Vương quốc Bảo thạch là gì? Chi tiết về Vương quốc Bảo thạch mới nhất 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới điều hướng
Bước tới tìm kiếm

Vương quốc Bảo thạch
Vương quốc bảo thạch Bìa.png

Bìa tập 1 phiên bản tiếng Việt, với (từ trên xuống) Bort, Phosphophyllite, Diamond, và Morganite
宝石の国
(Hōseki no Kuni)
Thể loại Hành động, Kỳ ảo[1]
Manga
Tác giả Ichikawa Haruko
Nhà xuất bản Kodansha
Nhà xuất bản tiếng Việt Nhà xuất bản Trẻ
Đối tượng Seinen
Tạp chí Monthly Afternoon
Đăng tải 25 tháng 10, 2012 (2012-10-25) – nay
Số tập 11 (danh sách tập)
Anime
  • Vương quốc của Bảo thạch (2017̠
Wikipe-tan face.svg Chủ đề Anime và manga

Vương quốc Bảo thạch (Nhật: 宝石の国 Hepburn: Hōseki no Kuni?) là một bộ manga Nhật Bản được viết và vẽ minh họa bởi Ichikawa Haruko và bắt đầu được xuất bản từ năm 2012 đến nay. Truyện được xuất bản bởi Kodansha trong tạp chí Monthly Afternoon và tám tập truyện chứa các chương đã được phát hành tính đến thời điểm hiện tại.[2] Lấy bối cảnh trong một thế giới là nơi sinh sống của những “người đá quý”, bộ manga kể lại những nỗ lực của họ trong việc tìm ra nơi họ thật sự thuộc về và bảo vệ lối sống của chính mình. Một video quảng bá cho bộ anime chuyển thể được phát hành vào tháng 7 năm 2013 bởi Studio Hibari,[3] và bộ anime truyền hình chuyển thể kết hợp giữa 2D/3D bởi Orange với nội dung của 31 chương đầu của bộ manga được phát sóng từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2017.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một thế giới của những đá quý mang hình dáng của con người, Phosphophyllite (biệt danh Phos) là một Bảo thạch yếu (một trong những đá quý có độ cứng thấp nhất) và bị các chiến hữu khác coi là vô dụng. Phos nhờ người chiến hữu lạnh nhạt nhưng thông thái Cinnabar giúp mình hoàn thành nhiệm vụ viết một cuốn bách khoa toàn thư lịch sử tự nhiên, từ đó giữa họ nảy sinh tình bạn. Trong khi đó, các Bảo thạch khác phải chiến đấu với những Nguyệt nhân (người Mặt trăng) muốn đánh cắp và sử dụng cơ thể quý giá của các Bảo thạch.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo thạch[sửa | sửa mã nguồn]

Phosphophyllite (フォスフォフィライト Fosufofiraito?)
Lồng tiếng bởi: Kurosawa Tomoyo[4] (tiếng Nhật); Sarah Wiedenheft (tiếng Anh)
Còn được gọi tắt là “Phos”. Một trong những Bảo thạch yếu nhất, với độ cứng 3.5. Được đánh giá là quá yếu để chiến đấu, Phos được giao nhiệm vụ viết một cuốn bách khoa toàn thư chứa những thông tin mới. Sau khi cậu trải qua những trận chiến khốc liệt, các chi, cùng với những ký ức gắn liền với thân thể, dần dần bị mất đi và được thay thế bằng những vật liệu khác.

Sau này, Phosphophyllite trở thành kẻ thù của những bảo thạch dưới mặt đất (trừ Diamond, Bentoinite, Goshenite, Alexandrite, Yellow Diamond, Amethyst 33 và Padparadscha)

Cinnabar (シンシャ Shinsha?, Chu sa)
Lồng tiếng bởi: Komatsu Mikako[4] (tiếng Nhật); Avery Smithhart (tiếng Anh)
Bảo thạch lạnh lùng với độ cứng bằng 2, thấp hơn cả Phos, nhưng lại chứa chất độc mạnh bên trong cơ thể. Vì chất độc này phá hủy môi trường và xóa đi ký ức chứa trong các bộ phận tiếp xúc với chất độc nên Cinnabar được giao nhiệm vụ gác đêm, nhưng trong cậu luôn có mong ước được thoát khỏi màn đêm.
Diamond (ダイヤモンド Daiyamondo?, Kim cương)
Lồng tiếng bởi: Kayano Ai[4] (tiếng Nhật); Savanna Menzel (tiếng Anh)
Bảo thạch tốt bụng với độ cứng tối đa bằng 10, nhưng thỉnh thoảng vẫn bị tổn thương bởi những đòn tấn công của kẻ thù.
Bort (ボルツ Borutsu?, Kim cương kém phẩm chất)
Lồng tiếng bởi: Sakura Ayane[4] (tiếng Nhật); Genevieve Simmons (tiếng Anh)
Bảo thạch cục cằn và đáng sợ thuộc loại kim cương. Là bảo thạch cứng nhất, mạnh mẽ nhất trong tất cả. Thường đối xử rất nghiêm khắc với Diamond.
Morganite (モルガナイト Moruganaito?, Beryl hồng)
Lồng tiếng bởi: Tamura Mutsumi[4] (tiếng Nhật); Olivia Swasey (tiếng Anh)
Bảo thạch kiêu căng rất tự tin vào kỹ năng chiến đấu của bản thân.
Goshenite (ゴーシェナイト Gōshenaito?, Beryl không màu)
Lồng tiếng bởi: Hayami Saori[4] (tiếng Nhật); Juliet Simmons (tiếng Anh)
Bảo thạch hiền dịu. Chiến hữu của Morganite.
Rutile (ルチル Ruchiru?)
Lồng tiếng bởi: Uchiyama Yumi[4] (tiếng Nhật); Shelley Calene-Black (tiếng Anh)
Bảo thạch y tế chuyên sửa chữa những Bảo thạch khác khi họ bị vỡ, tuy nhiên lại có sở thích mổ xẻ những gì khiến cậu chú ý.
Jade (ジェード Jēdo?, Ngọc thạch)
Lồng tiếng bởi: Takagaki Ayahi[4] (tiếng Nhật); Heidi Hinkle (tiếng Anh)
Bảo thạch làm công việc thư ký cho Sư phụ Kongo. Chiến hữu của Euclase.
Red Beryl (レッドベリル Reddo Beriru?, Beryl đỏ)
Lồng tiếng bởi: Uchida Maaya[4] (tiếng Nhật); Cat Thomas (tiếng Anh)
Bảo thạch phụ trách công việc thiết kế và may vá trang phục cho các Bảo thạch khác, thường xuyên thay đổi kiểu tóc của nó.
Amethyst (アメシスト Ameshisuto?, Thạch anh tím)
Lồng tiếng bởi: Itō Kanae[4] (tiếng Nhật); Teresa Zimmerman (tiếng Anh)
Song tinh.”84″ và “33”.
Hai Bảo thạch sinh đôi luôn luôn dính lấy nhau và hành động rất đồng nhất khi nói chuyện và chiến đấu. Họ cũng rất giỏi kiếm thuật.
Benitoite (ベニトアイト Benitoaito?)
Lồng tiếng bởi: Ozawa Ari[4] (tiếng Nhật); Elissa Cuellar (tiếng Anh)
Bảo thạch không thể nói “không” đối với những lời nhờ vả của những Bảo thạch khác.
Neptunite (ネプチュナイト Nepuchunaito?)
Lồng tiếng bởi: Tanezaki Atsumi[4] (tiếng Nhật); Carli Mosier (tiếng Anh)
Bảo thạch non trẻ, miệng lưỡi chua ngoa. Chiến hữu của Benitoite.
Zircon (ジルコン Jirukon?)
Lồng tiếng bởi: Akaneya Himika[4] (tiếng Nhật); Brittney Karbowski (tiếng Anh)
Bảo thạch trẻ thứ hai, chỉ sau Phos, và là chiến hữu của Yellow Diamond.
Obsidian (オブシディアン Obushidian?, Hắc diện thạch)
Lồng tiếng bởi: Hirohashi Ryō[4] (tiếng Nhật); Shanae’a Moore (tiếng Anh)
Bảo thạch phụ trách chế tạo các công cụ, vũ khí và các vật dụng thường nhật khác.
Yellow Diamond (イエローダイヤモンド Ierō Daiyamondo?, Kim cương vàng)
Lồng tiếng bởi: Minagawa Junko[4] (tiếng Nhật); Allison Sumrall (tiếng Anh)
Bảo thạch lớn tuổi nhất, cũng là bảo thạch nhanh nhất. Chiến hữu của Zircon.
Euclase (ユークレース Yūkurēsu?)
Lồng tiếng bởi: Noto Mamiko[4] (tiếng Nhật); Serena Varghese (tiếng Anh)
Một trong những bảo thạch lớn tuổi nhất, cậu rất thông thái và tốt bụng. Là chiến hữu của Jade.
Alexandrite (アレキサンドライト Arekisandoraito?)
Lồng tiếng bởi: Kugimiya Rie[4] (tiếng Nhật); Shelby Blocker (tiếng Anh)
Bảo thạch bị ám ảnh với việc hiểu rõ Nguyệt nhân, tuy nhiên mỗi khi nhìn thấy Nguyệt nhân cậu thường phát điên. Chính vì vậy Sư phụ Kongo phải cấm cậu chiến đấu.
Peridot (ペリドット Peridotto?)
Lồng tiếng bởi: Kuwashima Houko (tiếng Nhật); Jessica Portillo (tiếng Anh)
Bảo thạch làm giấy, ám ảnh với công việc của mình.
Antarcticite (アンタークチサイト Antākuchisaito?, Đá Nam Cực)
Lồng tiếng bởi: Ise Mariya (tiếng Nhật); Alyssa Marek (tiếng Anh)
Bảo thạch chỉ xuất hiện vào mùa đông, trong khi các Bảo thạch khác ngủ đông. Cậu trở nên cứng hơn nhờ thời tiết lạnh giá.
Sphene (スフェン Sufen?)
Lồng tiếng bởi: Nabatame Hitomi (tiếng Nhật); Natalie Jones (tiếng Anh)
Một nghệ nhân ngọt ngào và tốt bụng. Chiến hữu của Peridot.
Watermelon Tourmaline (ウォーターメロントルマリン Wōtāmeron Torumarin?, Đá điện khí)
Lồng tiếng bởi: Harada Sayaka (tiếng Nhật); Jessica Portillo (tiếng Anh)
Bảo thạch trẻ tuổi năng động.
Hemimorphite (ヘミモルファイト Hemimorufaito?)
Lồng tiếng bởi: Ueda Reina (tiếng Nhật); Aimee Heimbuecher (tiếng Anh)
Còn được gọi là Hemimor, một chiến binh và cũng là cộng sự của Watermelon Tourmaline.
Heliodor (ヘリオドール Heriodōru?, Beryl vàng)
Lồng tiếng bởi: M·A·O (tiếng Nhật)
Bảo thạch có màu vàng, đã bị Nguyệt nhân bắt đi trước khi câu chuyện bắt đầu.
Padparadscha (パパラチア Paparachia?)
Lồng tiếng bởi: Park Romi (tiếng Nhật); Christina Kelly (tiếng Anh)
Chiến hữu của Rutile. Một Bảo thạch lâu năm sinh ra không hoàn thiện, chính vì vậy phần lớn thời gian cậu dành cho việc ngủ.
Sư phụ Kongo (金剛先生 (Kim Cang Tiên Sinh) Kongō-sensei?)
Lồng tiếng bởi: Nakata Jouji[4] (tiếng Nhật); Brian Mathis (tiếng Anh)
Bảo thạch mang hình dáng một nhà sư với sức mạnh phi thường trông coi các Bảo thạch cũng như làm thầy giáo cho họ. Ông cứng hơn các Bảo thạch khác rất nhiều và khi ngồi thiền hoặc ngủ, ông hiếm khi thức dậy. Chiếc áo cà-sa bên ngoài của ông làm từ tinh thể kim cương sáu cạnh (lonsdaleite).

Admirabilis[sửa | sửa mã nguồn]

Ventricosus (ウェントリコスス Wentorikosusu?)
Lồng tiếng bởi: Saito Chiwa (tiếng Nhật); Luci Christian (tiếng Anh)
Vua của loài admirabilis.
Aculeatus (アクレアツス Akureatsusu?)
Lồng tiếng bởi: Sanpei Yuko (tiếng Nhật); Maggie Flecknoe (tiếng Anh)
Em trai của Ventricosus.

Nguyệt nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng tử Aechmea (エクメア Ekumea?)
Thủ lĩnh của các Nguyệt nhân và là nhân vật phản diện chính. Dù thuộc hạ gọi hắn là “hoàng tử”, hắn không xuất thân từ gia đình hoàng tộc, nó giống như là tiền tố kính ngữ hơn. Aechmea được tiết lộ là có mối liên kết với Kongo, vì hắn phải dựa vào việc Kongo cầu nguyện cho hắn và thuộc hạ để được siêu thoát. Hắn còn đi xa đến mức bắt các Bảo thạch và nghiền họ ra thành bột, cái được coi là gần nhất với cái chết với các Bảo thạch bất tử. Ngoài ra, Aechmea đã “kết hôn” với Cairngorm (Smokey Quartz), nhưng hầu như không có bằng chứng cho rằng đây là cuộc hôn nhân thật lòng
Semi (セミ Semi?)
Một Nguyệt nhân ân cần và hiền dịu hỗ trợ cho Phos khi cậu đang ở trên mặt trăng.

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ manga Vương quốc của Bảo thạch bắt đầu được xuất bản thường xuyên trên tạp chí Monthly Afternoon của Kodansha bắt đầu từ ngày 25 tháng 10 năm 2012. Tập tankōbon đầu tiên được xuất bản vào ngày 23 tháng 7 năm 2013,[5] và tập mới nhất, tập 9, được xuất bản vào ngày 22 tháng 11 năm 2017.[6] Tập 4 có hai phiên bản được xuất bản, bản thường và bản đặc biệt, trong bản đặc biệt có chứa trò chơi lá bài.[7][8] Tập 6 và tập 7 cũng có hai phiên bản được phát hành, tập 6 có thêm một bản giới hạn,[9] và tập 7 có thêm một bản đặc biệt.[10]

Danh sách các tập[sửa | sửa mã nguồn]

# Tiếng Nhật Tiếng Việt
Ngày phát hành ISBN Ngày phát hành ISBN
1 23 tháng 7 năm 2013[5] ISBN 978-4-06-387906-3 1 tháng 3 năm 2021[11] ISBN 978-604-1-17884-7
2 23 tháng 1 năm 2014[12] ISBN 978-4-06-387950-6 22 tháng 3 năm 2021[11] ISBN 978-604-1-17885-4
3 22 tháng 8 năm 2014[13] ISBN 978-4-06-387992-6 29 tháng 3 năm 2021[11] ISBN 978-604-1-17886-1
4 22 tháng 5 năm 2015[7][8] ISBN 978-4-06-388044-1 12 tháng 4 năm 2021[11] ISBN 978-604-1-17887-8
5 20 tháng 11 năm 2015[14] ISBN 978-4-06-388101-1 26 tháng 4 năm 2021[11] ISBN 978-604-1-17888-5
6 23 tháng 9 năm 2016[15][9] ISBN 978-4-06-388185-1 CTB ISBN CTB
7 23 tháng 5 năm 2017[16][10] ISBN 978-4-06-388259-9 CTB ISBN CTB
8 22 tháng 11 năm 2017[6] ISBN 978-4-06-510363-0 CTB ISBN CTB
9 23 tháng 10 năm 2018[17] ISBN 978-4-06-513101-5 CTB ISBN CTB
10 23 tháng 8 năm 2019[18][19] ISBN 978-4-06-516738-0 CTB ISBN CTB
11 20 tháng 7 năm 2020[20] ISBN 978-4-06-520224-1 CTB ISBN CTB

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim truyền hình chuyển thể cùng tên được phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 23 tháng 12 năm 2017.[21][4][22] Kyōgoku Takahiko làm đạo diễn cho bộ phim tại xưởng phim hoạt họa CG Orange. Ono Toshiya giữ trọng trách viết kịch bản cho phim. Nishikawa Yohichi sáng tạo concept art.[23] Nishida Asako làm công việc thiết kế nhân vật. Bài hát mở đầu phim “Kyōmen no Nami” (鏡面の波 Sóng trên mặt gương?) được thể hiện bởi Yurika[24] và bài hát kết thúc phim “Kirameku Hamabe” (煌めく浜辺 Bờ biển sáng rực?) bởi Ōhara Yuiko.[25] Sentai Filmworks đã cấp phép và phát bộ anime trên Anime Strike.[26] MVM Films đã cấp phép cho bộ anime ở UK.[27] Bộ phim có 12 tập, được phát hành thông qua sáu bộ DVD và Blu-ray ở Nhật Bản.[28]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^

    Green, Scott (22 tháng 7 năm 2017). “Another Set Of “Land Of The Lustrous” Anime Character Designs Previewed”. Crunchyroll. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020. This fall, a TV anime will adapt Haruko Ichikawa’s Houseki no Kuni (Land of The Lustrous), a fantasy action manga serialized in Kodansha’s Afternoon since December 2012.

  2. ^ “Hôseki no Kuni vo”. manga-news.com (bằng tiếng French). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2017.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  3. ^ “Anime Promo Video for Haruko Ichikawa’s Hōseki no Kuni Manga Streamed”. Anime News Network. ngày 19 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ “Land of the Lustrous Anime’s Promo Video Reveals Cast, October 7 Debut”. Anime News Network. ngày 23 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.
  5. ^ a ă “Hōseki no Kuni (1)” 宝石の国(1) [Land of the Lustrous (1)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  6. ^ a ă “Hōseki no Kuni (8)” 宝石の国(8) [Land of the Lustrous (8)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2017.
  7. ^ a ă “Hōseki no Kuni (4)” 宝石の国(4) [Land of the Lustrous (4)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  8. ^ a ă “Kādogēmu Tsuki Hōseki no Kuni (4) Tokusōban” カードゲーム付き 宝石の国(4)特装版 [Card Game Included Land of the Lustrous (4) Special Edition]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  9. ^ a ă “Hōseki no Kuni (6) Genteiban” 宝石の国(6)限定版 [Land of the Lustrous (6) Limited Edition]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  10. ^ a ă “Hōseki no Kuni (7) Tokusōban” 宝石の国(7)特装版 [Land of the Lustrous (7) Special Edition]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  11. ^ a ă â b c “Lịch phát hành sách tháng 3”. Facebook. Nhà xuất bản Trẻ. Lưu trữ bản gốc 5 tháng 3 năm 2021. Truy cập 5 tháng 3 năm 2021.
  12. ^ “Hōseki no Kuni (2)” 宝石の国(2) [Land of the Lustrous (2)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  13. ^ “Hōseki no Kuni (3)” 宝石の国(3) [Land of the Lustrous (3)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  14. ^ “Hōseki no Kuni (5)” 宝石の国(5) [Land of the Lustrous (5)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  15. ^ “Hōseki no Kuni (6)” 宝石の国(6) [Land of the Lustrous (6)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  16. ^ “Hōseki no Kuni (7)” 宝石の国(7) [Land of the Lustrous (7)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2017.
  17. ^ “Hōseki no Kuni (9)” 宝石の国(9) [Land of the Lustrous (9)]. Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019.
  18. ^ “Hōseki no Kuni (10)” 宝石の国(10) [Land of the Lustrous (10)] (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
  19. ^ “Hōseki no Kuni (10) Tokusōban” 宝石の国(10)特装版 [Land of the Lustrous (10) Special Edition] (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2020.
  20. ^ “Land of the Lustrous 11” (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2020.
  21. ^ “Love Live! Staff Makes Land of the Lustrous/Hōseki no Kuni CG TV Anime”. Anime News Network. 19 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2017.
  22. ^ “Land of the Lustrous (Hōseki no Kuni) Manga Gets TV Anime”. AnimeNewsNetwork. 9 tháng 5 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2017.
  23. ^ “Land of the Lustrous Exhibit at Yurakucho Marui – Manga Planet”. Manga Planet (bằng tiếng Anh). 13 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2018.
  24. ^ “Land of the Lustrous Anime’s Music Video Previews YURiKA’s Theme Song”. Anime News Network. 24 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2017.
  25. ^ “Yuiko Ōhara Performs Land of the Lustrous Anime’s Ending Theme”. Anime News Network. 15 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2017.
  26. ^ “Sentai Filmworks Licenses Land of the Lustrous for Anime Strike Stream”. Anime News Network. 27 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2017.
  27. ^ “Latest batch of announcements. Coming next year we’ve got Land of the Lustrous, Love & Lies, Made in Abyss and Princess Principal”. MVM Films. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017 – qua Twitter.
  28. ^ “Land of the Lustrous Anime Listed With 12 Episodes”. Anime News Network. 10 tháng 10 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2017.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trang web chính thức (tiếng Nhật)
  • Vương quốc Bảo thạch (manga) tại từ điển bách khoa của Anime News Network


Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Vương_quốc_Bảo_thạch&oldid=64971278”



Từ khóa: Vương quốc Bảo thạch, Vương quốc Bảo thạch, Vương quốc Bảo thạch

LADIGI – Công ty dịch vụ SEO LADIGI giá rẻ, SEO từ khóa, SEO tổng thể cam kết lên Top Google uy tín chuyên nghiệp, an toàn, hiệu quả.

Nguồn: Wikipedia

Scores: 4.7 (142 votes)

100 lần tự tìm hiểu cũng không bằng 1 lần được tư vấn