắp bút rất sớm, vào khoảng thế kỷ 7, 8 hoặc có lẽ sớm hơn.

Văn học Nhật Bản được chia làm 6 thời kỳ và đặc điểm văn học của mỗi thời cũng gắn liền với sự thay đổi về kinh tế – chính trị – xã hội lúc bấy giờ: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại.

KSJNsN7 TJowDM2hBxfY7XLdoaXoY8PtBKn9xrPpDhrDhVU O1kfI H54gF4DY6UkwjWTCZ5FcA3C2rSTyBlCgbOanWyJKczKsvdOl8hSBgwGqTyR 6 siKgjwoMX7T1cJGDPCmq

2. Văn học Nhật Bản qua từng thời kỳ

2.1. Văn học Nhật Bản thời Thượng cổ: (300 – 794)

Văn học Thượng cổ hay còn được gọi là Văn học thời Yamato, là thời kỳ văn học mà trung tâm văn hóa, chính trị của Nhật Bản ở Yamato (Nara ngày nay). Văn học Thượng cổ bắt đầu từ năm 300 đến năm 794, khi thủ đô của Nhật Bản được dời tới Heian (nay là Kyoto)

1.Bối cảnh lịch sử:

Từ thời Jomon, con người đã quen với cuộc sống săn bắt hái lượm, đàn ông vào rừng săn bắt, phụ nữ ở nhà nấu nướng chăm con. Các gia đình thường tụ tập lại với nhau sau giờ ăn tối để nhảy múa, ca hát. Đó cũng là manh nha cho khởi đầu của sự phát triển nền văn học Nhật Bản.Tuy nhiên, cuộc sống tự do tự tại đó dần thay đổi khi con người chuyển từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt chăn nuôi, tự cung tự cấp.

Đầu thế kỷ 2, một số bộ tộc, bộ lạc ra đời ở ven những con sông lớn. Đến thế kỷ 4, 5 triều đình Yamato đã thống nhất những bộ lạc đó và thành lập nên một quốc gia thống nhất, với người đứng đầu và nắm quyền lực tối cao là Thiên hoàng.Vào thế kỷ 7, 8 Thái tử Shotoku sau khi đi “du học” từ Trung Quốc – nền văn hóa vốn đang phát triển vô cùng mạnh mẽ lúc bấy giờ, đã đem những công nghệ, văn hóa và tư tưởng học được truyền bá trong dân gian. Từ đây, các kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi dần dần phổ biến với người Nhật, đồng thời các ký tự Trung Quốc cũng manh nha phát triển tại đây.

2.Đặc điểm văn học thời Thượng cổ:

Cũng giống như tất cả các nền văn học khác trên thế giới, khởi nguồn của văn học Nhật Bản thuở sơ khai chưa có chữ viết chính là văn học dân gian. Người ta tin rằng hiện tượng phát sinh thế giới con người và thế giới tự nhiên vượt qua năng lực của con người, là do hành động của thần linh, nên kính sợ và sống với những niềm tin và cơ sở sinh hoạt như vậy.Những câu chuyện thần thoại, cổ tích hay truyền thuyết về mối quan hệ của những sự vật tự nhiên như mặt trời, mặt trăng,…và con người được “kataribe” (tức là những người chuyên về việc kể truyền thuyết và ghi chép việc cũ ở triều đình ) kể lại. Tuy nhiên, do chỉ là truyền miệng nên không tránh khỏi những sai sót và dị bản.

Từ sau cải cách Taika việc ghi chép bằng chữ Hán mới bắt đầu. Đó cũng là thời điểm ra đời những tập thơ, bộ sử được coi là nguồn nguyên liệu phong phú đối với nền văn học các thế kỷ sau. Do đã có chữ viết nên văn học ít nhiều cũng chuyển từ những tác phẩm mang tính tập thể sang những sáng tác cá nhân.

3. Các tác phẩm văn học Nhật Bản nổi tiếng:

  • 古事記:(Kojiki) – Cổ ký sự

  • Đây là tác phẩm cổ nhất còn sót lại ở Nhật Bản.
  •  ‘’Cổ sự ký’’ được Ono Yasumaro viết vào thế kỷ thứ 8, hoàn thành trong vòng 5 năm theo lệnh của Hoàng đế. Cuốn sách bao gồm những câu chuyện về hoàng gia được Ono Yasumaro đã biên soạn lại theo trí nhớ của Hieda No Are.
  • Cổ sự ký (Kojiki) được chia làm 3 quyển:
  • Quyển thượng – gồm cả lời tựa, tập trung vào các vị thần sáng tạo và sự ra đời của nhiều thần khác nhau.
  • Quyển trung –  bắt đầu với câu chuyện về Thiên hoàng Jimmu, Thiên hoàng đầu tiên của Nhật Bản và kết thúc ở Thiên hoàng thứ 15, Thiên hoàng Ōjin. Nhiều câu chuyện trong đó chỉ là thần thoại, và các thông tin lịch sử trong đó ít tính thực tế. Chưa rõ lý do vì sao thành tích của các Thiên hoàng từ thứ 2 tới thứ 9 không được ghi lại. Các nghiên cứu gần đây cho rằng những Thiên hoàng này được tạo ra để lùi việc đăng cơ của Jimmu lại năm 660 TCN.
  • Quyển hạ – chép về các Thiên hoàng từ thứ 16 tới thứ 33, không giống như các phần trước, phần này có rất ít đề cập tới các vị thần. Thông tin về các Thiên hoàng từ thứ 24 tới 33 cũng thiếu sót rất nhiều.

Giá trị về tư liệu lịch sử của Kojiki (mà nhà quốc học Motoori Norinaga đọc theo âm kana thành Furukotobumi) không nhiều nhưng nó cũng đã hoàn thành nhiệm vụ của mình, đó là củng cố quyền lực hoàng gia thị tộc thời bấy giờ. Ngoài ra, “Cổ sự ký” còn có trên một trăm bài ca dao, đã miêu tả sống động được khung cảnh thế giới thời bấy giờ.

 

 

f dT6eMzVY5ZcGgxh ntCYxzYcgBXgNY5CgvoPPW4noFzflkJ0U1zh87sKtNi2 W9HUrs22SN02Hn03nzfFmaS1zm b6OzdE1pndWC 96A5Dv5tyOVgZ94DnOt IMaCFE83BLR5y

  • 日本書紀 (Nihon Shoki) – Biên niên sử Nhật Bản
  • Đây được coi là tác phẩm có tuổi đời cổ thứ 2 sau “Cố ký sự” (Kojiki)
  • Nihon Shoki do Hoàng thân Toneri biên soạn trong vòng 4 năm theo mệnh lệnh của Thiên hoàng và hoàn thành vào năm 720.
  • Biên sử gồm 30 cuốn, trong đó chỉ có quyển 1 và 2 nói về thời các thần, 28 quyển sau nói về thời của con người, có chứa ngày tháng năm rõ ràng, cạnh chính văn còn có các loại biệt truyện bên lề.
  • “Nihon Shoki” được biên soạn nhằm thể hiện uy quyền của thiên hoàng đối với Trung Quốc và Bán đảo Triều Tiên, doo đó mà tác phẩm này được viết bằng tiếng Trung Quốc.
  • Đây là cuốn sách đầu tiên trong số sáu cuốn sách lịch sử được viết theo lệnh của hoàng đế được gọi là “Rikkokushi”.NihonShoki được xem là tư liệu lịch sử và là một nguồn tài nguyên quý giá không chỉ về lịch sử mà còn về văn học, ngôn ngữ và văn tự cổ đại.

QR7MNRjJFGUAJ bBVXoF6uxzgKOd ZlqCJKV7zZZZy01oQYGDijuxjRGKxuJ9Q7DJTdMGQbeiFPyBQNCRRudYL4zsck28VrJlQmJYaXzHhkKbkF19MMg0LD7nVzhqBoKPQxc0 f

 

万葉集 (Manyoshu) – Vạn diệp tập

e51hvGlVSvtyp1kmOAHMNwMLCD9tB6vvqchKsMPjaSAfTyse87UdLl58yyTJexLvKOIoljBX6E D5ws700R7de8TP8kD1SPuCvne6pZhA6NK0ZvwhJQSUeqljzBmKbKmpC18hPbQ

  • Tên của Manyoshu theo nghĩa đen có nghĩa là có rất nhiều bài thơ.
  • Các tác giả của Manyoshu trải rộng từ tầng lớp quý tộc đến bình dân, từ Thiên hoàng đến thường dân, nhưng khoảng một nửa trong số đó là tác giả là không rõ họ tên.
  • Manyoshu gồm 20 quyển chứa một số lượng lớn các bài thơ với hơn 4650 bài.
  • Toàn bộ Vạn diệp tập gồm 20 cuốn với 4496 bài thơ viết bằng chữ Nhật kana hay manyogana, hệ thống ghi âm tiếng Nhật bằng chữ Hán, sử dụng 3 thể thơ truyền thống của Nhật:
  • Tanka (短歌 đoản ca), thể loại thơ với 31 âm tiết trong 5 câu trong theo cú pháp 5+7+5+7+7, chiếm số lượng lớn nhất trong Vạn diệp tập với 4173 bài.
  • Chōka (長歌 trường ca, còn gọi là nagauta), thể loại thơ không giới hạn về số câu, có khi dài đến 150 câu, trong Vạn diệp tập có 262 bài.
  • Sedoka (旋頭歌 toàn/tuyền đầu ca, tức thể thơ lặp lại phần đầu), mỗi bài có 38 âm tiết chia 6 dòng (5+7+7 và 5+7+7), trong Vạn diệp tập có 61 bài.
  • Là một bộ bách khoa thư về văn hóa, con người và đất nước Nhật Bản cổ xưa, Vạn diệp tập bao quát những đề tài hết sức rộng lớn tập trung trong ba mảng chính:
  • Tạp ca (zoka) miêu tả những chuyến ngao du, những bữa tiệc, những truyền thuyết, nói chung là những vấn đề xã hội
  • Tương văn ca (somonka) chủ yếu nói về tình yêu nam nữ
  • Vãn ca (banka) là những bi ca về cái chết.

 

  • 風土記 (Fudoki) – Phong cổ ký:

0Gq18BMlGbQMoS1WQKuz7kbBnQgZMs7JemJUUgYAAM8MJesFNirw Tk 5ltsauFqRjCmYRRPNTGDzCA0wlLR4LPgZFmMzWfiCq6C3LlfBNshHWv63LBpoLR23VIpgLcRb1WiM6 q

 

Loạt sách hầu như viết bằng Hán văn theo giọng văn hành chính lúc đó, là bộ sách được biên tập theo lệnh của Thiên hoàng (thứ 43) Genmei (Nguyên Minh) năm 713, một năm sau khi Kojiki ra đời. Bộ sách này còn được gọi là Ko Fudoki (Cổ phong thổ ký) để phân biệt với các tập Fudoki đời sau. Các địa phương (kuni) phải giải thích kỹ càng về địa danh vùng mình, miêu tả sản vật, địa thế, sao chép các truyện xưa tích cũ hay “cựu văn dị sự” do bô lão kể lại vào đó. Nhờ thế, phong thổ, sinh hoạt của từng địa phương được thu thập trình bày.

Ngày nay, trong số các Fudoki đó, chỉ còn những tập ký lục địa dư (có giá trị dân tộc học lớn) của năm miền là còn truyền lại nhưng không đầy đủ. Trong đó quan trọng nhất là Izumi no kuni no fudoki (Xuất Vân quốc phong thổ ký). Các sách địa dư này được ghi chép ở địa phương, không qua tay trung ương nên tuy lời văn không sắc sảo nhưng lại ghi chép trung thực tâm tình và lối sống của dân chúng thời bấy giờ.

3.Văn học Nhật Bản thời Heian: (794 – 1192)

1.Bối cảnh lịch sử:

  • Đây là thời đại của các hoàng đế, thân vương quý tộc.
  • Sau khi rời đô về Heian nhằm mục đích củng cố quyền lực của một thể chế chính trị có luật pháp, ngôi vị hoàng đế là thứ được quan tâm đặc biệt. Từ nửa sau thế kỷ 9, dòng tộc Fujiwara – những người tích cực móc nối với quan hệ hoàng gia, thành công nắm toàn bộ quyền nhiếp chính.
  • Cho đến cuối thế kỷ 12, dòng tộc Fujiwara cũng như tầng lớp quý tộc giàu có bắt đầu suy yếu, nhường chỗ cho những người đầy tớ giỏi văn thạo võ mà thời bấy giờ, họ gọi là các samurai.

OOT

2.Đặc điểm văn học thời Trung cổ:

Đây được coi là thời đại của văn học quý tộc. Thời kỳ đầu Thượng cổ, có thể nói văn hóa Trung Hoa đang chiếm lĩnh trên toàn thế giới. Tuy nhiên, đến năm 894, Nhật Bản bắt đầu bãi bỏ việc cử sứ thần sang Trung Quốc học tập, đồng thời, chữ Kana – loại chữ viết mà người Nhật sáng tạo dần trở nên phổ biến, đã hình thành nền văn hóa dân tộc mang đặc trưng Nhật Bản vô cùng độc đáo. Chính sự ra đời này đã dẫn đến sự nở rộ cho dòng thơ Waka và sự phát triển của văn học tự sự.

Vào giữa thế kỷ 11, dòng tộc Fujiwara cũng như các thân vương quý tộc khác tích cực đưa con gái vào cung để phục vụ Hoàng đế và các hoàng hậu, phi tần. Rất nhiều người trong số đó có thiên phú về văn chương, đã mở ra thời đại văn học “Nữ lưu cung đình” với nhiều tác phẩm mang giá trị cao.

3. Các tác phẩm văn học Nhật Bản nổi tiếng:

  • 竹取物語 (Taketori Monogatari) – Nàng tiên trong ống tre:

VHwIErHtOGRElbXeVH4qXebluq8NuPpoUDXsELfMF5HTj26hRKf T3zTUv0GtApEb0L5hOuxWV9iHIyjOoVvuEwVZEULYNSHRTa7lyOMot11GUqDDcBaJBvltP7OOc15lVKzeVr

 

Truyện “Nàng tiên trong ống tre”, hay còn được gọi là truyện kể “Công chúa Kaguya”. Đây là truyện kể Nhật Bản xưa nhất còn sót lại và là một tác phẩm điển hình của thể loại tiền-khoa học giả tưởng. Đặc biệt, nó là một trong những văn tự cổ nhất xem Mặt Trăng là nơi có sự sống và có thể di chuyển qua lại giữa Mặt Trăng và Trái Đất.

Truyện kể rằng, ở nơi sơn cước của nước Nhật cổ xa xăm có lão tiều phu chuyên nghề đốn tre rừng mang ra chợ bán. Một hôm lão tìm thấy một cô bé chỉ nhỏ bằng ngón tay cái trong một búp tre đang phát sáng. Vui mừng, lão đem cô bé về nhà và nuôi nấng như con đẻ, đặt tên cô bé là “Kaguya-hime” (công chúa trong ống tre). Kaguya – hime càng lớn càng xinh đẹp, một vẻ đẹp hoa nhường nguyệt thẹn.

Nức tiếng vì xinh đẹp và tài hoa, Kaguya được 5 người đàn ông quý tộc đến cầu hôn. Kaguya yêu cầu họ tìm những sính vật lạ thường làm lễ cưới. Cả 5 người thất bại.

Sau đó, Thiên hoàng cũng tới cửa cầu hôn, nhưng Kaguya cương quyết từ chối và nói rằng, trần gian không phải quê hương nàng. Tuy nhiên 2 người vẫn giữ liên lạc.

Một ngày kia, Kaguya phải quay lại cung trăng, nàng gửi cha mẹ nuôi chiếc áo choàng mình mặc và gửi Thiên hoàng thuốc Trường sinh bất tử đính kèm lá thư từ biệt cho Thiên hoàng đưa gửi nhờ quân lính.

Sau khi nhận được, Thiên hoàng sai lính mang lá thư đến đỉnh núi cao nhất đốt đi với hy vọng, tấm lòng mình thấu tới Kaguya nơi xa, đồng thời cũng đốt đi thuốc trường sinh bất tử. Tương truyền, từ bất tử 不死 (fushi) trở thành tên ngọn núi Fuji bây giờ (富士山).

 

  • 源氏物語 (Genji monogatari) – Truyện kể Genji

eQuwepHOTp9DZNoDg5JU zgxrHdvFvGoUi9RA3VaM CUXc 17D8COz5Y0RIKWXaxeWhi5LnGK43h8bRT3 JKKy1HMwAMypaBVqy89qoQ5h9ZEnmIVRnfOJfJL3iC3jyQSS UvwTR

 

Truyện được sáng tác vào khoảng những năm 1010 thời Heian, được viết bằng chữ Kana. Truyện kể Genji được chắp bút bởi Murasaki Shikibu, một nữ quan dưới trướng thứ phi Akiko.

Tác phẩm gồm 54 chương, xoay quanh nhân vật chính là hoàng tử Genji (ở những phần đầu) và Kaoru, người con trai trên danh nghĩa của Genji (ở những phần sau) cùng mối quan hệ của họ với những người phụ nữ. Tuy còn nhiều tranh cãi, tác phẩm này được đánh giá ngang hàng với Đôn Kihôtê của Tây Ban Nha 6 thế kỷ và Hồng Lâu Mộng của Trung Quốc tới 8 thế kỷ.

3.Văn học Nhật Bản thời Trung thế: (1192 – 1603)

1.Bối cảnh lịch sử:

Thời kỳ văn học kéo dài từ khi ra đời Mạc phủ Kamakura đến khi ra đời Mạc phủ Tokugawa. Đây là lúc chuyển giao giữa thời đại quý tộc sang thời đại võ sĩ, ngoài ra các cuộc nội chiến cũng kéo dài liên miên, do đó đây là thời kỳ văn học bị ảnh hưởng nhiều bởi sự bất ổn về chính trị.

2. Đặc điểm văn học thời Trung thế:

Trong bối cảnh lịch sử đó, con người đã tìm đến Phật giáo như một chỗ dựa tinh thần. Họ bị ảnh hưởng mạnh bởi ý nghĩ về sự “vô thường” – “Vạn vật đều sẽ biến đổi, không có gì tồn tại mãi mãi”. Thêm vào đó, đây cũng là thời kỳ bắt đầu xuất hiện các “ẩn sĩ”. Họ là những người thích sống một mình ở những nơi xa rời trần thế, viết những tác phẩm chính luận dựa trên ý niệm về sự “vô thường”. Tuy nhiên theo thời gian, nền văn học chống đối xã hội đã được các tăng lữ võ sĩ thay thế bằng văn học samurai mạnh mẽ.

3. Các tác phẩm văn học Nhật Bản nổi tiếng: 

  • 平家物語 (Heike monogatari) – Truyện kể Heike: 

 

Heike Monogatari ra đời trong những năm giữa thế kỉ XIII, cuối thời Heian, đầu thời Kamakura.

Câu chuyện theo chân Biwa, chứng kiến cuộc đấu tranh giữa gia tộc Taira và Minamoto để giành quyền kiểm soát Nhật Bản vào cuối thế kỷ 12 trong Chiến tranh Genpei. Heike Monogatari đã vô cùng thành công trong việc tái hiện lại bối cảnh lịch sử thời bấy giờ. Từ cách thiết kế trang phục lẫn lối kiến trúc cung cấm, cho đến những cuộc xung đột chính trị giữa các gia tộc, lý tưởng của các nhà cầm quyền hay số phận của kẻ chiếu dưới. Chỉ bằng những con chữ trên trang giấy trắng, tác giả đã thành công đưa người đọc đắm chìm vào bầu không khí của một trong những giai đoạn đầy biến động trong lịch sử Nhật Bản.

Heike Monogatari đã tái hiện lại quá trình mở đầu, phát triển tới mức hưng thịnh rồi cuối cùng phải lụi tàn của gia tộc Taira lừng lẫy. Sự cai trị độc đoán và tàn bạo; tắm mình trong biển máu của những cuộc thanh trừng phe đối địch; thảm sát, đốt chùa, nhiễu loạn triều chính, dùng thủ đoạn thâu tóm quyền lực… khi còn đang trên đỉnh cao. Để rồi cuối cùng, tất cả những người của tộc Taira đều phải trả giá cho những điều chính họ và bản thân đã gây ra: thất bại thảm hại, bị truy sát sống trong cảnh trốn chui trốn lủi, phải tự tay đốt hết cơ đồ đã dày công xây dựng.

 

  • 新古今和歌集 (Shinkokin wakashu) – Tân cổ kim hòa ca:

catjtamDprGVE5TDsloXFNbCPlIIIi0txtH5h2Drc ShdeoIjvqpFHK2bwlF3dWdtQjbq 9Y9WE i70dUAp

 

“Tân cổ kim hòa ca” (Shinkokin wakashu)  do năm soạn giả Minamoto no Michimoto, Fujiwara no Arie, Fujiwara no Sadaie , Fujiwara No Ietaka, Fujiwara no Masatsun và tăng Jakuren hoàn thành vào năm 1205.

Tháng 11 năm 1201, theo lệnh của Thái thượng hoàng Gotobain, nhóm sáu người các ông Fujiwara Sadaie đã cùng nhau biên soạn Shinkokin wakashu. Chính tay Gotobain đã chọn lọc lại những bài đã được sáu ông đó tuyển lựa và yêu cầu chỉnh sửa theo ý mình. Do đó có thể nói, Gotoba-in đóng vai quan trọng trong quá trình hoàn thành bộ sách này.

Tập Shinkokin wakashu gồm 20 quyển, có khoảng 2000 bài, trong đó thơ của tăng Saigyô là nhiều hơn cả, sau đó đến thái thượng hoàng Gotoba-in, các soạn giả rồi đến các ca nhân nổi tiếng khác như tăng Jien, Fujiwara no Ryokei , Fujiwara no shunzei , công chúa Shokushi, những thi sĩ tiêu biểu của thời ấy..

Tập thơ chủ yếu viết về phong cảnh bốn mùa, lẽ sống, thiên nhiên cây cỏ hoa lá qua góc nhìn của các tác giả.

  • 方丈記 (hojouki) – Phương trượng ký:

mA01qY8N9diFAs7BA 3E uBqwdJxxxwQZjwzp3 7TpFbPxqvzSErDmUdo30n9mcmuVQxdZSQxdiXXOHUisAvLtIzgj1QKr3P2Rm0HLUyxhzWgG dpGyafnVOdTylklp2fPQCCVq3

 

Tập tùy bút “Phương trượng ký” được sáng tác bởi thi nhân nổi tiếng Nhật Bản Kamo no Chomei, vào thời Kamakura. Tùy bút được viết bằng chữ Hán kết hợp với chữ Kana của người Nhật, và sự kết hợp này cũng chính là chữ viết thông dụng của Nhật Bản hiện nay.

Những năm cuối đời, Chomei lui về sống ẩn dật tại núi Hino thuộc vùng ngoại ô Kyōto. Tại đây, ông dựng một cái am nhỏ, bốn bề mỗi bề một trượng (chừng 3m) nên mới gọi là phương trượng. Chōmei ẩn cư trong am, quan sát thế sự đương thời và ghi chép lại nên gọi tác phẩm của mình là “phương trượng ký”. Đây được mệnh danh là tập tùy bút tiêu biểu cho nền văn học Nhật Bản thời trung cổ, và được tôn xưng là “Nhật Bản tam đại tùy bút” cùng với tập tùy bút Makura-zōshi thời Heian và tập Tsurezure-gusa sau thời đại của Chōmei chừng trăm năm.

4.Văn học Nhật Bản thời Edo: (1603 – 1868)

1. Bối cảnh lịch sử:

Mạc phủ Tokugawa ra đời đã ổn định lại trật tự trong nước và thiết lập một chế độ phong kiến mới. Trong 100 năm đầu thời Cận thế, năng suất nông sản và vàng bạc tăng cao khiến thương mại và công nghiệp và phân phối cũng như hệ thống giao thông phát triển vô cùng lớn mạnh. Tầng lớp thợ buôn trở nên giàu có, đặc biệt là ở Osaka và Kyoto những thợ buôn (Akindo) là người nắm trong tay quyền kiểm soát nền kinh tế. Tuy nhiên, từ thế kỷ 18 trở đi, sự bất hợp lý và mâu thuẫn của hệ thống Mạc phủ dần dần gây ra sự bất an trong xã hội. Các cải cách thất bại, thiên tai liên tục xảy ra báo hiệu cho sự suy tàn của một thời kỳ thịnh vượng. Sự lo lắng của người dân sẽ tăng lên đi kèm với đó là những hành động chống lại Mạc phủ. Cuối thế kỷ 19, Mạc phủ Tokugawa lừng lẫy một thời rơi vào sụp đổ.

2. Đặc điểm văn học thời Cận thế:

Văn học của tầng lớp thường dân ra đời và phát triển mạnh mẽ, kế thừa và phát huy nét đẹp của dòng văn học dân gian thời Thượng cổ. Đây là thời kỳ văn học lấy con người làm trung tâm thế giới, “không có gì đáng yêu hơn con người”, mang ý thức mạnh mẽ giải phóng con người. Trong giai đoạn này, nghề in cũng ra đời và phát triển lớn mạnh, khởi đầu cho chính sách Văn trị và phổ cập kiến thức cho con người. Nho giáo là tư tưởng chủ đạo trong những tác phẩm văn học thời Mạc phủ Tokugawa.Ngoài ra, đây cũng là lúc người ta bắt đầu vở kịch Kabuki đầu tiên.

3. Các tác phẩm văn học Nhật Bản nổi tiếng: 

  • Thơ haiku: 

3h4LHMbAtxnzRT5hhJVHCx5dzaJ UdlG wlfwUk3l7lCeWh 4LSc35sY1tXG 18GZzQjHi7GtLqvffgyWzmA0iKCwxKzVCU77

Đây là một loại thơ truyền thống của Nhật Bản, mỗi bài chỉ có 3 câu, khoảng 17 âm tiết, ngắt nhịp 5 – 7 – 5.

Thơ haiku ra đời vào thế kỷ 17 và phát triển mạnh vào thời kỳ Edo (1603 – 1867). Ban đầu, haiku mang sắc thái trào phúng nhưng theo thời gian dần chuyển sang mang âm hưởng lắng tịnh của Thiền tông. Thiền sư thi sĩ lỗi lạc Matsuo Bashō được coi là người khai sinh ra haiku và sau đó, Yosa Buson cùng Masaoka Shiki đã phát triển thể thơ này thêm hoàn thiện, như chúng ta thấy ngày nay.

  • 曾根崎心中 (sonezaki shinju)

HKkh7C3bscQ2bysoBL oAGKqg4iOvtYiy27k fttrvrkrLDVBlRk1 o4a8PpdxEzALwO7B dWba035bEe6x gTRJSfKA tyZg4mpPZg5nyUGpG516tinlm r0HO5PYSUm5rlM43R

 

Vở kịch kabuki “Sonezaki shinju” được chắp bút bởi tác giả Akinari Ueda, hoàn thành vào năm 1776.

Vở Sonezaki shinju gồm ba màn, được trình diễn suốt một ngày một đêm. Nội dung vở kịch kể về chuyện tình của Tokubei, cháu trai một người chủ tiệm dầu và nàng kỹ nữ mà anh đem lòng yêu mến, Ohatsu. Kết thúc vở kịch chính là cảnh Tokubei và Ohatsu quyết định hy sinh bản thân để giữ tình yêu trọn vẹn, tự tử vì tình.

 

  • 女殺油の地獄 (Onna Goroshi Abura no Jigoku) 

 

Vở kịch được chắp bút vào năm 1721, kể về một vụ án giết người có thật tại tỉnh Osaka. Vụ án này đã dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh về các vấn đề tệ nạn xã hội thời bấy giờ.

  • 雨月物語 (Ugetsu monogatari) 

Đây là một bộ truyện sưu tập chín câu chuyện siêu nhiên của tác giả Ueda Akinari , xuất bản lần đầu vào năm 1776.

Lấy phần lớn từ truyện ma truyền thống của Nhật Bản và Trung Quốc, đây là một trong những bộ truyện nổi tiếng nhất Nhật Bản vào thế kỷ 18.

5. Văn học Nhật Bản Cận đại: (1868 – 1945)

1. Bối cảnh lịch sử:

1867 – 1912: Thời kỳ Nhật Bản xác lập quyền dân tộc và lập ra chính phủ Minh trị. Dưới khẩu hiệu văn minh, bình đẳng, dân giàu nước mạnh, nhà nước đã đẩy mạnh việc thúc đẩy các chính sách phương Tây hóa. Tuy nhiên, mặt trái của chính sách này là vẫn chưa giải quyết được các vấn đề nghèo đói hay nạn mù chữ, khiến cho các phong trào chống chính quyền ngày càng nở rộ.

1912 – 1925: Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, làn sóng phương Tây bắt đầu tràn vào Nhật Bản. Chủ nghĩa dân chủ cũng ngày một lan rộng tại đây trong bối cảnh cuộc đại suy thoái đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Những quan niệm đạo đức và phong tục tập quán thời phong kiến dần bị thay thế bằng chủ nghĩa tự do cá nhân. Ở các khu đô thị lớn, người ta thấy hàng loạt các cô cậu thanh niên trẻ khoác trên mình những bộ quần áo phương tây thời thượng, tóc ngắn kiểu cách.Tuy nhiên, trận động đất lớn xảy ra năm 1923 tại vùng Kanto đã khiến kinh tế Nhật Bản rơi vào khủng hoảng trầm trọng và gây ra tình trạng bất ổn trong xã hội.

(1925-1945): Đây là thời kỳ bắt đầu của những biến động chính trị trên thế giới dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Trong tình hình xã hội bất ổn, đời sống của người lao động cũng ngày một vất vả hơn. Đó cũng chính là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn công nhân lao động – tư sản. Hơn nữa, ở 1 quốc gia mà quân đội nắm thế chủ động, dưới chủ nghĩa quân phiệt, NB đã đem quân đi xâm lược các nước thuộc khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam. Những tác phẩm văn học đều được quân đội quản lý nghiêm ngặt, nhà văn, nhà thơ đều bị đặt dưới sự kiểm soát gắt gao của quân đội. Tất cả tư tưởng văn học trái với CN quân phiệt đều bị cấm, bất kỳ ai vi phạm đều bị trừng phạt nặng. Quốc sách Nhật Bản thời bấy giờ đều là những tác phẩm ủng hộ chiến tranh. Một chủ nghĩa sẽ được phân tách ra nhiều trường phái khác nhau.

2.Đặc điểm văn học thời Cận đại:

Do ảnh hưởng của chính sách Minh trị và sự phổ biến của phương tiện truyền thông, các tác giả đều nhận được sự phổ cập giáo dục cơ bản. Điều này khiến cho các tác phẩm văn học thời cận đại mang đậm tính cá nhân, chủ đề chính là đi tìm bản ngã của chính mình.

3. Các tác phẩm văn học Nhật Bản nổi tiếng: 

  • 舞姫 (Maihime) 

Câu chuyện được viết theo dạng hồi ký, kể về mối tình ngang trái giữa một vũ nữ người Đức, Elise và Toyotarō Ōta, một sinh viên trao đổi Nhật Bản.

Cuối thế kỷ 19, Ota nhận được học bổng chính phủ sang Đức. Tại đây, Ota vô tình gặp được Elise, nữ vũ công xinh đẹp và vô cùng thu hút. Không mất quá nhiều thời gian để hai người xác định mối quan hệ và ở bên nhau, trải qua những ngày tháng ngọt ngào như một đôi vợ chồng thực sự. Trớ trêu thay, chính mối tình này lại là hòn đá cản đường Ota đến với thành công. Cuối cùng, chàng sinh viên Nhật Bản đã quyết định lựa chọn sự nghiệp thay vì tình yêu, bỏ lại Elise, người đang mang thai đứa con của anh trong đau đớn và tuyệt vọng.

 

  • 走れメロス (Hashire merosu) 

Sẽ là thiếu sót nếu khi viết về văn học Cận đại mà không nhắc tới Dazai Osamu. Dazai Osamu (1909 – 1948) tên thật là Tsushima Shuji, xuất thân từ một gia đình địa chủ đông con, có cha là chính trị gia. Ông từng bị gia đình từ bỏ, tự tử nhiều lần dù bất thành. Các tác phẩm của Dazai cũng nhuốm màu bi quan và ảm đạm như chính cuộc đời ông

Hashire merosu đề cao lòng tin và tình bạn vững bền giữa hai người bạn Melos và Seli. Cớ sự xảy ra khi Seli bị phán phải chết thay cho Melos nếu Melos không quay về đúng hẹn với đức vua. Thế là, cuộc hành trình chạy đua với thời gian của Melos bắt đầu.

 

  • 坊ちゃん (Bocchan)

RBI2picWBZrupGUXfJfTMT7CU4H8 ztaL9c17mO2NnIjKqNyUbnOJBHx13RDaojLDNuCkRx1LioF Zg44AGNtpQErRalu6SUWf PDStNE29aFyNjqEWdP1Eq97F43z1Ki

 

Một bộ truyện vô cùng nổi tiếng của tác gia Natsume Soseki.

Từ nhỏ, Botchan đã là một cậu bé liều lĩnh, hành động đi trước lời nói nên toàn làm những việc có hại cho bản thân. Mọi người xung quanh, kể cả cha mẹ cậu đều cho rằng nuôi cậu chỉ tổ tốn gạo, ngoại trừ bà hầu gái Kiyo – người luôn hết mực cưng chiều và yêu quý cậu. Chính bà cũng là người đặt biệt danh “Botchan” (cậu ấm) cho cậu. Sau ngày mẹ rồi đến cha lần lượt qua đời, bằng món tiền thừa kế, Botchan hoàn thành sau việc học đại học của mình và bắt đầu công việc dạy toán tại một trường nam sinh ở Matsuyama, một nơi cách xa quê hương Edo (Tokyo ngày nay) của cậu. Mâu thuẫn bắt đầu từ việc Botchan cảm thấy xa lạ với cung cách ứng xử ở vùng quê (nếu không trả tiền thêm ở nhà trọ thì sẽ không được đối đãi tốt chẳng hạn), phải đương đầu với lũ học sinh quậy phá trong trường, sự đạo đức giả của Áo Đỏ và Hề Trống..

Đây được coi là tác phẩm kinh điển của văn học thời Cận đại, nổi tiếng không chỉ ở Nhật Bản mà cả trên toàn cầu.

6. Văn học Nhật Bản Hiện đại: (1945 – nay) 

1. Bối cảnh lịch sử:

Sau chiến tranh, một làn sóng Hoa Kỳ mạnh mẽ bắt đầu tràn vào Nhật Bản, những vấn đề như chủ quyền hay bình đẳng giới vô cùng được quan tâm. Sau khi hồi phục kinh tế, Nhật Bản bắt đầu phát triển mạnh mẽ và vươn mình trở thành con rồng Châu Á. Tuy nhiên, sự tăng trưởng vượt bậc đó cũng gây ra nhiều vấn đề lớn như khoảng cách giàu nghèo, vấn đề chính trị, chủ quyền,…

2. Đặc điểm văn học thời Hiện đại:

Đi cùng với thời đại, các tác phẩm văn học liên tục thay đổi, không chỉ là tiếng nói của cá nhân tác giả, một nhóm tác giả mà còn là sự phản ánh về các vấn đề xã hội đương thời.

Đặc điểm của văn học Nhật Bản

Vai trò của văn học trong nền văn hóa Nhật Bản

Vai trò của văn học và các nghệ thuật tạo hình trong nền văn hóa Nhật Bản có tầm quan trọng đặc biệt. Trong mọi thời đại lịch sử văn hóa Nhật Bản thể hiện khuynh hướng phi logic, phi hệ thống và phi trừu tượng hóa, và người Nhật đã thể hiện tư tưởng của mình không nhiều lắm trong các hệ thống triết học và tôn giáo trừu tượng như người châu Âu thời Trung Cổ nhưng lại biểu hiện trong các tác phẩm văn học cụ thể. Thi tuyển Vạn diệp tập là tác phẩm thể hiện tư tưởng và thái độ của người Nhật thời đại Nara (710-794) rõ ràng hơn tất cả các tác phẩm của học thuyết Phật giáo cùng thời đại. Thời đại Nara cũng điển hình cho sự sản sinh những kiệt tác văn chương nhưng không xuất hiện bất kỳ một hệ thống triết học nào.

Trong lịch sử văn học Nhật Bản vẫn cho thấy đôi khi quy luật trên có ngoại lệ nhỏ, đó là sự trỗi dậy của hệ thống tư tưởng Phật giáo thời đại Kamakura (1185-1333) và Khổng giáo thời Tokugawa. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp Phật giáo của thời kỳ Kamakura, triết lý tôn giáo của những thiền sư Honen và Dōgen cũng không được hệ thống hóa một cách đầy đủ bởi những người kế tục họ, và việc tiếp thu các nhà Khổng giáo thời Edo như Ito Jinsai và Ogyu Sorai có thể có ảnh hưởng đến thời kỳ sau nhưng vẫn không dẫn tới tư duy trừu tượng hơn và tính chất suy đoán rộng lớn hơn. Thực tế cho thấy văn học và nghệ thuật luôn là những lĩnh vực trung tâm của nền văn hóa Nhật Bản, lịch sử văn học Nhật Bản chính là lịch sử tư tưởng và tình cảm Nhật Bản. So sánh với Trung Quốc lại cho thấy một khác biệt, có thể nói một cách ẩn dụ rằng nếu văn học Nhật Bản chuyên trở vai trò của triết học thì văn học Trung Quốc lại được xem như triết học.

Trong mối quan hệ giữa văn chương Nhật Bản và các bộ môn nghệ thuật khác, các nhà nghiên cứu nhận thấy sự gắn kết tương hỗ của chúng rất rõ rệt, khi những bài ca và chuyện kể của các pháp sư mù gẩy đàn tì bà (biwa) là nội dung của những cuốn truyện như Ise monogatari, những bức tranh cuộn emakimono hỗ trợ đắc lực cho việc truyền tải tư tưởng của Genji monogatari thời Heian hay những bản nhạc được sáng tác cho kịch Nō thời đại Muromachi (1392-1568) và kịch joruri thời Edo.

Mô hình phát triển của lịch sử

Văn học Nhật Bản có chiều dài lịch sử đứng thứ nhì thế giới sau văn học Trung Quốc[5], và những cội nguồn xa xưa nhất của nó có thể tìm thấy từ những tác phẩm được viết vào giai đoạn sớm hơn thế kỷ thứ 8. Nhiều nền văn học khác trên thế giới có nguồn gốc xa hơn, nhưng ít nền văn học có truyền thống lâu đời, không thể phá vỡ về cách viết bằng cùng một ngôn ngữ kéo dài cho tới ngày nay. Chẳng hạn, không có nền văn học bằng ngôn ngữ Sanskrit được viết đến thời hiện đại, và các nền văn học nở rộ tại châu Âu như văn học Anh, văn học Pháp, văn học Đức, văn học Italia không thể vạch ra nguồn gốc của chúng xa hơn thời Phục Hưng.

Lịch sử văn học Nhật Bản không chỉ là lâu dài mà còn bao gồm một số đặc điểm riêng biệt trong mô hình phát triển của nó: trong lịch sử văn học Nhật Bản chưa bao giờ có trường hợp một hình thức, phong cách hay một quan niệm thẩm mỹ có ảnh hưởng trong một thời kỳ lại không được kế tục bởi một hình thích mới hơn ở thời kỳ tiếp theo. Cái mới không thay thế mà bổ sung cho cái cũ thay vì loại bỏ cái cũ, rất khác với nền văn học Trung Quốc khi mà tính kế tục truyền thống và tính thống nhất về văn hóa sẽ bị đe dọa nếu một hình thức mới xuất hiện, và cuộc xung đột dữ dội buộc một trong hai cái (thường là cái mới) phải bị loại bỏ khỏi mô hình phát triển của lịch sử. Điều này chưa từng xảy ra ở Nhật Bản, ví dụ, thể thơ trữ tình waka của Nhật Bản tồn tại từ thế kỷ thứ 8 nhưng đến thế kỷ 17 một hình thức mới, thơ haiku, xuất hiện, và hiện nay thơ tự do được thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên cả ba loại thơ trên đều vẫn song hành tới thời hiện đại và chưa thể loại nào mất đi vai trò của chúng trong nền văn học Nhật Bản.

Bởi vì mô hình phát triển lịch sử cơ bản theo nghĩa cái cũ không mất đi, nên có tính thống nhất và tính kế tục đáng kể trong lịch sử văn học Nhật Bản, đồng thời bởi cái mới luôn được bổ sung từ cái cũ, nên với mỗi thời đại mới các hình thức văn học và các giá trị thẩm mỹ trở thành khác biệt và đa dạng hơn.

Ngôn ngữ và hệ thống chữ viết

200px Kokin Wakashu Genei

Một trang viết bằng chữ kana trong thi tuyển Kokin Wakashū, đầu thế kỷ thứ 10

Trong khoảng thế kỷ thứ 5, vì người Nhật chưa có hệ thống chữ viết của chính mình khi lần đầu tiếp xúc với văn hóa của lục địa châu Á, nên hệ thống chữ viết Trung Quốc đưa vào lập tức được thừa nhận. Tuy nhiên, do tính chất đơn âm, tiếng Trung thích nghi ở Nhật Bản chỉ bằng hai phương pháp mô phỏng: hoặc giữ lại nghĩa của chữ và bỏ âm thanh, hoặc giữ lại âm thanh và bỏ nghĩa chữ, và trong thực tế cả hai dạng thức này đều được áp dụng. Âm thanh của tiếng Trung Quốc được giữ lại nhiều trong ba tuyệt tác văn chương cổ điển: Cổ sự kýVạn diệp tập là cách phát âm của miền Nam Trung Quốc thế kỷ 5 và 6, và một số từ trong Nhật Bản thư kỷ là cách phát âm của miền Bắc Trung Quốc thế kỷ 7. Việc dùng chữ Trung Quốc của người Nhật để viết ngôn ngữ của chính mình cũng sáng tạo ra một phương pháp đọc thơ và văn xuôi gốc Trung Quốc theo kiểu cách của Nhật.

Khoảng cuối thế kỷ 8 hệ tiếng Nhật Bản xứ kana được sáng tạo và thừa nhận khiến thời đại tiền Heian đánh dấu bước ngoặt trong chữ viết của ngôn ngữ Nhật Bản. Văn học từ thế kỷ 7 đến thế kỷ thứ 9 của Nhật được viết song song bằng hai ngôn ngữ: Nhật Bản và Trung Quốc (hay chí ít là cách chuyển đổi tiếng Trung Quốc thành tiếng Nhật). Thế kỷ thứ 10 và 11 đánh dấu sự nở rộ của dòng văn chương trữ tình ngọt ngào nữ tính của các nữ sĩ cung đình, những người sử dụng thành thạo hệ văn tự kana nhưng không mấy mặn mà với những sáng tác theo dạng kanbun (Hán văn) rất thịnh hành đối với nam giới trí thức. Tất nhiên, văn học bản xứ được sáng tác bằng tiếng Trung (Kanbun, Hán văn) đã ảnh hưởng đến hệ thống từ vựng của văn học Nhật Bản bản xứ, đổi lại, cũng có sự ảnh hưởng của Nhật Bản được in dấu tương tự đối với loại tác phẩm được viết bằng tiếng Trung. Ví dụ tiêu biểu cho hai hiện tượng này có thể kể đến hai tác phẩm Konjaku monogatariMeigetsu-ki, nó cho thấy sự ra đời sau đó của hai phong cách văn học, một với ảnh hưởng của cách phát âm Trung Hoa, và phong cách kia với hầu như không có ảnh hưởng gần gũi lắm với ngôn ngữ thông tục vốn gắn với cuộc sống hàng ngày của người Nhật khi người này nói với người kia, đã làm giàu đáng kể cho văn học Nhật Bản.

Trong thơ lại cho thấy một bức tranh đặc biệt, người Nhật thể hiện tình cảm của mình trong thơ ca một cách bình thường với thể loại waka (和歌, Hòa ca) viết bằng ngôn ngữ bản xứ, một hình thức thơ phong phú hơn và tinh tế hơn thơ Đường[6]. Tuy nhiên, qua thời gian việc dùng ngôn ngữ Trung Hoa ngày càng nhiều trong thơ và thế giới tình cảm của những thời đại hậu Heian, như Muromachi chẳng hạn, được thể hiện tiêu biểu không chỉ bởi thơ Renga (liên ca) bằng ngôn ngữ bản xứ mà còn bởi thơ Trung Quốc của các thiền sư Gozan.

Trong thời kỳ Minh Trị và cả sau đó, sự hữu ích của từ vựng Trung Quốc được sử dụng lâu dài trong ngôn ngữ Nhật Bản, ngay cả khi người Nhật chịu sức ép phải đưa các khái niệm phương Tây vào ngôn ngữ của họ. Bằng cách sử dụng Hán tự, người Nhật đã thành công trong việc chuyển nghĩa các thuật ngữ, khái niệm có gốc Âu châu, tạo nên sự khác biệt rõ ràng với hoàn cảnh của hầu hết các nền văn hóa không mang tính chất phương Tây khác vẫn còn sử dụng nguyên bản không dịch. Việc lưu tâm đến bản địa hóa các khái niệm ngoại lai từ rất sớm, đã đóng góp phần quan trọng cho tiến trình hiện đại hóa toàn diện nước Nhật, trong đó có văn học, sau cuộc Duy tân Minh Trị.

Cơ sở xã hội

Khuynh hướng hướng tâm

Đặc điểm nổi bật của văn học Nhật Bản chính là khuynh hướng hướng tâm của nó. Hầu như tất cả các tác giả và phần đông độc giả sống ở các thành phố và cuộc sống đô thị cung cấp phần lớn chất liệu cho các tác phẩm văn học. Ở khắp mọi nơi trên đất nước Nhật Bản có thể gặp những bài ca ballad truyền miệng và những câu chuyện dân gian, nhưng chỉ ở thành phố thì các tác phẩm mới được sưu tầm, biên soạn và văn bản hóa lần đầu tiên. Ở Nhật Bản trong bất kỳ thời đại nào, mỗi thành phố đều có xu hướng trở thành trung tâm văn hóa của đất nước và khuynh hướng văn học tập trung vào một xã hội đô thị lớn là nổi bật nhất ở Kyoto từ thế kỷ thứ 9, Osaka vào thế kỷ thứ 17 và Tokyo sau Duy tân Minh Trị 1868, và kể từ thời đại của thi hào Hitomaro đến thời đại Sito Mokichi, không còn một nhà thơ nào còn dùng tiếng địa phương trong tác phẩm của mình. Điều này khá khác biệt với khuynh hướng ly tâm trong văn học Trung Quốc, khi mà các nhà thơ đời Đường không phải bao giờ cũng lấy tư liệu từ kinh đô Trường An mà thường đi qua các tỉnh viết về đặc điểm mỗi vùng. Ở phương Tây khuynh hướng ly tâm trong văn học còn thể hiện rõ ràng hơn ở Trung Quốc: thời Trung cổ của châu Âu là thời đại của người hát rong và của các nhà thông thái đi từ trường đại học này đến đại học khác và viết ra những bài thơ bằng tiếng Latin. Ngay cả trong thời hiện đại ở châu Âu cũng hầu như không có một trường hợp cá biệt nào về hoạt động văn học của Đức hay Ý được tập trung tại các thành phố riêng lẻ, ngoại trừ Paris của Pháp.

Tầng lớp văn học

Sự quy tụ giới học giả uyên bác tại những đô thị tạo thành những trung tâm văn học của Nhật Bản và hệ quả của nó là sự hình thành tầng lớp văn học khá giống với hoàn cảnh phương Tây nhưng lại khác biệt với Trung Quốc, thay đổi từ thời đại này sang thời đại khác khi trung tâm chính trị dịch chuyển. Tầng lớp sáng tác văn học Nhật Bản, có thể coi là giới trí thức tinh hoa về văn hóa, thay đổi đã cung cấp nhiều cách viết mới cho văn học, những giá trị thẩm mỹ và tư liệu cho nó.

Không hoàn toàn hình thành từ thời Nara khi ngọn hải đăng của thi ca Nhật Bản, Vạn diệp tập, là sự quy tụ của mọi tầng lớp từ vua chúa, công nương, tướng lĩnh cho đến người binh sĩ, đốn củi, kẻ ăn mày, nhưng Cổ kim tập (Kokinshu) được biên soạn khoảng 100 năm sau Vạn diệp tập, và 20 thi tập khác ứng với mỗi giai đoạn trị vì của một Thiên hoàng sau đó, đã quy tụ các tác giả hầu như là giai cấp quý tộc từ thế kỷ 9 bao gồm cả tầng lớp quý tộc cấp thấp, nữ sĩ cung đình và các nhà sư, tạo nên một tầng lớp văn học độc quyền.

Khi trung tâm chính trị của Nhật Bản dịch chuyển từ Kyoto sang Kamakura thì giai cấp quý tộc như những nhà thống trị văn đàn Nhật Bản dần bị lấn át bằng tầng lớp quân sự, hình thành các tác phẩm văn chương theo thể loại quân ký (gunki) và thuyết thoại (setsuwa). Tuy vậy, các quý tộc cung đình vẫn chưa kết thúc vai trò lịch sử của họ, dù sự ly gián khỏi xã hội quân sự đã hình thành những trí thức từ bỏ thế giới để sống trong các lều cỏ và đền miếu và một hệ thống văn chương ẩn dật đầu tiên trong lịch sử văn học Nhật Bản.

Ở thời đại Tokugawa tầng lớp quân sự đã bắt đầu học, viết và sáng tạo văn chương như những tác giả của thơ và văn xuôi theo Khổng giáo. Nhưng đồng thời xã hội xuất hiện tầng lớp độc giả mới là dân thành thị (chonin, thị dân). Đầu thời đại Tokugawa tác gia văn học là bộ phận chính của tầng lớp samurai nhưng mạt kỳ Tokugawa không chỉ samurai mà có cả các chonin và thậm chí cả nông dân.

Sau cuộc Duy Tân Minh Trị 1868 tầng lớp văn học Nhật Bản chủ yếu là giới trung lưu đô thị và các nhà văn thường bao gồm các nhóm: tầng lớp samurai, chonin, và những người xuất thân từ địa chủ nhỏ và trung lưu địa phương nhưng thành đạt sự nghiệp của họ tại Tokyo.

Tổ chức văn học

Các nhà văn Nhật Bản điển hình cho sự liên kết chặt chẽ trong tổ chức của họ và thể hiện thái độ đóng cửa đối với các tổ chức khác. Tuy nhiên, vấn đề này thể hiện hai hệ quả rõ rệt: 1. sự liên kết hoàn toàn của văn học trong nền văn hóa của giai cấp thống trị (ví dụ văn học thời đại Heian chiếm vị trí trong giới quý tộc cung đình, trong khi đó văn học thời Tokugawa được hưởng sự giúp đỡ trực tiếp từ xã hội quân sự tập trung và xã hội thị dân), và 2. không có sự hội tụ của các nhà văn Nhật Bản trong các tầng lớp thống trị, văn học không thu hút các tầng lớp thống trị hay nói cách khác nó chưa hề chứng tỏ tầm quan trọng đặc biệt của nó đối với chế độ, thậm chí thể hiện thái độ ẩn dật rõ rệt đối với mọi thể chế chính trị. Sự xa lánh của văn học và sự hình thành các tổ chức bundan (văn đàn) khép kín sau cuộc cải cách Minh Trị thường được xem là hiện tượng đặc biệt: cuộc chiến tranh Thái Bình Dương không ảnh hưởng đến văn học và hầu như không hề có tác phẩm nào phản ánh điều đó ngoại trừ một vài bút ký của các phi công, thủy thủ.

Khuynh hướng các nhà văn thống nhất thành những nhóm đã ít nhiều khiến nguồn tư liệu trong văn học Nhật Bản bị hạn chế. Các nhà văn chuyên nghiệp trở nên rất thống nhất trong nhóm của họ đến nỗi họ dường như không biết gì về thế giới bên ngoài. Những ví dụ về thi ca cho thấy có sự giống nhau đến ngạc nhiên về các chủ đề trong các bài thơ của các hợp tuyển lớn từ tập Cổ kim tập đến Tân cổ kim tập (Shinkokinshu) với những điển tích về hoa anh đào, lá momizi, nhiều bài thơ về trăng nhưng hầu như không có bài thơ về sao. Khuynh hướng đóng chặt này cũng ảnh hưởng lớn với những tiểu thuyết theo thể loại monogatari hậu Truyện kể Genji khi những monogatari này thường liên kết riêng với đời sống quý tộc và không quan tâm đến những bộ phận khác của xã hội. Về cơ bản tình trạng này không thay đổi từ thời đại Kamakura đến thời Muromachi, khi mà thơ renga và kịch nō kế thừa văn hóa cung đình, gunki (quân ký) bắt nguồn từ Heike monogatari, và có lẽ chỉ có thể loại kịch Kyogen thể hiện ít nhiều ngoại lệ: các nhân vật là người phục vụ thuộc tầng lớp samurai, thợ thủ công và vợ của họ, những người mù, kẻ cắp, kẻ lừa đảo v.v. Những ví dụ về thơ viết theo lối chữ Hán (kanshi, Hán thi) trong suốt lịch sử văn học Nhật thời Trung cổ và tiểu thuyết tự thuật (watakushi shosetsu) đầu thế kỷ 20 cũng phản ánh rõ rệt sự hạn chế về mặt đề tài do tác giả của chúng vốn thuộc một bundan.

Thế giới quan

Thế giới quan của người Nhật chuyển biến bởi sự thâm nhập của các hệ thống tư tưởng nước ngoài khác nhau không nhiều bằng sự bám chặt dai dẳng vào thế giới quan bản xứ và vào sự tích hợp bản sắc Nhật Bản đến các hệ thống ngoại nhập. Những ví dụ tiêu biểu về các hệ thống tư tưởng nước ngoài đã ảnh hưởng đến người Nhật có thể tìm thấy trong Phật giáo, Khổng giáo, Cơ đốc giáo và chủ nghĩa Mác. Trong khi đó, thế giới quan bản địa nổi lên ở Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 4 và thế kỷ thứ 5 tạo thành từ một hệ thống tín ngưỡng đa thần phức tạp, bao gồm các yếu tố thờ cúng tổ tiên, đạo Shaman và thuyết vật linh, và có nhiều khu biệt tùy theo địa phương. Lịch sử Nhật Bản cho thấy sự đối đầu giữa hai khuynh hướng này, trong một số trường hợp thế giới quan của nước ngoài được chấp nhận, một số trường hợp khác nó bị phản bác, nhưng phần lớn hệ thống tư tưởng ngoại lai được thích nghi với những nhu cầu của người Nhật. Thế kỷ 7 đến thế kỷ 16 Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong nền tảng văn hóa Nhật Bản, Khổng giáo ảnh hưởng mạnh mẽ giai đoạn từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 15. Cơ đốc giáo chỉ có ảnh hưởng từ cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 và từ cuối thế kỷ 19 trở đi. Cuối cùng, chủ nghĩa Mác bắt đầu ảnh hưởng đến Nhật Bản từ giai đoạn mạt kỳ Minh Trị đến giữa thế kỷ 20 mà khởi điểm với Kōtoku Shūsui (1871-1911) và người kế tục xuất sắc của ông là Kawakami Hajime (1897-1946)[7].

Nền tảng thế giới quan của văn học Nhật Bản có thể được chia thành ba loại: một mặt là các hệ thống tư tưởng từ nước ngoài dưới hình thức nguyên gốc của chúng, khác nhau trong thời đại khác nhau, trong khi mặt khác là tư tưởng Nhật Bản bản xứ còn lại không thay đổi qua lịch sử. Ở giữa hai cực đối trọng nói trên là các hệ thống tư tưởng khác nhau của nước ngoài bị ảnh hưởng hoàn toàn của Nhật. Lịch sử văn học Nhật Bản hiện đại cũng có thể giải thích theo những phản ứng lại ba loại thế giới quan đáng lưu ý này: văn học thời Minh Trị có thể quy vào ba nhóm: phái theo truyền thống một cách khách quan, phái Tây học, phái sáng tạo từ cuộc đối đầu văn hóa Đông-Tây. Tới giữa thế kỷ 20 vẫn có nhiều văn sĩ minh chứng cho đối trọng các thế giới quan khác nhau: Kawabata Yasunari và Miyamoto Yuriko là hai cực, trong khi Kobayashi Hideo và Ishikawa Jun (1899-1987) lại ở giữa hai cực.

Truyện tranh

Manga (tiếng Nhật: kanji: 漫画, hiragana: まんが, katakana: マンガ, Hán-Việt: mạn họa) là một cụm từ trong tiếng Nhật để chỉ các loại truyện tranh và tranh biếm họa. Manga được xem là từ đặc biệt để chỉ riêng truyện tranh xuất phát từ Nhật Bản. Vào năm 2007, manga chiếm lĩnh một thị trường toàn cầu nhiều tỷ đôla. Manga phát triển từ ukiyo-e theo kiểu vẽ tranh. Nó phát triển nhanh chóng sau thế chiến thứ 2. Manga được hầu hết các hạng người đọc ở Nhật. Từ Manga-ka tương ứng với Họa sĩ truyện tranh, người chuyên về viết vẽ manga. Do hầu hết các danh từ trong tiếng Nhật không ở dạng số nhiều nên manga có thể dùng để chỉ nhiều loại truyện tranh, đôi khi trong tiếng Anh cũng được viết là mangas.

Ảnh hưởng ngoại quốc

Văn học Nhật Bản ban đầu chịu ảnh hưởng sâu sắc của chữ Hán cổ. Nhưng trải qua một thời gian, văn học Nhật Bản đã phát triển theo phong cách riêng của mình. Văn học Nhật Bản dù thế vẫn chịu ảnh hưởng của văn học và văn hóa Trung Hoa cho đến cuối thời kỳ Edo.

Sau khi Nhật Bản bãi bỏ chính sách bế quan toả cảng và thiết lập ngoại giao với các nước phương Tây (cuối thế kỷ 19), văn học Nhật Bản đã chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây và cho đến nay vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ nền văn học này.

Tác gia và tác phẩm chính

Tác gia

Các tác giả và tác phẩm văn học nổi tiếng của Nhật Bản được xếp theo thứ tự thời gian như dưới đây. Để có một danh sách đầy đủ về các tác gia Nhật Bản, xin xem Danh sách các tác gia Nhật Bản:

  • Ōtomo no Yakamochi (718–785)
  • Sei Shōnagon (966–1017/1024)
  • Murasaki Shikibu (970->980-1014/1016/1031)
  • Yoshida Kenkō (1283/1284–1350)
  • Ihara Saikaku (1642–1693)
  • Matsuo Bashō (1644–1694)
  • Chikamatsu Monzaemon (1653–1725)
  • Ueda Akinari (1734–1809)
  • Santo Kyoden (1761–1816)
  • Jippensha Ikku (1765–1831)
  • Kyokutei Bakin (1767–1848)
  • Mori Ōgai (1862–1922)
  • Ozaki Koyo (1867–1903)
  • Natsume Sōseki (1867–1916)
  • Izumi Kyoka (1873–1939)
  • Noguchi Yonejiro (1875-1947)
  • Shiga Naoya (1883–1971)
  • Ishikawa Takuboku (1886–1912)
  • Tanizaki Jun’ichiro (1886–1965)
  • Akutagawa Ryūnosuke (1892–1927)
  • Eiji Yoshikawa (1892–1962)
  • Edogawa Ranpo (1894-1965)
  • Kaneko Mitsuharu (1895–1975)
  • Miyazawa Kenji (1896–1933)
  • Kuroshima Denji (1898–1943)
  • Tsuboi Shigeji (1898–1975)
  • Ishikawa Jun (1899–1987)
  • Kawabata Yasunari (1899–1972)
  • Miyamoto Yuriko (1899–1951)
  • Tsuboi Sakae (1900–1967)
  • Oguma Hideo (1901–1940)
  • Yokomizo Seishi (1902-1981)
  • Kobayashi Takiji (1903–1933)
  • Ishikawa Tatsuzo (1905-1985)
  • Dazai Osamu (1909–1948)
  • Endo Shusaku (1923–1996)
  • Abe Kōbō (1924–1993)
  • Mishima Yukio (1925–1970)
  • Inoue Hisashi (1933–)
  • Ōe Kenzaburo (1935–)
  • Michiko Yamamoto (1936–)
  • Nakagami Kenji (1946–1992)
  • Murakami Haruki (1949–)
  • Murakami Ryu (1952–)
  • Yoshimoto Banana (1964–)

Trong danh sách này, Mori Ogai, Natsume Soseki, Tanizaki Junichiro, Akutagawa Ryunosuke, Dazai Osamu, Kawabata Yasunari, Mishima Yukio, Abe Kōbō, Oe Kenzaburo và Murakami Haruki hợp thành “10 tác gia trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại”.

Tác phẩm chính

  • Kojiki
  • Nihon Shoki
  • Vạn diệp tập
  • Makura no Sōshi (Sei Shonagon)
  • Tsurezure Gusa (Yoshida Kenkō)
  • Truyện kể Genji (Murasaki Shikibu)
  • Kokin Wakashū
  • Shin Kokin Wakashū
  • Heike Monogatari
  • Nihon Ryōiki (Keikai, còn được gọi là Kyokai)
  • Oku no Hosomichi (Matsuo Bashō)
  • Kōshoku Ichidai Otoko (Ihara Saikaku)
  • Hẹn mùa hoa cúc (Ueda Akinari)
  • Nỗi lòng (Natsume Sōseki)
  • Musashi – Giang hồ kiếm khách (Yoshikawa Eiji)
  • Thất lạc cõi người (Dazai Osamu)
  • Truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke
  • Nhạn (Mori Ogai)
  • Tuyết mỏng (Tanizaki Junichiro)
  • Xứ tuyết (của Kawabata Yasunari)
  • Khuôn mặt người khác (Abe Kobo)
  • Đảo quỷ (Edogawa Ranpo)
  • Rìu, đàn, cúc (Yokomizo Seishi)
  • Một nỗi đau riêng (Oe Kenzaburo)
  • Kim Các Tự (Mishima Yukio)
  • Rừng Na Uy (Murakami Haruki)
  • Màu xanh trong suốt (Murakami Ryu)
  • Kitchen (Yoshimoto Banana)

Chú thích

  1. ^ Mục từ “Japanese Literature” trong từ điển bách khoa Encarta Premium DVD 2006, bản trên đĩa DVD, Copyright Microsoft Co 2005 (tiếng Anh).
  2. ^ N. I. Konrat, Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại, Trịnh Bá Đĩnh dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, ĐN.1999. Trang 5 bài Khái lược văn học Nhật Bản.
  3. ^ Đề dẫn trong cuốn – 日本文学全史 Nhật Bản văn học toàn sử, 6 tập, nhiều tác giả (tiếng Nhật), trang 15 đến 24. Tokyo Kodanshā, 1978.
  4. ^ Về các khuynh hướng Phản tự nhiên chủ nghĩa, xin xem bài Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản nửa đầu thế kỷ 20, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học, 8-2005.
  5. ^ Mục từ Nihon bungaku trong cuốn Nhật Bản đất nước và con người, Gakkuseishā, tiếng Nhật
  6. ^ Suichi Kato, Những đặc điểm của văn học Nhật Bản, Nguyễn Thị Khánh dịch. Sách chuyên đề Văn học Nhật Bản, Viện Thông tin Khoa học Xã hội xuất bản, H. 1998. Trang 15
  7. ^ Đọc thêm: Khương Việt Hà, Thời kỳ đầu của chủ nghĩa Mác và khuynh hướng văn học vô sản Nhật Bản, kỷ yếu hội thảo Báo cáo khoa học 2006, Thư viện Viện Văn học

Xem thêm

  • Thuật ngữ văn học Nhật Bản

Tham khảo

  • Aston W.G, A history of Japanese Literature, tiếng Anh.
  • Nhật Bản văn học toàn sử, 6 tập, nhiều tác giả (tiếng Nhật), Kodansha, Tokyo xuất bản vào năm thứ 53 thời Showa.
  • Shuichi Kato, History of Japanese Literature, Vol. 1, 2, 3, Kodansha International, Tokyo, 1979.
  • N. I. Konrat, Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại, Trịnh Bá Đĩnh dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, ĐN.1999.
  • Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Văn học Nhật Bản, sách chuyên đề nhiều tác giả viết và dịch, Hà Nội 1998.
  • Nhật Chiêu, Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003.
  • Nhật Chiêu, Thơ ca Nhật Bản, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998.
  • Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi, phần Tiểu thuyết Nhật Bản, trang 141 và phần Basho trang 165, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1999
  • Ngô Tự Lập, Nhật Bản đất nước con người và văn học, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội 2003.

Liên kết ngoài

  • Nghiên cứu Nhật Bản Giới thiệu Tổng quan Lịch sử Văn học Nhật Bản từ Thượng Cổ đến Cận Đại; Từ Cận Kim đến Hiện Kim


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Văn_học_Nhật_Bản&oldid=64093518”

Từ khóa: Văn học Nhật Bản

văn học nhật bản
5 đặc trưng của văn học nhật bản
văn học nhật bản thời kỳ edo
văn học nhật bản hiện đại
lịch sử văn học nhật bản
văn học hiện đại nhật bản
văn học nhật bản thời heian
tổng quan lịch sử văn học nhật bản
truyền thuyết về thượng quỷ tân nương tại tokyo
văn học nhật
văn học thời heian
giáo trình văn học nhật bản
tác phẩm văn học nhật bản

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO uy tín giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.

Scores: 4.5 (173 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn