Vũ Lập là gì? Chi tiết về Vũ Lập mới nhất 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Nông Văn Phách
(Vũ Lập)
Chức vụ
Tư lệnh Quân khu 2
Nhiệm kỳ 1978 – 1987
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Đặng Quân Thụy
Vị trí 23px Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Chính ủy Quân khu 2
Nhiệm kỳ 1978 – 1980
Tiền nhiệm đầu tiên
Kế nhiệm Phạm Hồng Cư
Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ
Nhiệm kỳ 28 tháng 2 năm 1977 – 26 tháng 6 năm 1978
Tiền nhiệm Lê Quảng Ba
Kế nhiệm Hoàng Văn Kiểu
Trưởng ban Dân tộc Trung ương
Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ
Nhiệm kỳ 1976 – 1979
Tiền nhiệm Hoàng Văn Kiểu
Kế nhiệm Lê Quảng Ba
Tư lệnh Quân khu Tây Bắc
Nhiệm kỳ tháng 6 năm 1974 – 1976
Thông tin chung
Sinh 1924
Hòa An, Cao Bằng, Bắc Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất 1987
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Cấp bậc Vietnam People's Army Colonel General.jpg Thượng tướng
Chỉ huy Flag of North Vietnam (1945–1955).svg Việt Minh
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ

Vũ Lập (1924-1987) là một Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (Việt Nam).

Tiểu sử tóm tắt[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Nông Văn Phách; dân tộc Tày; quê xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

  • Ông tham gia cách mạng năm 1941.
  • Tháng 12 năm 1944, ông là chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
  • Năm 1945, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
  • Tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Quân sự tỉnh Thái Nguyên.
  • Từ năm 1946 đến năm 1954, ông làm Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Đại đoàn 316.
  • Từ năm 1955 đến năm 1964, ông làm Khu phó Khu Tây Bắc, Phó Tư lệnh] kiêm Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.
  • Tháng 4 năm 1970, ông làm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào.
  • Từ năm 1970 đến năm 1974, ông làm Tư lệnh các mặt trận: 316 và 31 (Thượng Lào).
  • Từ tháng 6 năm 1974 đến năm 1976, ông làm Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.
  • Năm 1976, ông làm Trưởng ban Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ.
  • Từ năm 1979 đến năm 1981, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 2.
  • Từ năm 1978 đến năm 1987, ông là Tư lệnh Quân khu 2.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa IV đến khóa VI, đại biểu Quốc hội Việt Nam từ khóa VI đến khóa VIII.

Ông thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974; Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1984.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Do những công lao đóng góp và thành tích cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, ông đã được nhà nước Việt Nam tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (1 hạng nhất, 1 hạng nhì, 1 hạng ba), và nhiều huân chương, huy chương, kỷ niệm chương, huy hiệu khác.

Tên và tiểu sử của Thượng tướng Vũ Lập đã được đưa vào Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (xuất bản năm 1996, tái bản năm 2004).

Năm 2013, Thành phố Đà Nẵng đã đặt tên Vũ Lập cho một tuyến đường dài 400m tại quận Liên Chiểu [1].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    “Nghị quyết HĐND thành phố Đà Nẵng”.


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vũ_Lập&oldid=64562515”

Từ khóa: Vũ Lập, Vũ Lập, Vũ Lập

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO TOP giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.

Nguồn: Wikipedia

Scores: 4.5 (117 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn